I. TRÍ TUỆ HỮU SƯ VÀ VÔ SƯ
Con người từ lúc mới sinh ra đến khi mất đi, mỗi ngày mỗi tích
lũy thêm kiến thức kinh nghiệm để tồn tại và phát triển. Do học hỏi từ bên
ngoài phát sinh trí tuệ, nhà Phật gọi là Hữu sư trí, tức trí tuệ nhờ có Thầy dạy.
Vì vận dụng chất xám mà hiểu biết, nên Hữu sư trí có tính cách phân tích lý
luận theo tinh thần tiền nhân hậu quả: nghe giảng dạy là nhân, suy tư để hiểu
là quả. Trong Tam huệ học, văn và tư huệ thuộc phạm trù Hữu sư, chung quy chỉ
nhờ vay mượn huân tập từ người khác, không phải thật của mình, nên giới hạn và
không ngừng biến đổi. Hành giả có công phu Thiền định, quét sạch mọi tạo tác
của tâm, trở về trạng thái bổn tịch bổn tri, một lúc nào đó xảy ra đột biến, tự
nhiên phát khởi trí tuệ. Ðây là cái biết của trực giác không qua trung gian ý
thức phân biệt, cái bổn tri khi hồi phục chức năng ban sơ của tâm, cái biết
giải trừ và vượt qua Hữu sư trí, chính là Tu huệ, tức Vô sư trí.
Vô sư trí còn được gọi bằng nhiều tên: Căn bản trí, Bát-Nhã trí,
Vô phân biệt trí, Chơn trí, Thật trí, Trực Giác Bát Nhã... Từ thường dùng nhất là
Trí tuệ Bát Nhã. Mỗi người có hoàn cảnh chánh báo và y báo khác nhau, nhưng tất
cả đều bình đẳng ở trí tuệ này. Nhà Thiền diễn tả bằng hình ảnh “từ hông ngực
lưu xuất” hoặc bằng từ “Thời trí”, nghĩa là vốn sẵn đủ, là diệu dụng của tự
tánh. Khi cần, các vị Thiền sư ngộ đạo sử dụng ngay vốn sẵn đủ ấy một cách linh
hoạt và khế cơ khế lý, nên tùy duyên mà có muôn vàn phương pháp khai thị cho
người.
Vị Bồ tát tượng trưng cho Vô sư trí là Ngài Văn Thù. Nhà Phật
nói: “Bát Nhã vô tri nhi vô bất tri” (Bát Nhã không biết nhưng không có gì là chẳng
biết). Gương không có ý soi rọi, nhưng mọi vật để trước gương đều hiện ảnh một
cách trung thực. Bát-Nhã cũng thế, không tác ý hiển lộ các pháp, vì vậy soi
thấu các pháp đến tận cùng bản thể. Bình thường khi nhìn một vật, tự nhiên
chúng ta khởi tâm phân biệt cái thấy và cái bị thấy. Sự phân biệt là hành vi
của thức, nhìn các pháp chỉ ở một khía cạnh, lại thêm phân tích tưởng tượng,
nên chỉ phản ảnh các pháp một cách phiến diện hời hợt. Khi tâm thanh tịnh rỗng
rang, dứt bặt vọng tưởng suy lường, đột nhiên trực giác phát sinh, chủ thể và
đối tượng nhận thức hòa nhập, ta chợt thấy rúng động toàn thân, chợt nhận ra
mọi vấn đề một cách toàn diện toàn triệt. Ðây là cái biết bất nhị, kết quả của
một quá trình thiền tập miên mật và lâu dài, không do tư duy hay thức tình sinh
khởi, không mang tính cách học thuật kinh viện thế gian. Bài Tín Tâm Minh của
Tam Tổ Tăng Xán có câu: “Phi tư lương xứ, thức tình nan trắc” (Chỗ chẳng thuộc
suy lường, thức tình khó đo được). Trạng thái “Phi tư lương xứ” chính là trạng
thái của Thiền, là hành vi của Vô sư trí.
Hệ Pàli phân biệt 5 cấp độ hiểu biết từ thấp đến cao:
1. Tưởng tri: Cái biết do tưởng tượng, như mây bay
thấy trăng dời, thuyền đi thấy bờ chạy.
2. Thức tri: Biết do phân biệt so sánh. Nhìn một
vật, con người khởi ngay niệm phân biệt đẹp - xấu, từ đó lôi cuốn theo một loạt
ý nghĩ khác như khen - chê, ưa - ghét... Tưởng tri và thức tri là hai cấp độ
hiểu biết của phàm phu, nhìn các pháp một cách phiến diện và chủ quan nên
thường nông cạn, sai lầm.
3. Tuệ tri: Cái biết bằng trí tuệ nhờ công phu
thiền tập.
4. Thắng tri: Cái biết thù thắng trong trạng thái
tâm lặng lẽ, không dấy niệm dính mắc hai bên. Tuệ tri và Thắng tri là trí tuệ
của các bậc Hữu học từ Sơ quả đến Tam quả. Tuy nhiên, vẫn còn những niệm vi tế
làm chướng ngại mà Ðức Phật ví như sóng nắng.
5. Liễu tri: “Liễu” là hoàn toàn, tột cùng. Liễu tri
hay Liễu liễu thường tri là trí tuệ của các bậc Vô học đã quét sạch mọi phàm tình
thánh giải, đã giác ngộ và giải thoát hoàn toàn.
II. NHỮNG VẤN ÐỀ QUAN
TRỌNG LIÊN QUAN ÐẾN VÔ SƯ TRÍ
A. Kiến thức góp nhặt từ trường lớp sách vở không giúp ta hiểu
rõ chính mình. Khoa học ngày nay đã tiến bộ vượt bực, đã khám phá nhiều bí mật
từ những chi tiết vi mô đến các tầng cấp vĩ mô, nhưng rốt cuộc cũng chỉ nghiên
cứu những cái bên ngoài. Công trình nghiên cứu nào cũng có sự phân cách rõ ràng
giữa chủ thể và đối tượng, vì vậy không sao thấu triệt thật tướng của chính
mình và của vũ trụ vạn pháp. Ngược lại, bằng công phu phản quan tự kỷ, chánh
niệm tỉnh giác trong từng biến dịch của thân tâm, hành giả tu Thiền có nhiều cơ
hội kiến chiếu tự nội thể, quán chiếu vào tận cùng những ngõ ngách sâu thẳm của
tâm thức. Vị ấy có nhiều cơ hội giải quyết mối nghi “Ta là ai? ”, lúc ấy tự
nhiên có sự hòa điệu giữa mình và người. Khi một con sóng nhận ra mình là nước,
chung cùng bản thể với những con sóng khác dù hình tướng sai thù, nó tự nhiên
có một tình thương bao la bình đẳng đối với tất cả. Nhứt tức nhứt thiết, nhứt
thiết tức nhứt. Một niệm bao gồm muôn năm, mười phương thế giới nằm trong hạt
cải. Cho nên, trong tịnh thất của Ngài Duy Ma Cật có thể dung chứa ba muôn hai
ngàn tòa sư tử mà không có sự ngăn ngại. Ðây là việc bất khả tư nghì, mà chỉ có
những bậc trụ bất tư nghì giải thoát, bằng trí tuệ vô sư, mới hoàn toàn thẩm
thấu.
B. Có hành giả công phu
một thời gian, đạt được trạng thái vắng lặng.
Ðây là Ðịnh, sự ngủ yên của ý thức, nhưng nếu mãi an trú trong
ấy thì không thể phát Huệ. Biển lặng sóng là biểu hiện Ðịnh, biển dậy sóng đục
ngầu là thức tưởng của phàm phu, biển có sóng trong vắt là Vô sư trí. Biển không
thể không có sóng, nên công phu dẹp trừ đè nén vọng tưởng có thể đưa hành giả
vào trầm không trệ tịch, không đúng với chủ trương của Thiền tông là Ðịnh-Huệ
đồng thời. Khi ý thức ngủ yên mà ánh sáng giác ngộ đột nhiên bừng sáng, hành
giả thấy được lẽ thật rồi không bao giờ quên nữa, đó mới là biểu hiện của Vô sư
trí. Không còn vô minh, hành giả thật sự cắt đứt và đảo ngược vòng luân chuyển
của mười hai nhân duyên, mặc nhiên cắt đứt sự vận hành tương tục muôn kiếp lôi
mình vào sinh tử. Nhà Phật gọi đây là trạng thái Chuyển y (Asrayaparàvritti).
Như vậy, Vô sư trí là sự sống động ngay trong từng Sát-na sinh
diệt của tâm, là phút giây vĩnh cửu ngay trong lòng các pháp đang biến chuyển không
cùng, vận dụng sự sống-động-bất-biến này nhiêu ích quần sanh. Từ chủ trương tu
hành khác biệt giữa Nhị thừa và Ðại thừa, nên tác phong của các Ngài cũng khác
nhau. Những vị tu Nhị thừa có vẻ điềm đạm tề chỉnh, xem trọng oai nghi tế hạnh;
còn các Bồ-tát Ðại thừa lại thể hiện rất nhiều hình tướng, nhân cách khác nhau,
thuận hạnh nghịch hạnh khó lường. Từ đó, đạo Phật uyển chuyển hòa quyện vào mọi
lĩnh vực của đời sống, mọi sinh hoạt của từng dân tộc mà không chống trái, cũng
không đánh mất nguồn cội và những nét đặc thù độc đáo của mình.
C. Ðọc hành trạng và thuật
khai tâm của các Thiền sư
Chúng ta thấy nhiều khi các Ngài có những lời nói hành động thật
kỳ quặc, khó hiểu. Các Ngài có thể thăng tòa thuyết pháp một cách biện chứng,
sư phạm, nhưng những lời dạy ấy thường chỉ giúp môn đệ nắm vững đường lối tu
hành, hoặc thêm kiến giải. Lại nữa, những từ Phật học trau chuốt bóng bẩy là
điều kiện tốt cho ý thức hoạt động mạnh mẽ, dễ đưa người nghe sa vào mê cung
của khái niệm. Do đó, đối với người tham vấn riêng rẽ, các Ngài thường sử dụng
thủ thuật kỳ đặc để đương cơ bặt đường suy nghĩ, dứt hết mối manh, có cơ hội
trực nhận con người thật xưa nay của mình.
Tăng hỏi Thiền sư Tuệ Tĩnh: “Thế nào là Phật? ”. Sư đáp: “Con
mèo trèo lên cây cột”. Tăng thưa: “Bạch Hòa thượng, con không hội”. Sư bảo:
“Ðến hỏi cây cột đi!”. Không có từ ngữ nào mang tính chất đạo lý ở đây cả,
nhưng thật sự diễn tả một hiện tượng sống động mà nhà Thiền gọi “thực tại đang là”.
Tăng không hội ý nghĩa Phật pháp tại thế gian, nên Sư chấm dứt câu chuyện bằng
lời bảo đến hỏi cây cột. Ðó là trước mắt lầm qua, Phật tại nhãn tiền mà tăng bỏ
lỡ cơ hội nhận thấy.
Một thiền khách
đến hỏi Ngài Triệu Châu:
- Con chó có Phật tánh không?
Ngài Triệu Châu đáp:
- Có.
- Hòa thượng có Phật tánh không?
- Không.
- Chúng sanh đều có Phật tánh, sao Hòa thượng lại không?
- Ta chẳng phải chúng sanh.
- Không phải chúng sanh, là Phật chăng?
- Cũng chẳng phải.
- Vậy Hòa thượng là gì?
- Ta không là gì cả.
- Có thể thấy biết được chăng?
- Vượt khỏi nghĩ ngợi, thoát khỏi lý luận, thế nên gọi là bất tư nghì.
Câu chuyện này tương đối dễ hiểu. Trở về bản tâm gọi là Phật,
quên mất bản tâm là chúng sanh. Phật và chúng sanh chỉ là ngôn từ, không phải
thực thể. Ngài Triệu Châu muốn giúp khách vượt thoát mọi khái niệm lý luận để trực
nhận sự hiện hữu nội tại tự thân. “Ta không là gì cả” có nghĩa không sở thủ sở
đắc, nhưng chẳng có gì là không thấy biết. Lời giải đáp ở nơi mỗi người, Thiền
sư không cho đáp án rõ ràng, thật đó là tâm lão bà tha thiết!
Trong pháp hội của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, có hai môn đồ xuất cách,
sau này xiển dương hai đường hướng khác nhau. Thượng tọa Thần Tú là bậc chân tu
thực học, làm giáo thọ hướng dẫn 500 đồ chúng. Cư sĩ Huệ Năng không biết chữ, làm
việc dưới nhà trù, thân phận thấp hèn thường bị chúng bắt nạt khinh khi. Ðường
đi của Ngài Thần Tú là thiền định, tâm ví như gương, có gương thật lấm bụi thật
nên hàng ngày phải lau chùi. Con đường của cư sĩ Huệ Năng là kiến tánh, không
chạy theo hình tướng mà y cứ bản thể, thấy thật tướng của các pháp là Vô tướng.
“Xưa nay không một vật” thì chỗ nào dính bụi mà phải dụng công lau? Kiến tánh
tức sống bằng Vô sư trí, khế hợp với yếu chỉ Thiền tông, nên cư sĩ được Tổ
truyền y bát.
D. Sống ở đời, ai cũng
theo đuổi một mục đích, một lý tưởng, một sự nghiệp.
Tùy quan niệm của mỗi người mà sự nghiệp mong muốn to hay nhỏ, thuộc
thế gian hay xuất thế. Người tu cũng có sự nghiệp chung thân. Sự nghiệp chung
thân ấy là gì?
Một số người cho rằng, xây nhiều chùa to, đúc nhiều tượng lớn,
làm nhiều công tác từ thiện... là mục đích của đời tu. Thật ra, ấy là những
Phật sự nên làm nếu có điều kiện, nhưng hoàn toàn không phải là cứu cánh. Làm Phật
sự chu toàn là tạo phước; phước đức giúp người tu dễ vượt qua khó khăn ma
chướng, nhưng trí tuệ mới là quan trọng nhất. Nếu không có trí tuệ, người tu dễ
rơi vào tà tín và cũng không thể hướng dẫn người khác theo đúng chánh pháp. Một
số ngôi Già-lam biến thành chỗ buôn Thần bán Thánh, xin xăm bói quẻ, cũng do
người tu không có chánh kiến và chánh tín. Nơi ấy, Ðức Phật biến thành thần
linh ra oai tác phúc, đạo Phật mất đi ý nghĩa của một đạo giác ngộ giải thoát.
Ðây là một thực trạng rất đáng buồn, có thể xem là một pháp nạn của Phật giáo.
Cho nên, phước đức và trí tuệ được xem như hai cánh của một con chim, muốn bay
xa, bay cao, chim phải có đầy đủ hai cánh mạnh mẽ, tràn đầy sinh lực.
Một số người khác lại quan niệm, phải có nhiều kiến thức mới
đúng nghĩa người tu trong thời đại khoa học. Vì thế, bằng mọi cách, họ phải đạt
được những bằng cấp cao về Phật học và thế học, xem đó là mục đích của đời
mình. Thật ra, kiến thức nội - ngoại điển rất cần thiết trong giai đoạn đầu của
tự lợi, và hỗ trợ rất nhiều trong việc lợi tha. Một vị Bồ tát đầy đủ ngũ minh
rất dễ nhiếp phục chúng sinh, từ đó dễ hướng dẫn họ tu đúng theo chánh pháp.
Tuy nhiên, kiến thức góp nhặt từ bên ngoài chỉ là Trí hữu sư, chưa phải sự
nghiệp chung thân. Bởi vì trí tuệ ấy do vay mượn mà được, có tính cách tương
đối, tạm bợ và hữu hạn; đôi khi chấp vào đó, tự cho mình học cao hơn người, vô
tình tô bồi cho bản ngã, gây thêm chướng ngại trên đường tu. Một điều không thể
phủ nhận là, người có trình độ tri thức dễ tiếp thu những điều kinh sách muốn
truyền đạt, kể cả những ý nghĩa thâm sâu uyên áo. Họ cũng dễ có chánh kiến
chánh tín, biết rõ đường hướng tu hành đúng đắn theo Phật và chư Tổ. Nhưng khi
đi vào thực hành, nhất là đối với chủ trương của Thiền Tông “chặt hết sắn bìm”,
thì vốn kiến thức bác lãm ấy, thói quen phân tích lý luận ấy làm họ bị vướng
mắc, nếu không biết buông bỏ tháo gỡ.
Ví như người bộ hành phải vượt qua quãng
đường rất dài và gian nan; trước tiên họ cần bản đồ và nhiều lời chỉ dẫn để
hiểu rõ đường đi cùng những tình huống có thể xảy ra, tiên liệu những trở ngại
để có biện pháp khắc phục. Nhưng khi bắt đầu xuất phát, hành trang của họ phải
càng gọn nhẹ càng tốt; và lúc đến nơi rồi, có đầy đủ gia tài châu báu rồi, họ
phải bỏ hết gánh nặng trên vai hay cứ khư khư mang mãi? Gia tài châu báu ấy là
Vô sư trí, mới là cứu cánh của đời tu, là trí tuệ nhắc đến trong câu “Duy tuệ
thị nghiệp”. Những bậc giác ngộ dù học không nhiều, dù không xây chùa đúc tượng,
nhưng đi đến đâu, làm việc gì, các Ngài cũng mang lợi ích cho mọi người. Bởi vì
toàn thân các ngài là Ðạo, nên bằng thân giáo, khẩu giáo, thậm chí cả lúc ngồi
yên, các Ngài cũng toát ra một sự an lạc thanh lương cho những người hữu duyên
kề cận.
E. Trả lời câu hỏi “Thế nào là Ðạo? ”, có Thiền sư nói: “Như
người cỡi trâu đi tìm trâu”; vị khác lại bảo: “Ngay tại đó”. Nhiều cách nói
khác nhau, nhưng chung quy đều nhằm chỉ thẳng cái chân thật. Vốn từ vô thủy,
chúng sinh đã là Phật, nhưng một niệm mê khởi lên chợt sanh sơn hà đại địa. Nếu
không có sẵn tánh giác, ai biết hỏi, ai biết nghe, ai biết tất cả mọi sự vật
hiện tượng diễn biến quanh mình? Có phải tánh giác luôn hiện diện nơi đương xứ,
nhưng do chúng ta mãi hướng ngoại tìm cầu, nên vác Phật đi tìm Phật, cỡi trâu
tìm trâu? Cứ như thế mà tạo nghiệp thiện ác, mãi quẩn quanh trong vòng sanh tử
không có ngày cùng.
Do lòng hướng ngoại tìm cầu, nên chúng ta thường mong thấy một
kết quả cụ thể, xem như mốc đánh đấu từng chặng đường mình đã đi qua. Ðây là
tâm trạng thường gặp và đáng thông cảm, vì đường tu quá gian nan vất vả, luôn
luôn phải thúc liễm thân tâm, nếu không có chút kết quả nào thì khó động viên
mình tiếp tục gắng bước. Tuy nhiên, sự mong muốn có sở đắc là chướng ngại trong
công phu, ở nhiều mặt: Thứ nhất, khi tọa thiền có đôi chút thanh tịnh lặng lẽ,
do lòng mong cầu kết quả nên thường khởi hiện những cảnh lạ, như thấy ánh sáng,
thấy chư Phật xoa đầu thọ ký, nghe tiếng Phật thuyết pháp... Người tu khởi niệm
mừng, chấp cho là thật, dính mắc vào đó, có thể lầm lạc đường tu. Thứ hai, nếu
ước muốn không được thỏa mãn, người tu dễ bất an rồi chán nản, nghi ngờ pháp
tu, nghi ngờ khả năng thầy dạy và nghi cả chính mình. Thứ ba, nếu đạt được một kết
quả nào đó, lại muốn kể cho người khác nghe. Ðây là hành vi của bản ngã, không
hợp với lý Ðạo. Trong nhà Thiền, thầy trò chỉ hiểu nhau thầm kín; ngay đến lời
khen, Thầy cũng ít khi dùng vì ngại trò tự mãn, khó tiến tu. Thứ tư, tự tánh
vốn tự thanh tịnh sẵn đủ, nếu khởi niệm tìm cầu thì kết quả có được cũng chỉ là
vật bên ngoài, không phải thật mình.
Vậy cuối cùng, chúng ta tu để làm gì, để được gì?
Lúc mới phát tâm, ta muốn dứt bỏ khổ đau tìm cầu an lạc, muốn bỏ
bờ mê để qua bến giác. Nhưng đâu là ranh giới giữa hai bờ vức khổ đau và an
lạc, giữa si mê và giác ngộ? Khi đèn bật lên, bóng tối ngàn năm tự nhiên tan biến,
chứ không phải ánh đèn đẩy bóng tối đi nơi khác. Khi ánh sáng giác ngộ bừng
lên, vô minh tự bao đời kiếp tự nhiên không còn hiện hữu. Tu chỉ có nghĩa là
Dừng. Khi ta dừng mọi vọng tưởng lăng xăng, tự nhiên ta có an lạc. Biết mà loạn
động là thức tâm phân biệt, bất động mà thường biết là Vô sư trí. Luôn luôn nó
hiện tiền nơi đương xứ, làm nền móng cho những cuộc vận hành của tâm, những đổi
thay của toàn pháp giới. Các pháp đủ duyên thì sinh-hiện, hết duyên lại
diệt-tàn; nhưng dù sinh hay diệt vẫn ở trong bản thể bất sinh bất diệt, dù luân
chuyển biến thiên nhưng vẫn luôn định vị trong thể chân thường bất biến. Các
bậc giác ngộ thẩm thấu tự thể tịch lặng và hằng tri ở ngay tại đây và bây giờ,
nên các Ngài tự tại trước sóng gió của cuộc đời và an nhiên trước sinh tử.
Hiểu rõ sinh tử không hề dính dáng đến tự thể chân thật hằng
hữu, mà chỉ là chuyện còn mất tạm thời của biểu tướng, chúng ta thấy đời tu của
mình rất có ý nghĩa. Biết đường hướng và mục đích cuối cùng, chúng ta cứ vững lòng
tiến bước. Ðường chúng ta đi có rất nhiều chông gai trở ngại, chướng duyên
thường xuất hiện từ bên ngoài và có cả trong nội tâm, nhưng đó là những thử
thách cần có để trui rèn nghị lực và ý chí của mình. Chúng ta không tự mãn với
một vài kết quả có được, cũng không mang mặc cảm mình phước mỏng nghiệp dày.
Nhà Thiền độc đáo ở chỗ không chú trọng nghiệp nặng hay nhẹ lúc phát tâm, vì
tất cả chúng sinh đều bình đẳng ở tánh giác. Khi liễu ngộ, không thấy có nghiệp
thật để trả và mình là người thật trả nghiệp, vì tánh của nghiệp vốn không.
Nhưng nếu chưa liễu ngộ thì vẫn phải thọ lãnh mọi oan trái đúng lý nhân quả ba
thời. Thiền sư Huyền Giác nói :
Liễu tức nghiệp chướng bổn
lai không
Vị liễu ưng tu hoàn túc trái.
Trúc Thiên dịch:
Tỏ rồi, nghiệp chướng hóa thành không
Chưa tỏ, nợ xưa đành trang trải.
F. Trong Truyền Ðăng Lục,
Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài có bài kệ như sau:
Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm.
Nhạn bay qua dòng sông, bóng chìm dưới nước; nhạn không có ý lưu
bóng mà sông cũng chẳng có tâm lưu ảnh. Dù cả hai đều vô tâm vô ý, nhưng thực
tế vẫn có bóng nhạn dưới dòng sông. Ðiều này có ý nghĩa gì? - Không tâm ý mà
cảnh nào hiện rõ cảnh ấy, đặc tính “phân biệt mà không phải ý” chính là sự kỳ
diệu của trí tuệ Vô sư. Có phải đôi khi ngồi hóng mát, trí óc ta không suy nghĩ
điều gì nhưng mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe rõ ràng hay không? Mặt nước lặng là
Ðịnh, bóng nhạn hiện là Huệ; không suy nghĩ lăng xăng là Ðịnh, nghe thấy rõ
ràng là Huệ. Thiền chính là Ðịnh - Huệ đồng thời.
Một số Ðạo sư ngoại đạo cùng thời với Ðức Phật cũng có lắm thần
thông, đôi vị thấy đến 20 - 40 thành kiếp hoại kiếp về trước. Ðó là nhờ sức
định sâu, nhưng vì không phát huệ nên chưa phải Bảo sở. Nếu chấp vào định và an
trú trong đó, hành giả có thể rơi vào trạng thái “Si định” mà nhà Thiền gọi là
Tử thủy. Thiền sư Triệu Châu dạy: “Chỗ có Phật chớ trụ lại, chỗ không Phật phải
khéo vượt qua”. Lời dạy của Ngài mang tính liễu nghĩa của Tối thượng thừa
Thiền. Lúc công phu, thấy tâm hoàn toàn lặng lẽ thanh tịnh (chỗ có Phật) ta
không nên chấp trụ vào đó. Nếu khởi niệm “ta không còn chấp trước” (vừa khởi
niệm là đã ở chỗ không Phật), cũng phải biết là vọng mà buông bỏ.
Khéo hiểu lời
dạy của chư Tổ, ta không vướng mắc vào sự thủ đắc thủ chứng trong công phu, vào
các tầng Thiền định Hóa thành, tiếp tục đột phá vào tận cùng sâu thẳm bổn tịch
bổn tri. Bổn tịch vốn thường tịch lặng nên không miễn cưỡng vào định, bổn tri vốn
hằng giác nên không miễn cưỡng thêm hiểu biết. Quán triệt những điều khó nói
khó hiểu trên đây, chúng ta sẽ tiến nhanh trên đường Ðạo, dù chưa hoàn toàn
sống với bản tâm, nhưng tự nhiên có sự khế hợp trong lối sống và phong cách.
Phiền não kiết sử ta vẫn còn như mọi người , nhưng khi hiểu lẽ thật rồi, ta
thấy phiền não tự tánh vốn là không; và gương tâm ta tuy bị bụi bám đầy, nhưng
tánh lặng lẽ sáng soi vẫn hằng hiện hữu. Từ đó, ta có sự an lạc nội tại, để khi
gặp cơn nguy biến hay nghịch cảnh chướng duyên, thậm chí ngay cơn hấp hối, ta
vẫn giữ chánh niệm, tỉnh giác nhận diện và chuyển hóa từng động thái của thân
tâm.
Tổ Lâm Tế nói: “Ngoài chẳng nhận phàm Thánh, trong chẳng trụ căn
bản”. Ðây là lối phá chấp triệt để của Bát-Nhã. Chúng ta thường có tâm phân
biệt tốt-xấu, thiện-ác, Thánh-phàm..., trụ trước vào đó nên khó bề giải thoát.
Tổ dạy, không những bên ngoài đừng vướng mắc hai bên, mà cảnh giới thanh tịnh
bên trong cũng không để bị lôi dẫn. Như thế mới là Ðạo nhân vô y, hoàn toàn
không nương tựa vào điều gì, kể cả vào sự chứng đạt của chính mình. Quét sạch
tạo tác đến tận căn để, tâm hoàn toàn vắng lặng nhưng rõ ràng thường biết - đây
là chỗ bất khả tư nghì chỉ tự mình thầm nhận. Và từ tâm thể bất tư nghì ấy,
khởi phát diệu dụng là Vô sư trí. Diệu dụng, tức mặt trăng thứ hai nói theo
kinh Lăng Nghiêm, được nhà Thiền diễn đạt bằng những hình ảnh lạ lùng: sáo
không lỗ, đàn không dây, tiếng vỗ của một bàn tay... Lúc chưa đủ duyên thì ẩn
tàng, khi đủ duyên sẽ phát ra “âm thanh”, lưu nhuận lưu ích cho muôn loài. Cũng
như Ðức Phật ứng hóa thân là vị Thái tử xuất gia tu hành thành đạo, suốt 49 năm
giáo hóa chúng sinh, nhờ đó chánh pháp lưu truyền mãi đến ngàn sau. Ðây là Sanh
thân, thuộc Tích môn. Còn Ðức Phật Pháp thân xuất ly sinh tử thì chưa từng xuất
hiện ở đời, chưa từng giáo hóa, chưa từng nhập diệt, không từ đâu đến cũng
chẳng về đâu. Ðây là Pháp thân, tức lý tánh tuyệt đối, thuộc Chân như môn, Bản
môn.
Hiểu như thế, ta mới thấy rõ hình tượng của tạo chủ (người sáng
thế) và tạo vật (vũ trụ vạn pháp) muốn diễn tả điều gì. Ta cũng hiểu những hình
ảnh lung linh huyền diệu dùng nhân cách hóa lý tánh tuyệt đối. Ví như biểu tượng
Quan Âm thiên thủ thiên nhãn: Quan Âm là Phản văn văn tự tánh. Trở về với Tánh
thấy là thấy cùng khắp pháp giới, tức có đại trí thấu rõ lẽ thật (thiên nhãn);
từ đó phát đại nguyện cứu độ muôn loài chúng sinh (thiên thủ). Sau khi viên mãn
công phu Nhĩ căn viên thông, thể nhập Tánh nghe vượt qua năm ấm, Bồ tát Quan Âm
thị hiện 32 ứng hóa thân đi vào cuộc đời.
Nhà Thiền có câu: “Thủy lưu qui đại hải, Nguyệt lạc bất ly
thiên”. Nước dù chảy đi đâu, cuối cùng cũng về biển cả; trăng lặn ở đâu, cũng
không ra khỏi bầu trời. Thân năm uẩn của chúng ta là hình tướng báo thân tùy nghiệp
thọ sanh, nhưng sanh tử bao lần vẫn không ngoài thể tánh chân như bất biến. Các
bậc Bồ tát sống trong thể tánh chân như ấy, nhưng do hạnh nguyện độ sanh mà vào
thế giới sai biệt, giáo hóa muôn loài.
Chúng ta tu Thiền, học theo hạnh nguyện Bồ tát, muốn có sự bình
ổn nội tâm và chan rải sự bình ổn ấy cho người. Nhưng đi tìm bình ổn ở đâu?
Nhiều người gặp cảnh bất như ý, đi tìm quên lãng trong các thú vui thế tục; người
có đạo tâm tìm nguồn an ủi nơi cảnh chùa. Nhưng hạt giống khổ đau nằm sẵn trong
tàng thức, gặp dịp lại trồi lên, nên đến nơi nào cũng vẫn thấy khổ đau phiền
não. Bởi vì, chúng ta có thể chạy trốn hoàn cảnh hiện thời, chạy trốn mọi
người, chứ không thể chạy trốn bản thân. Vì thế, điều thiết yếu là phải trực
diện với phiền não bằng chánh niệm tỉnh giác. Khi lắng sâu tâm thức để trực
nhận chính mình, vọng tưởng không còn cơ hội lẫy lừng, ta có thể thấu suốt tận
cùng bản chất của phiền não, và cuối cùng chuyển hóa chúng. Hạnh phúc đích thực
chỉ hiện hữu khi ta trọn vẹn có bình an tự nội, mà sự bình an ấy là do trí tuệ
trong công phu, nhận ra mọi khổ đau đều không có thật. Nói cách khác, nhờ Vô sư
trí quán triệt vạn pháp đều không, hành giả vượt thoát tất cả mọi khổ nạn.
Lão tử nói: “Học thì ngày càng thêm, Ðạo thì ngày càng bớt”. Học
hỏi kinh nghiệm tri thức bên ngoài là trí tuệ hữu sư, càng học càng nặng thêm kiến
giải. Ngược lại, càng có công phu tu hành thì càng bớt phân tích lý luận, bớt
phiền não kiết sử, bớt nhân ngã thị phi. Khi hành trì, nếu có vài kết quả, cũng
phải buông xả để tâm hoàn toàn rỗng rang thanh tịnh, đó mới khế hợp đạo lý.
Cuộc đời nhiều khổ hơn vui, nhưng người có định lực thì dù thân khổ mà tâm
không khổ, dù bị dập vùi vẫn hiên ngang đi tới. Với khí lực ấy, với sức mạnh
tinh thần ấy, hành giả vững bước trên đường đạo và đường đời, đồng thời tiếp
thêm sức mạnh cho những người chung quanh. Hình ảnh Ðịa Tạng Vương nơi địa
ngục, Diệm Nhiên Vương (hóa thân của Bồ tát Quan Ââm) nơi cõi Ngạ quỷ... là
những hình ảnh huyền nhiệm và tấm gương sáng chói nhất về hạnh nguyện trục loại
tùy hình làm lợi ích cho chúng sinh.
(tiếp theo)
|
|
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét