Lý Như-Huyễn
là một quan niệm về nhân sinh và vũ trụ độc đáo của nhà Phật. Trong thiền định
sâu xa, Ðức Phật thấy rõ tất cả các pháp đều là những hiện tượng không thật có,
vì chúng do nhiều duyên tụ hội lại mà thành. Bản chất của chúng là không, vì
chúng không có tự thể. Như vậy, nhìn trên hiện tượng (SẮC) là duyên hợp tạm có,
nhưng bản thể lại là KHÔNG. Nói khác đi, SẮC là biểu tướng của KHÔNG, KHÔNG là
bản chất của SẮC. Ðây là tinh thần Bát-Nhã, mà chỉ những người ở trong
Như-Huyễn tam-muội, tức trong chánh định quán triệt lý Như-Huyễn, mới thẩm thấu
được.
Các pháp không thật có nên là huyễn, nhưng tự tánh các pháp là
không, nên tuy huyễn mà vẫn thường ở trong Như tánh. Như là thể của Huyễn,
Huyễn là dụng của Như. Như là thể tánh bất động, không bao giờ thay đổi; Huyễn
là tùy duyên mà hình tướng đổi thay. Chúng ta từ Như đến đây, mang thân huyễn
mộng này, rồi khi mất đi lại trở về Như. Nhưng không phải đợi lúc hình tướng
tan hoại mới trở về Như, mà ngay khi còn thân huyễn, nó đã là Như rồi. Cũng như
nước là hiện tượng, có thể thay đổi từ thể lỏng sang thể rắn, thể hơi, nhưng
không bao giờ mất đi tánh ướt. Vì Huyễn không bao giờ rời Như, nên nhà Phật gọi
là Như-Huyễn.
Lý Như-Huyễn là một vũ khí lợi hại, quét tận gốc rễ mọi tham đắm
chấp trước của con người về thân, tâm và cảnh. Hàng ngày, chúng ta nhìn và hiểu
các pháp bằng thức tâm phân biệt và bằng sự tưởng tượng phong phú của mình, cho
các pháp là thật có. Do thấy không đúng lẽ thật (si) nên sinh tham. Nếu lòng
tham được thỏa mãn, lại càng tham đắm nhiều hơn, nặng hơn; nếu không thỏa mãn
sẽ phát sinh sân hận. Phiền não vì thế càng tăng trưởng, không có ngày dừng.
Khi lắng sâu tâm thức, hiểu rõ lý Như-Huyễn, ta sẽ thấy cuộc đời ta trải qua
bao nhiêu năm vui-buồn sướng-khổ thịnh-suy, chỉ như một giấc mộng dài! Cảnh vật
bên ngoài cũng thế, căn nhà ta ở, khung cảnh xung quanh ta..., có phải chúng
đang biến đổi trong từng giây phút? Trong phạm trù không gian, thân-tâm-cảnh là
duyên sinh giả hợp; trong phạm trù thời gian, chúng biến đổi không dừng trụ;
như thế không phải huyễn là gì?
II. NỘI DUNG. 1) Từ Lý Nhân-duyên đến Tánh Không.
Về mặt tục đế, Ðức Phật thuyết giảng lý Nhân-duyên giải thích sự
thành hình của tất cả các pháp, đồng thời bài bác 4 luận thuyết của ngoại đạo
đương thời:
1- Thuyết tự sanh: Các pháp được sanh ra từ chính bản thể của
nó.
2- Thuyết tha sanh: Các pháp sanh từ bản thể của những pháp khác.
3- Thuyết cộng sanh: Pháp này nhờ pháp kia mà sanh và ngược lại.
4- Thuyết vô nhân sanh: Các pháp ngẫu nhiên mà hiện hữu, không cần có điều kiện
hay nguyên nhân nào.
Lý Nhân-duyên cắt nghĩa sự thành lập của các pháp là do nhân và
duyên kết hợp và tác động. Trong đó, nhân là yếu tố quyết định, không thể
thiếu; duyên là những điều kiện hỗ trợ. Ví dụ: Ðể có cây lúa (một pháp), phải
có hạt lúa là nhân, cùng kết hợp với các duyên là đất, nước, ánh sáng mặt trời,
người nông phu... Từ lý Nhân-duyên, Ðức Phật triển khai thành lý Nhân-quả thế
gian và xuất thế (tức Tứ Diệu Ðế) cho các vị Thanh Văn, và Thập nhị nhân duyên
cho các bậc Duyên Giác. Tu theo con đường này, hành giả phá được ngã chấp, cuối
cùng là giải thoát khỏi luân hồi sanh tử. Chúng ta thường gọi đây là con đường
của Nhị thừa.
Ðối với Bồ-tát Ðại thừa, các Ngài do quán triệt lý Nhân-duyên
đưa đến nhận thức đúng đắn về các pháp. Từ những pháp hữu hình đến vô hình
(không thấy được bằng mắt thường như không khí), từ hiện tượng vật chất đến
tinh thần (cảm thọ, nhận thức...), chúng đều không thể tự mình hình thành mà
phải nhờ nhân và duyên sanh ra. Ðến lượt các nhân duyên ấy, vì chúng cũng là
các pháp, nên cũng phải cần các nhân duyên khác tạo nên. Từ đó, chúng chuyển
biến sinh diệt, làm nhân duyên cho pháp này rồi lại là quả của những nhân duyên
khác, không biết đâu là bắt đầu và đâu là tận cùng. Ðức Phật gọi là “trùng
trùng duyên khởi”.
Như vậy, các pháp đều không phải thật không và cũng không thật
có. Chúng không thật là không, vì con người có thể cảm nhận chúng bằng giác
quan; chúng không thật có vì chúng do các pháp khác tạo thành, nên không có tự
thể. Vì thế, tánh của chúng là Không, nhờ duyên hợp nên giả có. Ðây là tinh
thần của hệ Bát-nhã, hiển bày Tánh Không của tất cả các pháp. Dùng trí tuệ
Bát-nhã quán chiếu tường tận thật tánh các pháp, thấu triệt Pháp tánh, Bồ-tát
phá được ngã chấp và pháp chấp, cả pháp thế gian lẫn pháp xuất thế gian. Nhà
Phật gọi là con đường của Bồ-tát thừa.
2.) Tánh Không và Lý
Như-Huyễn.
Ðức Phật tuyên bố, vạn pháp đều như huyễn, để nói lên tính bất
thực của chúng. Ðó là đứng trên bình diện chơn đế, nhìn vạn pháp bằng cái nhìn
“đương thể tức không”.
Ðối với các nhà khoa học, thuyết Big Bang là một giả thuyết táo
bạo và vĩ đại nhằm giải thích sự thành lập của vũ trụ. Nhưng trong giáo lý nhà
Phật, vũ trụ không chỉ trải qua một chu kỳ thành - trụ - hoại - không, mà đã -
đang và sẽ tiếp diễn vô lượng chu kỳ như thế, không có khởi đầu cũng không có
kết thúc - tiền tiền vô thủy, hậu hậu vô chung. Thế giới hiện tượng là hữu vi
duyên khởi, sanh sanh diệt diệt tương duyên tương tác.
Không pháp nào trong vũ
trụ lại đứng yên, mà luôn luôn chuyển động đổi mới. Ngay cả phần vĩ mô nhất là
toàn bộ vũ trụ, cũng thay đổi mỗi ngày. Hình thái của vũ trụ, mà một số nhà Vật
lý học hàng đầu thế giới đã phác hoạ trong những công trình thực nghiệm và tư
duy, thật ra chỉ là một phần rất nhỏ những cảnh giới mô tả một cách tuyệt vời
trong Kinh Hoa Nghiêm. Tuy nhiên, từ những hạt Quartz (được cho là yếu tố nhỏ
nhất cấu tạo thế giới) cho đến toàn thể thực tại trùng trùng duyên khởi, không
có pháp nào hiện hữu mà không được tạo thành từ những nguyên nhân khác. Do vậy,
tất cả chỉ là huyễn mộng, dù là thế giới vi mô hay vĩ mô.
Con người chúng ta, từ trước đến giờ đã trải qua bao kiếp sống;
và từ giờ trở về sau, sanh sanh tử tử vẫn tiếp nối không dừng. Gọi là “tử”
nhưng thật sự, chỉ là sự thay đổi của thân từ dạng thái này sang dạng thái
khác, từ thân tiền ấm (con người hiện tại) chuyển qua trung ấm (lúc lìa đời);
khi đủ duyên lại gá vào thân hậu ấm, tiếp tục một chu kỳ sanh tử khác với một
hoàn cảnh chánh báo và y báo khác. Ðáo cùng, nhắm mắt lìa đời không phải là
thật sự xa lìa trần tục, mà chỉ là tạm thời ngưng cuộc sống ở nơi này để tiếp
nối cuộc sống nơi kia. Cho nên, không có thật sanh cũng không có thật diệt, tất
cả chỉ trong huyễn mộng mà thôi.
Ðiều lầm lẫn nhất của con người là chạy theo hình tướng mà quên
bản chất, chạy theo Sắc mà quên tự tánh Không, nên không có sự hiểu biết như
thật về tất cả các pháp. Sắc là do đủ duyên mà hiện hữu nên là Huyễn, còn Không
là bản thể nên Như. Huyễn từ Như mà có, biểu hiện tác dụng; muốn thâm nhập Như
thì phải từ Huyễn mà vào. Nói cách khác, Sắc là dụng của Không, Không là thể
của Sắc; khi đủ duyên thì khởi ra Sắc, khi duyên tan thì Sắc trở về Không. Do
vậy, Huyễn không bao giờ rời Như, Sắc chẳng thể nào lìa Không được. Hiểu điều
này, ta sẽ thấy rõ ràng Ta-bà là Tịnh-độ, phiền não tức Bồ-đề.
Vì hiện tượng không thể nào tách rời khỏi bản chất và ngược lại,
nên các vị Thiền sư ngộ đạo là ngộ ngay sự hữu, từ đó thấu thể cả sự vô. Các
Ngài thấy rõ vạn pháp đều vô thường theo thời gian và duyên sinh trên bình diện
không gian, nên chúng hiện hữu trong sự chuyển động và giả hợp. Nhưng trong
lòng những chuyển động và giả hợp của sự hữu, luôn luôn hiện diện đặc tính bất
biến và thống nhất của sự vô. Mặt khác, do con người luôn khởi niệm duyên theo
trần cảnh, tâm không lúc nào dừng trụ, nên các pháp biểu hiện bên ngoài đều vô
thường. Trái lại, các Ngài trở về trạng thái như của tâm, nên thấy các pháp đều
Như. Có thể nói, tâm tịnh thì thế giới tịnh, tâm Như các pháp Như, tâm bình thế
giới bình. Các Ngài vẫn ở trong cuộc đời làm lợi ích cho chúng sanh, ở trong
thường tục mà vẫn siêu tục, tự tại an nhiên trước mọi khó khăn chướng ngại,
ngay cả trước tử thần! Bài Minh của Tổ Qui Sơn có đoạn:
Huyễn thân mộng trạch
Không trung vật sắc
Tiền tế vô cùng
Hậu tế ninh khắc.
Thân huyễn trong nhà mộng, tất cả vật sắc đều ở trong hư không.
Vật sắc ấy, mé trước là vô cùng, còn mé sau có ai biết được? Thân chúng sanh là
huyễn, thân Thánh nhân cũng huyễn, sống trong nhà mộng tam giới; nhưng phàm phu
si mê chấp thân là thật nên không từ một thủ đoạn nào để bảo vệ và tô bồi cho
cái ngã, đôi khi còn nhân danh Thượng Ðế tiến hành những cuộc thánh chiến đẫm
máu. Còn các bậc Thánh nhân, tuy mang thân huyễn mà tâm vẫn ở trong Như, vì
thấu rõ lý Sắc - Không. Vũ trụ vạn pháp là vô thủy vô chung, nhưng luôn hiển
hiện một chân lý ngàn đời: Tất cả vật sắc, lúc đủ duyên thì giả hợp thành sự
hữu, khi hết duyên lại trở về sự vô. Sự hữu (Sắc) là giả tướng, biểu tướng; sự
vô (Không) là tự thể, bản chất. Cả hai không thể tách rời nhau, cũng như giữa
tâm và cảnh, giữa tạo chủ và tạo vật, đều bất khả phân ly như thế.
Trang tử Nam Hoa kinh kể chuyện Trang tử nằm mộng thấy mình hóa
bướm, khi tỉnh dậy không biết “Chu là bướm hay bướm là Chu ” . Câu chuyện này
có một ý nghĩa rất sâu sắc, nhằm diễn tả một thực tại ly ngôn ngữ. Ðây là trạng
thái vô tâm, hòa nhập nhất như giữa tâm và cảnh, giữa mình và vạn pháp. Khi tâm
hoàn toàn tĩnh lặng, vẫn thấy nghe hiểu biết mà không xen tạp một ý niệm nào,
chúng ta sẽ nhận ra vũ trụ rất nhiệm mầu vi mật, không thể đem thức tình tầm
thường mà đo được. Chúng ta cũng nhận ra rằng, cõi giới của mình là cõi phàm -
Thánh đồng cư, như cõi Cực lạc của Phật A-Di-Ðà. Không phải tìm Niết-bàn ở một
nơi nào xa lạ, mà chỉ ngay mảnh đất hiện tại bây giờ và ở đây.
Một điều quan trọng cần lưu ý, chúng ta đừng bao giờ hiểu lầm
Ðức Phật thuyết lý Như-Huyễn là phủ nhận sự hiện hữu của các pháp. Ngài không
từ chối thế giới hiện thực mà nhằm phát sinh tri kiến như thật, để chúng ta
nhận ra các pháp đang là. Thiền sư Từ Ðạo Hạnh có bài kệ soi sáng ý nghĩa này:
Tác hữu trần sa hữu
Vi không nhất thiết không
Hữu không như thủy nguyệt
Vật trước hữu không không.
Tạm dịch:
Chấp có, thảy đều có
Chấp không, tất cả không
Có - Không, trăng đáy nước
Chớ chấp Có cùng Không.
Nếu cho mọi pháp là thật thì chúng đều thật có - đây là cực đoan
thứ nhất; nếu chấp tất cả đều không, thì chúng sẽ thật không - cực đoan thứ
hai. Cả hai cực đoan, chấp thường và chấp đoạn, đều không hội được liễu nghĩa
thượng thừa. Thường và đoạn, có và không ví như bóng trăng dưới nước, nhìn thì
thấy nhưng không vớt lên được, nên không thật có cũng chẳng thật không. Nhà
Phật phủ nhận cả chấp thường lẫn chấp đoạn mà theo con đường Trung đạo, tinh
thần của Lý Như Huyễn.
3) Như Huyễn và Chân Không .
Theo giáo lý Phật Ðà,
chúng sanh do nghiệp thức dẫn lôi, luân hồi trong ba cõi:
1. Cõi Dục: Chúng sanh còn đam mê ngũ dục, thân
thô tâm thô. Tùy nghiệp thiện ác mà vào ra trong sáu đường: Ðịa ngục, Ngạ quỷ,
Súc sanh, A-tu-la, Người, Trời. Cảnh giới thuần khổ là Ðịa ngục, nửa khổ nửa
vui là Người, thuần vui là Trời gồm 6 cõi Trời Dục, dành cho người tu phước báo
hữu vi.
2. Cõi Sắc: Ðây là cảnh giới của người tu Thiền
định, gồm bốn bậc: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Thân tướng tuy vẫn
là sắc chất nhưng là vật chất vi tế, rất cao lớn đẹp đẽ, không còn giới tính
nam nữ. Thân vi tế, tâm thiền định.
3. Cõi Vô Sắc: Gồm Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ,
Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ở cõi này, chúng sanh tự tại vô ngại,
dùng “thân định quả” tức lấy sức Thiền định làm thân; không còn thân sắc chất
nhưng còn tâm phân biệt vi tế.
Các cõi trên có chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức khác
nhau, nhưng tất cả không ngoài lý Như-Huyễn. Bởi vì, những gì có hình tướng, dù
thân thô hay tế, dù tâm Thiền định mà còn một niệm nhỏ nhiệm, cũng thuộc về sinh
diệt, cũng đều là Huyễn.
Mặt khác, những loài chúng sanh khác nhau có nhận thức về thế
giới khác nhau. Như trên cùng một dòng sông, loài người nhìn thấy toàn nước,
con cá thấy đó là thế giới cho nó sống và bơi lội, ngạ quỷ thấy toàn là máu,
chư Thiên lại cho là một dải lưu ly. Cho nên, thế giới mà con người tưởng-tri
thức-tri được, không phải là thế giới tồn tại khách quan ngoài tâm thức, mà
chính do tâm thức biến hiện ra. Duy thức sở biến duy tâm sở hiện, vì thế tất
thảy đều là mộng ảo. Như khi nằm mộng, ta thấy rõ ràng có người có cảnh, tâm ta
cũng biến thiên theo cảnh theo người; đến lúc tỉnh giấc, những gì xảy ra trong
chiêm bao có phải là thật đâu? Ðó là tiểu mộng, còn bao nhiêu năm cuộc đời ta,
là một trường đại mộng, cũng qua đi như một giấc chiêm bao. Thuần Vu Phần nằm
ngủ dưới gốc cây hòe, mơ thấy mình thi đỗ làm quan, được vua gả công chúa; sau
đó nhận lệnh vua đánh giặc, thất trận, công chúa chết, vua bắt tội xử đi đày.
Giật mình tỉnh giấc mới biết chỉ là giấc mộng, trên cành cây ở hướng Nam chỉ có
một ổ kiến. Thật là:
Giấc Nam-kha khéo bất bình Bừng con mắt dậy thấy mình
tay không.
Biết cuộc đời là mộng huyễn, không phải để chúng ta cam phận,
chấp nhận khổ đau; càng không phải để chúng ta chán nản buông trôi, mặc dòng
đời xô đẩy. Chúng ta ý thức mình đang hiện hữu nơi cảnh giới này cùng mọi
người, là do nghiệp thức cộng trụ kết hợp với biệt nghiệp của từng người. Biệt
nghiệp thì không ai giống ai, nên số phận mỗi người mỗi khác; nhưng cộng nghiệp
người không khác nên sống chung một môi trường, chịu chung một hoàn cảnh thiên
tai dịch họa... Và rồi, dù chánh báo hay y báo, dù biệt nghiệp hay cộng nghiệp,
tất cả đều là huyễn, vậy thôi!
Dù sao đi nữa,
ở cõi người có khổ có vui mới dễ làm ta thức tỉnh, tinh tấn tu hành dễ được
thoát khổ. Nếu thuần khổ như Ðịa ngục, đói khát như Ngạ quỷ hoặc si mê như Súc
sanh, làm sao có cơ hội tỉnh giác? Ngược lại, cõi trời quá vui quá sướng, chúng
sanh đắm chìm trong đó còn ước ao gì hơn nữa; đến khi hết phước hiện tướng đọa đày,
thức tỉnh thì đã muộn. Chư Phật Bồ-tát thương xót chúng sanh vô minh tăm tối,
nên bằng mọi phương tiện cứu độ muôn loài thoát khỏi ngục tù tam giới.
Thiền sư
Thanh-Ðàm Minh-Chánh nói:
Công danh cái thế màn sương sớm
Phú quý kinh nhân giấc mộng dài.
Chẳng hiểu bản lai vô nhất vật
Công phu luống uổng một đời ai.
Dù công danh
cao tột thế gian hay phú quý đến độ người người đều khiếp sợ, cũng chỉ như màn
sương buổi sớm hay giấc mộng đêm qua, có gì là thật. Vậy thì, con người phải
định vị mình ở nơi đâu? Ðây là câu hỏi thiết yếu mà mỗi chúng ta cần tự đặt ra
và tự giải đáp.
Ðối với người thế gian, “công phu” là kiến thức kinh nghiệm học
hỏi thu thập được trong quá trình sống và làm việc, là sự nghiệp công danh, là
thành công trong xã hội và hạnh phúc trong gia đình. Mọi người hầu như đem hết
tâm lực cốt đạt được những điều mong ước đó. Ðối với hàng xuất gia, “công phu”
là tích lũy một số kiến thức Phật học và thế học, có trú xứ ổn định, có tăng
thân thanh tịnh hòa hợp cùng giúp đỡ nhau tu hành, ngày càng giảm thiểu phiền
não khổ đau ở thân và tâm. Tuy nhiên, cả hai khía cạnh vật chất và tinh thần
nêu trên chưa phải là hạnh phúc tột cùng, miên viễn và đích thực. Ðời tu chỉ
thật sự có ý nghĩa khi hiểu được và đạt được mục đích: Trở về với con người
thật của chính mình và sống bằng con người thật ấy. Muốn không để “luống uổng
một đời”, người tu phải quán triệt tư tưởng “vô nhất vật”, danh từ của Lục Tổ
Huệ-Năng.
Chúng ta nhớ lại câu chuyện ngộ đạo của Lục Tổ: Khi Ngũ Tổ
Hoằng-Nhẫn gọi Ngài vào phương trượng giảng kinh Kim Cang, Ngài vẫn còn là cư
sĩ làm việc dưới nhà trù. Trong kinh có đoạn Ðức Phật trả lời câu hỏi của Ngài
Tu Bồ Ðề: “Làm sao an trụ tâm? ”. Phật dạy rằng: “Không nên trụ vào sắc mà sanh
tâm; không nên trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm. Phải ngay nơi chỗ
không trụ mà sanh tâm ấy”. “Tâm ấy” tức tâm Vô thượng Bồ-đề. Lời dạy của Ðức
Phật, mới nghe chúng ta chỉ hiểu là phải đặt trọng tâm ở chỗ không dính mắc với
sáu trần.
Vì sao không nên dính mắc vào trần cảnh? - Vì trần cảnh là duyên sinh
giả hợp, tự tánh của chúng là không. Nhưng nếu khéo nhìn sâu hơn, hành giả phải
tự nghi vấn: “Nếu tất cả các pháp đều Không, thân tâm cũng Không, vậy cái gì
giải thoát? Cái gì rõ biết Tánh Không? “Cư sĩ Huệ-Năng là một bậc pháp khí
thượng thừa, nên từ lời dạy ấy, Ngài nhận ngay ra tâm thể thường hằng của chính
mình. Tâm này lặng lẽ, không có hình tướng nên không thuộc về có; nhưng nó hằng
tri hằng giác, biết một cách thấu thể mọi sự vật hiện tượng trong tận cùng pháp
giới, nên không thuộc về Không. Vì vậy, nó được gọi là Chân - Không, cũng là
Phật tánh, là Pháp thân, là Bản lai diện mục, là tâm Thiền...
Bằng tâm Thiền, các Ngài nhìn toàn thể sự vật bằng cái thấy như
thị, không xâm phạm đến bản vị của các pháp mà vẫn hiểu một cách tột cùng bản
chất của chúng. Ðức Phật gọi đó là Phật tri kiến - Cái thấy biết Phật. Có cái
thấy biết này, các Ngài khởi phát diệu dụng không thể nghĩ bàn. Chính là Chân
Không sinh Diệu Hữu. Chân Không là tâm thể, Diệu Hữu là tâm dụng. Nhờ Diệu Hữu,
các Ngài có vô số phương tiện quyền xảo để giáo hóa chúng sanh. Các Ngài dọc
ngang tung hoành, làm ngược làm xuôi, đôi lúc có những hành động ngôn ngữ vượt
thường mà người đời không đoán định nổi. Bàng Long Uẩn khi liễu đạt lý Thiền,
đem hết của cải đổ xuống sông. Thiền sư Ðơn Hà đốt tượng Phật ở chùa Huệ Lâm,
làm Viện chủ Hướng “rụng cả lông mày”. Thiền sư Nam Tuyền giơ con mèo lên, cả
đại chúng không ai nói được, Ngài đành chém con mèo. Gia tài sự sản bị vất hết,
tượng Phật bị đốt, con mèo bị chém..., tất cả vì ai? Tất cả chuyện này có ý
nghĩa gì? Cũng như Ðức Phật, đã thành Bậc Chánh Giác nhưng mỗi ngày Ngài đều
tọa thiền. “Na-Già thường tại định”, Ngài đạt định trong mọi thời khắc, mọi nơi
chốn, cần chi phải tọa thiền? Ðây là những điều chúng ta cần suy gẫm.
III. Ý NGHĨA TRONG SỰ TU
HÀNH.
* Một Thiền sinh sau giờ tọa thiền, bạch cùng sư phụ: “Hôm nay
con thấy rỗng rang tự tại”. Vị Thiền sư trả lời: “Rồi nó sẽ qua đi!”. Ngày kế,
trò lại trình Thầy: “Hôm nay con lại thấy nặng nề mệt mỏi”. Thầy bảo: “Rồi nó
sẽ qua đi!”. Thiền sư đang khai thị chân lý cho trò: Tất cả các pháp, dù pháp
thế gian hay xuất thế gian, cũng đều qua đi, như dòng sông luôn luôn trôi chảy
không dừng. Thấy rõ các pháp là huyễn, không có gì vĩnh viễn thường trụ, chúng
ta không ước ao thân mình luôn mạnh khỏe, hoàn cảnh luôn thuận lợi đối với
mình. Bằng tinh thần lực chế ngự mọi đau khổ bất an, ta sẽ tích cực sống và làm
việc vì mình, vì người.
* Tánh Không là nền tảng mọi hoạt động của các pháp; nhờ
Không, các pháp trở nên linh động. Từ Không biểu hiện Sắc, lúc tan hoại thì Sắc
trở về Không. Sắc là do duyên mà có nên lệ thuộc vào duyên, Không là tự tánh
nên hoàn toàn độc lập. Sắc là hiện tượng có sanh diệt, Không là bản chất thường
hằng. Hiện tượng là biểu tướng không thật nên Sắc tức Không, còn Không là thể
tánh chân thật nên Không tức Sắc. Ðây là ý nghĩa của Tánh-tướng bất nhị, Lý-sự
vô ngại.
Quán triệt được điều này, chúng ta mới thấu rõ tinh thần Ðương
thể tức không - ngay có mà nhận ra không, từ không mà biểu hiện có. Không là
nguồn cội của vũ trụ, vũ trụ tuy Huyễn nhưng nguồn cội Không ấy là Như, nên gọi
là Như-Huyễn. Kinh Pháp-Hoa dùng một hình ảnh thật đẹp biểu trưng người đã thấu
triệt “nhất thiết pháp không”: hình ảnh ngồi tòa Như-Lai. Do bản thể các pháp
vốn không, nên chúng dung thông vô ngại. Phàm phu do tâm chấp trước các pháp là
thật có, nên thấy chúng ngăn ngại lẫn nhau, đặc biệt đối với các vật thể rắn:
thân người không thể đi xuyên qua vách đá, hòn gạch ném vào tường liền bị dội
lại... Ðức Phật dạy, do tâm chấp trước kiên cố nên các pháp biểu hiện thành
chất rắn, do tâm sân hận nên sanh có lửa, do tâm tham ái nên có nước, do tâm
dao động nên sanh ra gió. Tâm bên trong như thế nào thì biểu hiện các pháp bên
ngoài thế ấy. Ðối với các bậc ngộ đạo, lậu hoặc đã dứt, đã đạt lý tánh tuyệt
đối, các vị có thể tùy ý thi triển thần thông, vì các pháp không còn ngăn ngại
lẫn nhau. Ðây là tư tưởng vút cao trong kinh Hoa-Nghiêm: Sự-sự vô ngại hay Pháp
giới dung thông. Tư tưởng này làm sáng tỏ thêm lý Như-Huyễn, vì các pháp như
huyễn nên thật sự không có ranh giới chướng ngại.
* Một linh hồn
gõ cửa Thượng-Ðế xin vào ở chung. Thượng-Ðế từ trong hỏi vọng ra:
- Ai đó?
Linh hồn trả lời:
- Tôi.
- Tôi là ai?
- Tôi là tôi.
Vì “tôi là tôi” nên không có đủ chỗ cho linh hồn. Trở về tu luyện một thời gian
thật lâu, lần này khi nghe hỏi: “Tôi là ai? ”, linh hồn trả lời:
- Tôi là Thượng-Ðế.
Do linh hồn trở thành một với Thượng-Ðế, nên trên thiên đàng có
thể dung được anh ta. Tương tự như thế, khi nào ta niệm Phật mà thấy mình và
Ngài là một, thì tâm ta mới tương ứng với tâm của các Ngài. Ðiều đó có nghĩa
là, khi thấu rõ tự tánh các pháp đều không, tất cả đều như huyễn, cái ngã tiêu
dung, thì tự nhiên ta thể nhập vào quỹ đạo của chư Phật Bồ-tát . Lúc ấy:
Năng lễ sở lễ tánh không
tịch Cảm ứng đạo giao nan tư
nghì.
Cả người lễ (năng) và chư Phật (sở) tánh đều không, khi ấy sự
tương cảm tương ứng thật không thể nghĩ bàn!..Trên thực tế, ý thức chấp ngã vừa
mãnh liệt vừa thâm sâu. Phân biệt ngã chấp là dạng thô phù dễ thấy, tuy mạnh mẽ
nhưng có thể nhận diện và giải trừ; còn Câu sanh ngã chấp là dạng vi tế ẩn tàng
tùy miên (ngủ ngầm), mà người có công phu sâu dày miên mật mới khám phá nổi.
Như thế mới biết việc tu hành thật gian nan tinh tế, đòi hỏi ý chí, nghị lực và
lòng kiên nhẫn vô bờ, chứ không phải một sớm một chiều mà thu được kết quả lớn
như nhiều người lầm tưởng. Nhưng một khi sự chấp ngã tiêu dung, ta sẽ có sức
mạnh tinh thần rất lớn để sống và làm việc. Ta sẽ vượt qua mọi chướng duyên nơi
thân tâm và cảnh, thường độc hành độc bộ mà không điều gì không biết, không
việc gì không làm để tròn bản nguyện tự lợi lợi tha. Sau đây là bài kệ của Thiền sư Vạn Hạnh:
Thân như điện ảnh hữu hoàn
vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
tạm dịch:
Thân như bóng chớp có hoàn
không
Cỏ xuân tươi tốt thu héo nồng
Mặc cuộc thịnh suy không sợ hãi
Thịnh suy như cỏ giọt sương đông.
Thân như ánh chớp lóe lên rồi tắt, sống trên đời vài mươi năm
rồi lại ra đi. Nhất tức bất hồi thiên thu vĩnh biệt, mạng sống chỉ trong hơi
thở, một hơi thở ra không hít vào là từ giã cuộc đời. Vạn vật bên ngoài cũng vô
thường như thế, xuân đến trăm hoa đua nở, mùa thu đã tàn tạ héo úa rồi. Không
những vô thường theo năm tháng, mà trong từng sát-na, các pháp luôn thay đổi
chuyển dịch. Không những cõi Người bị vô thường chi phối, mà cả sáu cõi ba
đường đều sinh sinh diệt diệt không dừng nghỉ. Hiểu rõ vô thường là quy luật
tất yếu của cuộc sống, người tu không còn động tâm trước cảnh thăng trầm thịnh
suy, vì tất cả chỉ như giọt sương trên lá. Các Thiền sư tự tại trước sinh tử,
xem như đắp chăn đông cởi áo hạ, chính vì thẩm thấu đến tột cùng lý Vô thường;
và cũng vì các Ngài thấy rõ, trong vô thường biến động có cái chân thường bất
biến, tuy các pháp là huyễn mà luôn ở trong Như.
Thật ra, lý Như-Huyễn Phật dạy rất sâu mầu, không thể chỉ vận
dụng tư duy mà hiểu thấu. Nhờ công phu Thiền tập, quán chiếu sự duyên sinh, vô
thường và tự tánh Không của thân tâm cảnh, dần dần ta mới có thể hội được đôi
phần. Một người mắt nhặm, nhìn ra nắng thấy hoa đốm loạn xạ trong hư không. Hoa
đốm thật có hay thật không? - Do mắt nhặm nên cho là có sanh ra, thật sự chỉ là
huyễn sanh. Vì huyễn sanh nên huyễn diệt. Năm uẩn của con người và mọi pháp
trong vũ trụ cũng như vậy. Chính lý trùng trùng duyên khởi của Hoa-Nghiêm cho ta
thấy sự sinh khởi và hoại diệt huyễn mộng của pháp giới. Sự giả huyễn này là vô
cùng vô tận, sinh sinh hóa hóa không có ngày cùng.
Lại nữa, nhờ quán sát kỹ mọi pháp hữu vi đều là mộng huyễn, là
bóng bọt, là sương mù điện chớp, như lời Phật dạy trong kinh Kim Cang, ta mới
lần lần cảm nhận sự hư ảo bất thực của chúng. Khi đọc kinh hay nghe giảng,
chúng ta dễ dàng hiểu ý Phật Tổ muốn chỉ dạy điều gì, ngay cả những điều khó
tin khó hiểu. Tuy nhiên, từ hiểu biết đến hành trì có kết quả là một chặng
đường rất dài và rất đỗi gian nan. Chưa nói đến từng sát-na sinh diệt của tâm
mà chỉ Phật trí mới thấu suốt, đối với những niệm vi tế, nếu không có sự tỉnh
giác thường trực thì ta cũng đã bị chúng dẫn lôi rồi. Ðây là lý do khiến chúng
ta phải miên mật công phu, theo dõi từng biến chuyển của thân tâm, nhận diện và
vô hiệu hóa chúng bằng chánh niệm.
Tiến thêm một bước, hành giả nên tự hỏi rằng: “Thân tâm cảnh đều
là pháp huyễn, vậy các pháp huyễn này lấy gì làm chỗ sở quy? “- Chỗ sở quy ấy
là bản tâm chân thật bất sanh bất diệt của chính mình. Bản tâm ấy là tự thể của
mọi huyễn thân, huyễn tâm và huyễn cảnh, nên các pháp tuy huyễn mà vẫn ở trong
Như tánh. Chỉ khi nào hành giả ở trong trạng thái vô tâm hoặc trong Như-Huyễn
tam-muội, mới hoàn toàn quán triệt lý Như-Huyễn. Và chính Như-Huyễn tam-muội là
phương tiện thù thắng để hành giả trực nhận bản tâm. Dó đó, tu là phải khéo ở
trong Huyễn mà nhận ra Như, từ đó phát khởi đại nguyện Như-huyễn, vận dụng thân
tâm Như-huyễn, thi thiết mọi phương tiện Như-huyễn, độ tận chúng sanh
Như-huyễn. Và cuối cùng, thành Phật Như-huyễn, an trú trong Niết-bàn Như-huyễn.
Thế gian đã huyễn mộng thì Niết-bàn thật có được sao?
Chương Phổ-Hiền trong kinh Viên-Giác, Ðức Phật dạy rất
kỹ về
lý Như-Huyễn, trong đó có hai cách tu tùy trình độ căn cơ của hành giả:
Ðối với bậc thượng căn đốn ngộ, bằng trực giác Bát-Nhã, các Ngài nhận ra
các
pháp đều huyễn, tức thì lìa huyễn mà không kinh qua thứ lớp tu tập. Lìa
các
pháp huyễn nhưng không sanh tâm trên nó, ngay đó là giác chứ không theo
cấp bậc
(Tri huyễn tức ly bất tác phương tiện, Ly huyễn tức giác diệc vô tiệm
thứ). Khi
biết rõ ràng các pháp mà nội tâm vẫn bất động, đây là cái Biết của tự
tánh.
Biết huyễn tức lìa huyễn, lìa huyễn liền là Giác.
Ðối với chúng sanh căn cơ bậc trung và hạ, Ðức Phật từ bi lập
bày phương tiện tiệm thứ, phá hết lớp này đến lớp khác cho đến tận cùng gốc rễ
chấp trước của chúng sanh: Sáu căn là huyễn, sáu trần là huyễn, thức tâm phân
biệt cũng là huyễn nên phải xa lìa: đây là giai đoạn thứ nhất. Ðến cái tâm biết
về sự xa lìa này vẫn là huyễn, cũng phải xa lìa: đây là giai đoạn thứ hai. Giai
đoạn thứ ba, Phật gọi là “lìa cái xa lìa huyễn”, tức niệm vi tế về cái tâm xa
lìa này, cũng còn là huyễn, do vậy cũng phải buông sạch. Các huyễn diệt hết,
hành giả bặt hết vọng niệm, từ thô đến tế, nhưng không rơi vào trạng thái ngoan
không, mà cái “liễu liễu thường tri” rõ ràng hiện bày, như mây tan trăng hiện.
Lúc này, hành giả an nhiên tự tại trong dòng đời, làm ngược làm xuôi không xa
rời tự tánh, dạo chơi các cõi mà vẫn ở trong chánh định. Tế-Ðiên Hòa-thượng nửa
thực nửa hư là hình ảnh sống động của một người đạt đạo, thanh thản vân du đây
đó, tùy duyên hóa độ chúng sanh:
Người bảo Ngài điên, Ngài
chẳng điên
Ðói đến thì ăn, mệt ngủ liền
Hóa độ chúng sanh phiền não dứt
Ðường trần thanh thản bước thần tiên.
(còn tiếp)
|
|
|
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét