I. TỪ MỘT CÂU CHUYỆN
Ngày xưa, có một chàng thanh niên con nhà Nho giáo. Chàng là
người thông minh, học rộng biết nhiều, nổi tiếng khắp vùng với tài biện luận
thi phú. Chàng tự hào với vốn kiến thức của mình, cho rằng không ai qua mặt
nổi. Vì thế, khi triều đình ban chiếu mở khoa thi, chàng hăng hái sửa soạn lên
đường, chắc chắn sẽ chiếm giải Trạng nguyên. Gia đình và làng xóm đưa chàng một
đoạn đường, ai nấy đều hy vọng một ngày không xa, được đón chàng vinh quy bái
tổ.
Ngày đi đêm nghỉ, hôm ấy chàng đến một khúc sông rộng. Cô lái đò
đưa chàng qua sông, thấy chàng tướng mạo hơn người nên hỏi thăm, biết chàng lai
kinh ứng thí. Chuyến đò ngang khá đông khách, cô lái muốn thử tài chàng nên
thưa:
- Ðược biết người là bậc anh tài, thiếp tôi muốn được học hỏi
thêm. Có câu đối này, thiếp tôi xin người đừng tiếc lời.
Chàng hơi ngạc nhiên nhưng cũng mỉm cười:
- Tôi không ngờ cô nương đây lại rành việc văn chương. Nhưng tôi
tin cô nương sẽ không làm khó được tôi đâu. Xin cứ ra câu đối.
Cô lái đò cao giọng đọc:
- “Hỏa tại thạch trung, trầm tích thủy, thiên niên bất tuyệt”
(Lửa ở trong đá, chìm dưới nước, ngàn năm không tắt)
Chàng sĩ tử sửng người, không thốt được lời nào. Một phần vì
không ngờ cô lái đò quê lại có kiến thức như thế; nhưng phần lớn, bởi vì... câu
đối quá khó so với tưởng tượng của chàng! Lời văn trau chuốt, ý tứ lại sâu xa,
thật làm người ta bái phục. Ðối lại từng chữ thì khả dĩ, nhưng làm sao hiểu
được tận cùng ý nghĩa của câu để có trả lời tương xứng? Chàng cứ ngồi lặng
thinh suy nghĩ mãi, không biết đò vẫn trôi, không biết đã đến bến và khách đã
đi hết. Chàng không biết ai đưa mình lên bờ, để mình ngồi ở đó. Chàng cũng
không biết người ta đến với chàng, lay gọi chàng, đưa thức ăn cho chàng rồi lần
lượt bỏ đi khi thấy chàng không có một chút phản ứng. Thời gian cứ thế trôi
qua, và chàng vẫn ngồi đó, bất động.
Thân xác chàng như bị tê liệt, nhưng trí óc chàng vẫn quay cuồng
theo câu đối. Câu đối như một tấm lụa đen dài bay lượn trước mắt chàng, cuốn
hút tâm trí chàng vào trong vũ điệu ma quái của nó. Tấm lụa đen càng lúc càng
trải rộng, tốc độ quay càng lúc càng nhanh; chàng thấy mình như một mảnh kim
loại nhỏ bị khối nam châm đen hút chặt, cả tinh thần và thể xác đều dập vùi tơi
tả theo đà quay tít và xoáy tròn của một cơn gió lốc. Trời đất bỗng nhiên tối
sầm, một cái gì siết chặt lấy đầu chàng. Chàng càng vùng vẫy, nó càng siết mạnh
hơn. Cuối cùng, tất cả vỡ tung, một tiếng nổ kinh hồn vang lên, một cơn đau
khốc liệt xé nát toàn thân chàng. Chàng hét lên một tiếng, và như bị một lực vô
hình hút xuống vực sâu đen ngòm thăm thẳm...
Từ đó, vào những đêm không trăng, người dân trong làng nghe vang
lên từ dòng sông những tiếng kêu kỳ lạ. Tiếng kêu như than thở, như tiếc nuối,
như uất hận, hòa với tiếng nước rạt rào vỗ vào bờ thành một bản bi ca ghê rợn.
Và trong cái hòa thanh bất tận ấy là một giọng vút cao, đọc lên câu đối của cô
lái đò lúc trước. Người làng biết rằng, chàng sĩ tử vì không tìm được câu đối
lại, vừa xấu hổ với cô lái quê, vừa thất vọng vì sở học của mình chưa đến nơi
đến chốn, nên uất ức mà chết. Xác thân được dân làng mai táng, nhưng hồn chưa
siêu thoát vì mối hận lòng còn canh cánh, xuống Diêm đài vẫn chưa tan. Dân làng
nhiều lần rước thầy cầu siêu, lập đàn giải oan, nhưng không có kết quả.
Rồi một hôm, có một vị tu sĩ đi qua làng. Thấy người từ xa đến,
tuy áo nâu lấm bụi đường nhưng phong cách thoát tục, dân làng đem lòng ngưỡng
mộ. Họ thỉnh vị sư vào nhà làng, ân cần tiếp đãi và nhờ Người tìm cách trừ mối
lo cho họ. Vị sư hỏi chuyện cặn kẽ và đồng ý ở lại làng đêm đó, nhưng với điều
kiện là để Người một mình ở bờ sông, nơi chàng sĩ tử từng ngồi lúc trước.
Ðêm không trăng tối mịt, ngửa bàn tay không thấy. Gió từ lòng
sông thổi lên lạnh buốt. Vị sư ngồi kiết-già tọa thiền. Dân làng tuân theo lời
dặn, không ai dám đến gần bờ sông, nhưng đều thao thức, hồi hộp đợi chờ. Ðêm
càng khuya, sương càng rơi nhiều, đẫm ướt vai áo vị sư. Nhưng người vẫn ngồi
đó, an nhiên tự tại, hơi thở như có như không... Và điều chờ đợi, cuối cùng đã
đến!
Trong cái quánh đặc đen ngòm của bóng đêm, dàn hợp xướng quái
đản bắt đầu cất tiếng, lần này càng có vẻ thê lương đến ghê rợn, cô đơn đến não
nùng. Mọi người đều rợn gai óc, nín thở lắng nghe...
Khi bản giao hưởng của tiếng sóng vỗ réo rắt, tiếng gió thổi ù
ù, tiếng kêu than nỉ non đã quyện vào nhau, đưa lên đến thang âm cao nhất, thì
một giọng nam vút lên, rền rĩ từng lời của câu đối ngày nào:
- Hỏa tại thạch trung, trầm tích thủy, thiên niên bất
tuyệt
Tiếng vọng của oan hồn chàng sĩ tử vừa dứt, bỗng một giọng nói
sang sảng trầm hùng của vị tu sĩ vang lên:
- Nguyệt tận không trung, chiếu thế gian, vạn cổ trường tồn (Trăng ở trên không, chiếu thế gian, muôn kiếp vẫn còn).
- Nguyệt tận không trung, chiếu thế gian, vạn cổ trường tồn (Trăng ở trên không, chiếu thế gian, muôn kiếp vẫn còn).
Ðột nhiên tất cả đều im ắng. Một sự bình an kỳ diệu dường như
tỏa khắp không gian, khiến bầu không khí đượm vẻ thanh lương và tâm hồn mọi
người trở nên lắng dịu. Trăng hạ huyền xuất hiện. Ðêm qua dần trong yên tĩnh,
một vẻ yên tĩnh chưa hề có từ khi chàng sĩ tử đến đây và ôm mối hận qua đời.
Từ ngày ấy, người ta không còn nghe giọng chàng sĩ tử cất lên
vào những đêm tối trời. Người ta biết chàng đã được siêu độ. Còn tung tích của
vị sư, thì không ai rõ, vì buổi sáng sớm, khi họ ra đến bờ sông đã không trông
thấy Người đâu nữa.
II.ÐẾN Ý NGHĨA TÂM THIỀN.
Câu chuyện trên, mới nghe qua có vẻ hoang đường, nhưng nếu suy
gẫm, ta sẽ thấy đượm nhiều thiền vị. Chàng sĩ tử luôn tự mãn với kiến thức uyên
bác của mình, nhưng không hiểu đó chỉ là vay mượn từ bên ngoài. Sở học thế gian
không giúp chàng thấu rõ ý nghĩa thâm sâu của câu đối. Lời văn tuy rõ ràng,
nhưng nội dung của nó thì cần phải đi sâu vào đạo lý mới có thể quán triệt. Vì
có lửa trong đá, nên khi hai viên đá cọ vào nhau mới có lửa phát ra; dù đá chìm
dưới nước ngàn năm, lửa trong đá vẫn không tắt: đây là nghĩa đen của câu đối.
Nhưng nghĩa bóng thì ám chỉ một loại lửa khác, cháy sáng muôn đời, không thấy
bằng mắt thường vì không có hình tướng, không bao giờ hoại diệt dù đá bị vỡ
tan. Lửa đó ở ngay thân tứ đại, ngày đêm chiếu sáng qua sáu căn.
Hiểu được câu trước, ta hiểu luôn câu đối lại của vị sư: Mặt
trăng chiếu sáng trong hư không, muôn đời còn mãi với thế gian. Ðứng dưới đất
nhìn lên, có đêm ta thấy trăng sáng, có đêm thấy không trăng. Ðó là kết quả sự
vận hành của hệ thống mặt trời - quả đất - mặt trăng trong mối liên hệ hỗ tương
của chúng. Thật sự, mặt trăng luôn hiện hữu, vẫn quay chung quanh quả đất theo
quỹ đạo và chu kì của riêng nó. Cũng như vầng trăng miên viễn của chúng ta, dù
chúng ta quên hay nhớ, dù chúng ta mang thân xác nào, thọ nghiệp báo nào trong
ba cõi, trăng vẫn chiếu soi, vẫn vạn cổ trường tồn.
Nhận được ngọn lửa hay mặt trăng thường hằng bất diệt trong thân
ngũ uẩn vô thường sinh diệt, chúng ta thấu hiểu tâm Thiền. Gọi là “hiểu”, nhưng
không phải hiểu bằng ý thức, nên không liên quan đến kiến văn quảng bác thế
gian, đến khả năng suy tư biện luận. Hiểu ở đây phải bằng trực giác, bằng kinh
nghiệm nội tại từ công phu tu trì nghiêm mật. Một khoảnh khắc nào đó trong đời,
khi khối nghi ôm ấp lâu nay bùng vỡ, ta trực nhận ra tự tánh thanh tịnh bản lai
của chính mình, thì đến chết vẫn không quên. Có thể xem trường hợp của Thiền sư
Hương Nghiêm Trí Nhàn là một ví dụ điển hình:
Sư Hương Nghiêm là một bậc thông tuệ, tánh thức minh mẫn, nhưng
ở dưới hội của Tổ Bá Trượng nhiều năm vẫn chưa tỏ ngộ lý Thiền. Khi Tổ mất,
Ngài Qui Sơn bảo sư:
- Ta nghe ngươi ở chỗ tiên sư Bá-Trượng hỏi một đáp mười, hỏi mười đáp trăm. Ðó là ngươi thông minh lanh lợi, nhưng ý hiểu thức tưởng là cội gốc sanh tử. Giờ đây thử nói một câu khi cha mẹ chưa sanh xem!
- Ta nghe ngươi ở chỗ tiên sư Bá-Trượng hỏi một đáp mười, hỏi mười đáp trăm. Ðó là ngươi thông minh lanh lợi, nhưng ý hiểu thức tưởng là cội gốc sanh tử. Giờ đây thử nói một câu khi cha mẹ chưa sanh xem!
Sư mờ mịt không đáp được, tìm tất cả sách vở cũng chẳng thấy có
câu trả lời thỏa đáng. Sư than: “Bánh vẽ chẳng no bụng đói”, rồi đốt hết sách
vở, về làm ruộng ở Nam Dương. Một hôm, đang cuốc cỏ trên núi, sư lượm hòn gạch
ném ra ngoài, vô tình hòn gạch trúng cây tre vang một tiếng “cốc”. Sư chợt tỉnh
ngộ phá lên cười. Nhân đó, làm bài kệ:
Nhất kích vong sở tri
Cánh bất giả tu trì
Ðộng dung dương cổ lộ
Bất đọa thiểu nhiên ki.
Dịch:
Tiếng vang quên sở tri
Cần chi phải tu trì
Ðổi sắc bày đường cũ
Chẳng rơi vào lặng im.
Cánh bất giả tu trì
Ðộng dung dương cổ lộ
Bất đọa thiểu nhiên ki.
Dịch:
Tiếng vang quên sở tri
Cần chi phải tu trì
Ðổi sắc bày đường cũ
Chẳng rơi vào lặng im.
Xem đó, muốn thể nhập chân lý tuyệt đối, không thể nhờ sách vở
bên ngoài. Bằng kiến thức sở hữu qua kinh sách, ta có thể hiểu thế nào là mê,
thế nào là giác, thế nào là con đường đi đến giác ngộ. Nhưng nếu muốn thực sự
có một bước nhảy từ mê qua giác, và một bước nhảy siêu vượt cả mê lẫn giác, ta
phải tự thân thẩm thấu vào tận cùng nguồn cội của cuộc sống, phải tự thân lặng
sâu vào tận cùng cái thăm thẳm của tâm thức. Có như thế, ta mới tiếp cận với
kinh Phật, không chỉ ở tầng hiển ngôn, mà còn ở tột cùng tầng vô ngôn huyền
nhiệm. Lúc ấy, ta mới thấy rõ, trên đời không có gì quý bằng bản tâm thanh tịnh
sẵn đủ của mình; vì khi nhận ra và hằng sống với nó, ta đã thoát khỏi cái khổ
lớn nhất của kiếp chúng sanh, là cái khổ luân hồi trong tam giới. Ta mới hiểu
rõ, vì sao đức Phật và chư Tổ có thể hy sinh gia đình, công danh, kể cả mạng sống
của mình để hoàn thành nghiệp lớn. Ta cũng thấu triệt ý nghĩa của hai câu
“Thiên thượng thiên hạ, Duy ngã độc tôn” trong bài kệ bảy bước của Thái tử
Sĩ-Ðạt-Ta lúc đản sanh, tại vườn Lâm-Tỳ-Ni thuở trước.
Tất cả mọi hàm linh, dù hoàn cảnh chánh báo và y báo khác nhau,
đều bình đẳng ở bản tâm, ở cái Ngã này. Bản tâm vốn lặng lẽ mà hằng tri, như
chiếc gương có đặc tính chiếu soi mọi vật đặt trước nó. Gương bị bụi bám không
chiếu soi được, nhưng tính sáng nguyên thủy của nó không bao giờ mất, nên khi
lau sạch bụi, gương trở lại trong sáng như xưa. Chúng ta bị những lớp bụi phiền
não bám khằn vào tâm từ bao đời kiếp, nên không thể tiếp nhận chân lý Thiền.
Khi nhìn một vật, lẽ ra bằng trực giác, mọi người đều biết như nhau; nhưng do
tập khí, nảy sinh thêm vọng niệm khen chê ưa ghét; vọng này chưa dứt, vọng khác
tiếp tục nổi lên. Ðầu óc chúng ta vì vậy lúc nào cũng lăng xăng lộn xộn, tâm ý
lúc nào cũng quay cuồng như ngựa mất yên cương. Nếu biết cách miên mật công
phu, gột rửa dần tập khí, một lúc nào đó chân lý sẽ hiển bày. Lúc tâm hoàn toàn
thanh tịnh, cái thấy nghe hiểu biết của ta không bị tạp lẫn với những ý kiến
thức tưởng chủ quan, cái Biết bình đẳng ấy mới khế hợp với tâm Thiền.
Kinh Viên-Giác, Phật dạy: “Nếu chưa ra khỏi luân hồi mà biện
biệt tâm Viên-Giác, thì tánh Viên-Giác kia cũng đồng với lưu chuyển”. Nếu ta
đem tâm sanh diệt mà biện luận về chỗ vô sanh, thì chỗ vô sanh ấy cũng trở
thành sanh diệt. Mây bay thấy trăng chạy, thuyền đi thấy bờ dời ; thật ra trăng
và bờ đâu có dời chỗ, do cái thấy sai lầm điên đảo của chúng sanh nên sự thật
bị lệch lạc. Chúng ta luôn sống bằng ý thức, nên nhìn sự vật qua lăng kính của
phân biệt, tưởng tượng, suy lường; từ đó không nhận chân được thực tại, không
thấy được bản chất của muôn pháp. Mặt khác, còn ý thức thì bản ngã còn có cơ
hội xen vào trong hành vi ngôn ngữ, kể cả trong công phu tu tập. Nhiều thiền
sinh trải qua một thời gian hành trì, có vài kết quả khả quan, tự cho mình có
căn tánh hơn người.
Cũng có thiền sinh, nhờ thông minh lanh lợi, có nhiều kiến
giải về Thiền, hiểu lầm giác ngộ là chuyện dễ dàng, cho mình đã xong việc. Bản
ngã vì thế lại càng tăng trưởng, không chịu hạ mình học hỏi, không tinh cần hạ
thủ công phu. Lần lần có chiều hướng đi xuống, cuối cùng đọa lạc. Ðây là điều
rất đáng tiếc. Cho nên cần hiểu, giác ngộ không phải là kết quả của sự mong
cầu, không phải là hành vi của ý thức, càng không phải là chuyện đơn giản đạt
đến trong một sớm một chiều. Phải có đời sống thiền tập miên mật, phải có ý chí
kiên cường, tinh ròng không tạp, phải hội đủ túc duyên, chúng ta mới có cái
nhìn sự vật không qua niệm khởi, không qua tư duy, không chìu uốn theo các pháp
và sanh tâm trên đó. Lúc ấy, ta mới biết giác ngộ là thế nào.
Khi vua Lý Thái
Tông đến viếng Thiền sư Thiền Lão, vua hỏi Ngài:
- Hòa thượng trụ núi này đã được bao lâu?
Sư đáp:
Ðản tri kim nhật nguyệt
Thùy thức cựu xuân thu
dịch:
Chỉ hay ngày tháng này
Biết chi xuân thu trước.
Vua lại hỏi:
- Hàng ngày Hòa thượng làm gì?
Sư lại đáp bằng hai câu kệ:
Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân.
dịch:
Trúc biếc hoa vàng nào cảnh khác
Mây bay trăng sáng hiện toàn chân.
- Hòa thượng trụ núi này đã được bao lâu?
Sư đáp:
Ðản tri kim nhật nguyệt
Thùy thức cựu xuân thu
dịch:
Chỉ hay ngày tháng này
Biết chi xuân thu trước.
Vua lại hỏi:
- Hàng ngày Hòa thượng làm gì?
Sư lại đáp bằng hai câu kệ:
Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân.
dịch:
Trúc biếc hoa vàng nào cảnh khác
Mây bay trăng sáng hiện toàn chân.
Lời đáp của Thiền sư, mới nghe qua tưởng như không liên hệ gì
đến câu hỏi, nhưng thật sự chứa đựng yếu chỉ nhà Thiền. Người đã sống với bản
tâm, nói lời nào cũng khế hợp với đạo lý. Những năm tháng đã qua, Ngài không
cần biết đến; cũng như những gì sẽ tới, Ngài chẳng cần bận tâm. “Chỉ hay ngày
tháng này” là tinh thần Chánh niệm. Quá khứ không còn, tương lai chưa đến, tất
cả đều chỉ là huyễn ảo, như hoa đốm trong hư không. Ngài luôn an trú tâm vào
giây phút hiện tại, vào thời điểm tại-đây và bây-giờ. Bởi vì, khi thể nhập
thánh trí tự giác, mọi thời gian và mọi không gian đều dung thông trong một
sát-na vĩnh cửu. Ðây không phải là cảnh giới do ngôn thuyết hay suy luận mà
biết; đây là sự thực chứng của một bậc đã giác ngộ tâm Thiền. Khi ánh sáng trực
giác bừng lên, mọi vật mọi cảnh đều hiển hiện tự tánh bình đẳng, tuy huyễn mà
vẫn ở trong Như tánh. Cho nên, trúc biếc hoa vàng hay mây bay trăng sáng nào
đâu cảnh khác, tất cả đều hiển lộ toàn chân .
Như vậy, học Thiền là học vào giờ phút hiện tại, tu Thiền là tu
vào giờ phút hiện tại, chứng Thiền cũng chỉ là chứng vào giờ phút hiện tại ấy
mà thôi. Nhưng cái gì học, tu và chứng? - Ðó là TÂM. Ngoài tâm, không có gì
khác. Tâm sẵn đủ ở mọi loài, luôn lặng lẽ mà tỏ sáng. Khi trực nhận tâm bản
lai, ta mới biết “tu, học, chứng” thật ra chỉ là gượng nói, vì tâm ấy chính là
mình, chưa bao giờ thiếu vắng. Thiền muốn chỉ rõ cái sẵn đủ này ở mọi người,
không phân biệt chủng tộc, tôn giáo hay ý thức hệ. Trọng tâm tu hành của nhà
Thiền là phải nhận ra tự tánh, tức hồi phục chức năng nguyên thủy của chính
mình. Có thể nói, kiến tánh là mục đích tối hậu của thiền giả, chưa kiến tánh
thì chưa phải là Thiền!...Một số thiền sinh thắc mắc: Vì sao không gọi “Vô tâm
Thiền” mà gọi “Tâm Thiền”? Chúng ta thường nghe câu kệ trong bài phú Cư trần
lạc đạo của Sơ tổ Trúc Lâm:
Ðối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.
Khi đối duyên xúc cảnh, nếu không khởi niệm phân biệt khen chê ưa ghét thì không cần hỏi chi đến Thiền, vì vô tâm đã là Thiền rồi. Cảnh giới vô tâm này tương đương bức tranh số 8 trong mười bức chăn trâu của Thiền tông. Hành giả không còn ý niệm đối đãi nên phàm Thánh đều không, chẳng chán Ta-bà chẳng cầu Tịnh độ. Khi Sa-di Cao đến viếng Ngài Dược Sơn, Ngài hỏi:
- Ta nghe Trường An rất náo loạn, ngươi biết không?
Khi đối duyên xúc cảnh, nếu không khởi niệm phân biệt khen chê ưa ghét thì không cần hỏi chi đến Thiền, vì vô tâm đã là Thiền rồi. Cảnh giới vô tâm này tương đương bức tranh số 8 trong mười bức chăn trâu của Thiền tông. Hành giả không còn ý niệm đối đãi nên phàm Thánh đều không, chẳng chán Ta-bà chẳng cầu Tịnh độ. Khi Sa-di Cao đến viếng Ngài Dược Sơn, Ngài hỏi:
- Ta nghe Trường An rất náo loạn, ngươi biết không?
Sa-di Cao thưa:
- Bạch Hòa thượng, nước con an ổn. “Nước an ổn” có phải đất nước của Sa-di Cao không náo loạn, hay ông muốn ám chỉ điều gì? “Hai đầu không dính, ngàn mắt khó xem”. Khi tâm không vướng mắc trần cảnh, không kẹt hai bên đối đãi thì mắt Phật cũng không nhìn thấy!
- Bạch Hòa thượng, nước con an ổn. “Nước an ổn” có phải đất nước của Sa-di Cao không náo loạn, hay ông muốn ám chỉ điều gì? “Hai đầu không dính, ngàn mắt khó xem”. Khi tâm không vướng mắc trần cảnh, không kẹt hai bên đối đãi thì mắt Phật cũng không nhìn thấy!
Nhưng nếu chỉ đạt được trạng thái lặng lẽ thanh tịnh thì chưa
phải là cứu cánh của Thiền tông. Chủ đích của Thiền là trở về thể tánh chân
thật lặng lẽ mà thường biết, cảnh giới của tâm Thiền. Cho nên:
Mạc vị vô tâm
vân thị đạo
Vô tâm du cách nhất trùng quan.
Dịch:
Chớ bảo vô tâm ấy là đạo
Vô tâm còn cách một lớp rào.
Vô tâm du cách nhất trùng quan.
Dịch:
Chớ bảo vô tâm ấy là đạo
Vô tâm còn cách một lớp rào.
Muốn vượt lớp rào ấy, hành giả phải qua “một cơn chết lớn” (đại
tử nhất phiên) hay “tuyệt hậu tái tô”. Buông tay cho chết một lần, thoát xác
khỏi cái tôi hư giả, chặt đứt mọi xiềng xích mối manh vọng tưởng, chừng đó sống
lại, chừng đó trở về nguồn. Hành giả chợt nhận ra “Am trung bất kiến am tiền
vật, Thủy tự mang mang hoa tự hồng”. Trong am chẳng thấy vật gì khác ngoài cái
am, tâm Thiền bao trùm pháp giới, có gì khác ngoài tâm? Mọi vật đều trở về bản
vị của nó, nước tự nó mênh mông, hoa tự nó nở hồng. Ðây là cái thấy như thị,
khi hành giả thể nhập tâm Thiền. Từ đó, dù cuộc đời chịu bao gian truân thử
thách, dù thân tứ đại chịu nhiều bệnh tật đọa đày, các Ngài vẫn an nhiên tự
tại, như Thiền sư Từ Minh nói “Sanh như đắp chăn đông, tử như cởi áo hạ”, hoặc
như Ngài Huyền Giác trong bài ca Chứng đạo:
Hành diệc
thiền, tọa diệc thiền
Ngữ mặc động tịnh thể an nhiên
Túng ngộ phong đao thường thản thản
Giả nhiêu độc dược dã nhàn nhàn.
Trúc Thiên dịch:
Ði cũng thiền, ngồi cũng thiền
Nói im động tịnh thảy an nhiên
Phỏng gặp gươm đao thường nhẹ hững
Ví nhằm thuốc độc vẫn bồng tênh.
Ngữ mặc động tịnh thể an nhiên
Túng ngộ phong đao thường thản thản
Giả nhiêu độc dược dã nhàn nhàn.
Trúc Thiên dịch:
Ði cũng thiền, ngồi cũng thiền
Nói im động tịnh thảy an nhiên
Phỏng gặp gươm đao thường nhẹ hững
Ví nhằm thuốc độc vẫn bồng tênh.
Khi đã trở về
sống với cái tịch tĩnh vĩnh hằng, với quê nhà muôn thuở, thì bất cứ lời nói cử
chỉ nào cũng là Thiền. Không phong ba bão táp nào, không độc dược gươm đao nào
ảnh hưởng được bản tâm không hình tướng ấy. Nếu còn thấy tâm là đối tượng tức
còn khoác cho nó một tướng trạng, tâm ấy còn trong vòng sinh diệt. Nếu thấu
triệt bản thể của tâm là vô nhất vật, không tướng mạo mà hằng hữu hằng tri, thì
không còn chỗ nào dính bụi. Hiểu được điều này, ta mới thẩm thấu tột cùng ý
nghĩa của bài kệ trong phẩm Phổ Môn - kinh Diệu Pháp Liên Hoa:
Giả sử sanh
lòng hại
Xô rớt hầm lửa lớn
Do sức niệm Quan Âm
Hầm lửa biến thành ao
Chúng sanh bị khổ ách
Vô lượng khổ bức thân
Quan Âm sức trí diệu
Hay cứu khổ thế gian.
Xô rớt hầm lửa lớn
Do sức niệm Quan Âm
Hầm lửa biến thành ao
Chúng sanh bị khổ ách
Vô lượng khổ bức thân
Quan Âm sức trí diệu
Hay cứu khổ thế gian.
Hiểu theo sự, khi chúng sanh bị tai nạn quẩn bách, một lòng cầu
nguyện Bồ-tát Quan Âm, Ngài sẽ dùng thần lực cứu vớt. Nhưng chúng ta không dừng
lại ở nghĩa đen bên ngoài, mà cần rõ nghĩa lý sâu xa Ðức Phật muốn dạy: Quan Âm
là phản văn văn tự tánh - trở về nghe lại tánh nghe của chính mình. Sống với
tánh nghe là giác tri, là hiện tướng của tánh giác, của tâm Thiền. Khi đã thuần
thục, không còn phân biệt năng giác - sở giác, chỉ còn tự tánh thanh tịnh
thường tri. Mọi vọng niệm đối đãi dứt bặt là phá được tưởng ấm, tức phá được
nhân đau khổ. Do vậy, tất cả đau khổ hoạn nạn trên đời không còn làm hành giả
vướng bận, dù xảy đến cho bạn bè, người thân hay cho chính bản thân mình.
III. CON ÐƯỜNG THỂ NHẬP
TÂM THIỀN:
1/ Kinh Niệm xứ và Thiền
Nguyên thủy : Kinh Niệm
xứ là một bài kinh phổ thông, trình bày một cách căn bản về Thiền Minh Sát Tuệ
(Vipassana), có tầm quan trọng đặc biệt trong hệ thống kinh điển Nguyên thủy.
Nội dung của kinh là chánh niệm và quán niệm trên bốn lĩnh vực thân - thọ - tâm
- pháp. Trong phạm vi chương này, chúng ta không đi sâu vào chi tiết của
các kinh, mà chỉ nhằm làm sáng tỏ tính nhất quán trong những lời Phật dạy, dù
người sau phân chia làm nhiều hệ thống, tông phái. Sự phân chia ấy thật cần
thiết để phù hợp với căn cơ, trình độ của người học Phật, nhưng tất cả đều nhắm
đến một mục tiêu tối hậu, là giác ngộ và giải thoát sinh tử.
Quán niệm trên các pháp, ta thấy rõ chúng do nhân duyên sinh. Vì
do duyên sinh nên tự tánh của chúng là không, còn sự hiện hữu chỉ là tạm có.
Không ở đây nghĩa là không có tự thể, chứ không phải ngoan không. Ðó chính là
Vô ngã tánh, Bình đẳng tánh, Không tánh của vạn pháp. Nhận ra Tánh không tức ta
có cái nhìn thấu thể đối với vạn pháp, có sự bình đẳng giữa mình và mọi vật; từ
đó, không còn nhận thức lầm lẫn về tự thân và cuộc đời.
Thực hiện tinh
thần Phản quan tự kỷ, Ðức Phật dạy chánh niệm và quán niệm trên thân, thọ và
tâm. Về thân, quan trọng nhất là theo dõi và tuệ tri trên hơi thở. Thở vào -
ra, dài - ngắn ta đều biết rõ, biết mà không can thiệp, không sanh
tâm. Giai đoạn đầu là liên hệ giữa tâm và hơi thở; sau đó, hơi thở là
gạch nối giữa thân và tâm. Cuối cùng là hợp nhất thân tâm. Khi tuệ tri “có thân
đây”, chúng ta đã trực diện với thân trong giờ phút hiện tại, bằng cái thấy như
thị. Chủ thể nhận thức là tâm hay biết và đối tượng nhận thức là thân bị biết trở
thành nhất như. Ðây là tri kiến như thật, diệu dụng của bản tâm thanh tịnh
thường nhiên.
Ðối với các cảm thọ,
phát sinh từ sự giao thoa giữa căn và trần,
Phật dạy chúng ta theo dõi và tuệ tri mà không phát triển tư duy về
chúng. Cảm
thọ luôn thay đổi, lúc sinh lúc diệt, còn cái tuệ tri trên cảm thọ thì
không
bao giờ đổi thay. Ðây là phương tiện để nhận ra tâm thể thường hằng. Khi
quán niệm trên mười sáu loại tâm hành, chúng ta thấu rõ hành
tung bất định và bản chất hư ảo của chúng. Tuệ tri tất cả vọng tâm tức
ta đã
duy trì tự tánh hằng biết, để nắm bắt đương niệm ngay trong cuộc vận
hành, ngay
trong dòng sinh diệt của chúng. Tuệ tri ở đây chính là cái biết thâm
nhập, cái
biết bằng trực giác không qua ý thức phân biệt nhị nguyên, cái biết Tri
kiến vô
kiến, ý nghĩa của tự tánh hằng tri.
2/ Các kinh điển Ðại thừa:
Chúng ta đều biết, tất cả những điều Phật dạy trong suốt 49 năm thuyết pháp đều nhằm giúp chúng sanh thoát khỏi phiền não và sanh tử. Nhưng tùy căn tánh mà chúng sanh có thể chọn lựa cách tu hành thích hợp, tựu trung gồm 5 phương tiện chính, như năm loại xe đưa chúng sanh đến bến bờ tương ứng. Ðó là Ngũ thừa Phật giáo:
Chúng ta đều biết, tất cả những điều Phật dạy trong suốt 49 năm thuyết pháp đều nhằm giúp chúng sanh thoát khỏi phiền não và sanh tử. Nhưng tùy căn tánh mà chúng sanh có thể chọn lựa cách tu hành thích hợp, tựu trung gồm 5 phương tiện chính, như năm loại xe đưa chúng sanh đến bến bờ tương ứng. Ðó là Ngũ thừa Phật giáo:
1. Nhơn thừa: Tu năm giới, giúp chúng sanh tiếp tục
trở lại làm người, tránh vào bốn cõi Ðịa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, A-tu-la.
2. Thiên thừa: Tu thập thiện, giúp chúng sanh vượt
khỏi tứ châu (Nam-thiệm-bộ châu, Ðông-thắng-thần châu, Tây-ngưu-hóa châu,
Bắc-câu-lô châu), sinh lên cõi Trời. Hai đường tu này vẫn còn trong vòng luân
hồi, chưa phải thật sự giải thoát.
3. Thanh văn thừa: Tu pháp Tứ đế, giải thoát sanh tử,
chứng A-la-hán.
4. Duyên giác thừa: Tu mười hai nhân duyên, giải thoát sinh tử,
thành Bích Chi Phật.
Thanh Văn và Duyên Giác thừa đã liễu thoát tam giới, nhưng nặng
phần tự lợi mà xem nhẹ lợi tha, nên tạm gọi là Tiểu thừa ( cổ xe nhỏ)
5. Bồ-tát thừa: Cầu đạo vô thượng Bồ-đề, tu Lục độ vạn hạnh,
nguyện độ tất cả chúng sanh. Vừa tự lợi vừa lợi tha nên được gọi là Ðại thừa
(xe lớn).
Trong kinh Pháp Hoa, Ðức Phật chỉ dạy cặn kẽ: Dù trước đây Phật
có nói nhiều pháp khác nhau, nhưng đó chỉ là những phương tiện dẫn dắt chúng
sanh từng bước đến mục đích cuối cùng. Mục đích này cũng là bản hoài của chư
Phật - khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến. Chỉ có một Phật thừa,
không có thừa nào khác. “Phật tri kiến” sẵn đủ nơi tất cả chúng sanh, không
phân biệt giống loài, giới tính, căn cơ, tuổi tác. Khai và thị (mở ra và chỉ
cho thấy) Phật tri kiến là việc làm của chư Phật Bồ-tát, còn ngộ và nhập (nhận
ra và sống với) tánh giác là vấn đề của chúng sanh, mỗi cá nhân phải tự đảm
đương lấy. Tánh giác ở ngay nơi thân thất đại; muốn nhận ra nó, phải thu nhiếp
mọi vọng tưởng, như muốn thấy Phật Ða Bảo trong tháp bảy báu, phải nhóm tất cả
Phật phân thân ở mười phương về một chỗ.
Kinh Lăng Nghiêm, đức Phật chỉ rõ hơn. Từ câu hỏi đầu tiên cho
tôn giả A Nan: “Vì lý do gì ông xuất gia? “đưa đến bảy chỗ hỏi tâm, Phật lần
lượt phá tất cả các chấp giả, đồng thời chỉ cái chân thật. Từ tánh thấy ví như
mặt trăng thứ hai, Phật dạy về Như Lai Tạng . Ðây chính là tâm thể, là mặt
trăng thật. Lối chỉ thẳng này dành cho hàng thượng căn đốn ngộ, có khác gì
“trực chỉ nhân tâm” của nhà Thiền? Khi nhận ra bản tâm tức đã kiến tánh, hành
giả khởi tu bằng phương tiện của Bồ-tát Quán Thế Âm, phương tiện thù thắng và
thích hợp nhất đối với chúng sanh cõi Ta-bà: Hằng sống với tánh nghe mà không
dính mắc với tiếng bị nghe (phương pháp Nhĩ căn viên thông hay Phản văn văn tự
tánh); khi thuần thục thì năng và sở đều dứt, chỉ còn một thể thanh tịnh như
như - ý nghĩa của tâm Thiền.
Ðọc kinh Kim-Cang, chúng ta thoạt nhớ câu chuyện ngộ đạo của Lục
Tổ Huệ Năng ở Trung Hoa và vua Trần Thái Tông của Việt Nam . Toàn bộ bản kinh
nhằm trả lời hai câu hỏi của tôn giả Tu Bồ Ðề: “Khi người nam lành, người nữ
lành phát tâm cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, làm sao an trụ? Làm sao hàng
phục tâm ấy? ”. Phật dạy, muốn hàng phục tâm, phải đưa mọi vọng tưởng (chúng
sanh tâm) vào chỗ vô sanh mà không chấp bốn tướng ngã, nhơn, chúng sanh, thọ
giả. Muốn an trụ tâm, phải buông xả hết sáu trần, ngay nơi không có chỗ dính
mắc mà sanh tâm Vô thượng Bồ-đề. Như vậy, người phát tâm cầu thành Phật, phải
thực hành theo tinh thần: “Ngoài không dính mắc các trần, trong không theo vọng
tưởng”, ngay đó liền nhận ra tánh giác bất sanh bất diệt của chính mình. Lục Tổ
và vua Trần nghe đến đoạn này liền nhận được yếu chỉ.
Trong kinh Viên-Giác, ngay chương đầu đức Phật đã nói thẳng về
nhơn địa tu nơi Viên Giác của Như Lai: Chỉ cần biết tất cả pháp như hoa đốm
trong hư không, liền không bị lưu chuyển trong sanh tử. Tựu trung chỉ có một
chữ BIẾT- biết bằng trực giác, biết không qua trung gian suy luận, không phân
ranh người biết và đối tượng biết. Ánh sáng trực giác thẩm thấu vào muôn pháp,
biết chúng đều là huyễn. Biết huyễn thì lìa huyễn, lìa huyễn liền là giác. Ðây
là pháp môn đốn siêu phương tiện, dành cho các bậc thượng căn.
Ðối với kinh Lăng-Già, bộ kinh được dùng làm tâm ấn trong nhà
Thiền, tư tưởng chủ đạo thật rõ ràng: “Dĩ tâm vi tông, dĩ vô môn vi pháp môn”
(Lấy tâm làm chủ, lấy cửa không làm cửa pháp). Người tu thấy tất cả các pháp
đều như mộng huyễn, nên tất cả chấp trước đều xa lìa, ngay cả cái chấp vào Phật
năng giác và Niết-bàn sở giác. Thấu triệt Bình-Ðẳng-Tánh của muôn pháp, hành
giả không dính mắc hai bên; từ đó nhận ra Mâu-ni tịch tĩnh, tức Pháp thân
thường trụ.
Một số bản kinh chúng ta vừa khảo sát, cho thấy một điều quan
yếu: Dù đức Phật dùng phương tiện gì, dùng cách diễn đạt nào, dùng tên gọi ra
sao, cũng chỉ có một chủ đích duy nhất: chỉ cho thính chúng nhận được bản tâm
tịch tĩnh hằng giác của mỗi người. Bản tâm vốn sẵn đủ, không có hình tướng,
trùm khắp pháp giới, tĩnh lặng mà chiếu soi. Vì không hình tướng nên không
chuyển dịch theo không gian và biến đổi theo thời gian; vì trùm khắp nên không
đến không đi; vì tĩnh lặng mà chiếu soi nên không có gì là chẳng biết. Ðức Phật
dùng rất nhiều tên để gọi và nhiều lời để diễn tả, chỉ vì quá từ bi, muốn chúng
sanh bước đầu làm quen với một cái không tên và không diễn tả được bằng lời.
Sau này, các vị Thiền sư tùy duyên mà sử dụng mọi phương tiện khác nhau, cũng
chỉ nhằm mục đích giúp môn đệ nhận ra bản tâm ấy.
3. Thiền Ðốn ngộ:
Ðoạn vấn đáp sau đây giữa một Thiền khách với Quốc sư Huệ Trung có thể tóm lược toàn bộ pháp tu của nhà Thiền:
Tăng hỏi( H): Làm sao được tương ưng?
Quốc sư đáp( Ð): Chẳng nghĩ thiện ác, tự thấy Phật tánh.
H: Thế nào là Phật?
Ð: Tức tâm là Phật
H: Tâm có phiền não chăng?
Ð: Tánh phiền não tự lìa.
H: Chẳng rơi vào đoạn diệt sao?
Ð: Ðoạn phiền não là Nhị thừa, phiền não chẳng sanh gọi là Ðại Niết-bàn.
H: Ngồi thiền, quán tịnh, việc ấy thế nào?
Ð: Vốn chẳng nhơ sạch, đâu cần khởi tâm quán tướng tịnh.
H: Tức tâm là Phật, có cần tu muôn hạnh chăng?
Ð: Chư Phật đều đủ Phước và Trí trang nghiêm, đâu có bác không nhân quả. “Chẳng nghĩ thiện ác, tự thấy Phật tánh” là yếu chỉ Thiền Tông, theo tinh thần của Lục Tổ khai thị cho Thượng Tọa Huệ Minh thuở trước. Thiện-ác là tượng trưng cho tất cả tâm phân biệt hai bên(phải-trái, tốt-xấu, đúng-sai, hay-dở...). Do phân biệt nên có ưa ghét, của ta của người... Ðây là đầu mối của sanh tử. Tâm thường lặng lẽ, không dính mắc, luôn tỉnh luôn giác, ấy là Phật tánh tự hiển bày. Tâm ấy tức Phật, chẳng phải tìm cầu bên ngoài.
Ðoạn vấn đáp sau đây giữa một Thiền khách với Quốc sư Huệ Trung có thể tóm lược toàn bộ pháp tu của nhà Thiền:
Tăng hỏi( H): Làm sao được tương ưng?
Quốc sư đáp( Ð): Chẳng nghĩ thiện ác, tự thấy Phật tánh.
H: Thế nào là Phật?
Ð: Tức tâm là Phật
H: Tâm có phiền não chăng?
Ð: Tánh phiền não tự lìa.
H: Chẳng rơi vào đoạn diệt sao?
Ð: Ðoạn phiền não là Nhị thừa, phiền não chẳng sanh gọi là Ðại Niết-bàn.
H: Ngồi thiền, quán tịnh, việc ấy thế nào?
Ð: Vốn chẳng nhơ sạch, đâu cần khởi tâm quán tướng tịnh.
H: Tức tâm là Phật, có cần tu muôn hạnh chăng?
Ð: Chư Phật đều đủ Phước và Trí trang nghiêm, đâu có bác không nhân quả. “Chẳng nghĩ thiện ác, tự thấy Phật tánh” là yếu chỉ Thiền Tông, theo tinh thần của Lục Tổ khai thị cho Thượng Tọa Huệ Minh thuở trước. Thiện-ác là tượng trưng cho tất cả tâm phân biệt hai bên(phải-trái, tốt-xấu, đúng-sai, hay-dở...). Do phân biệt nên có ưa ghét, của ta của người... Ðây là đầu mối của sanh tử. Tâm thường lặng lẽ, không dính mắc, luôn tỉnh luôn giác, ấy là Phật tánh tự hiển bày. Tâm ấy tức Phật, chẳng phải tìm cầu bên ngoài.
Thượng tọa
Bằng-Nhan một hôm tham vấn Thiền-sư Thần Lộc:
- Thế nào là tâm xưa nay?
Sư gọi:
- Bằng Nhan!
Thượng tọa Nhan ứng thinh:
- Dạ.
Sư bảo:
- Cùng lão tăng uống trà đi!
“Tâm xưa nay” ở chỗ lời gọi tên Bằng-Nhan hay ở chỗ uống trà? Nếu khéo từ cửa Quan Âm thể nhập tự tánh, thì có thể cùng Thiền sư uống trà Triệu Châu. Nếu mờ mịt chẳng hiểu gì, đã bị đầu lưỡi Hòa thượng lừa, dẫn đi xa tít.
- Thế nào là tâm xưa nay?
Sư gọi:
- Bằng Nhan!
Thượng tọa Nhan ứng thinh:
- Dạ.
Sư bảo:
- Cùng lão tăng uống trà đi!
“Tâm xưa nay” ở chỗ lời gọi tên Bằng-Nhan hay ở chỗ uống trà? Nếu khéo từ cửa Quan Âm thể nhập tự tánh, thì có thể cùng Thiền sư uống trà Triệu Châu. Nếu mờ mịt chẳng hiểu gì, đã bị đầu lưỡi Hòa thượng lừa, dẫn đi xa tít.
Vậy thì, tìm
giác ngộ ở đâu? Thiền Ðốn Ngộ chủ trương chỉ thẳng tâm người ngay thực tại hiện
tiền, tác động vào sáu căn. Quá khứ là những gì đã qua, tương lai thì chưa đến,
đều không thực có. An trú trong hiện tại, chánh niệm tỉnh giác trong mọi nơi
chốn, mọi thời khắc, mới khế hợp với tâm Thiền.
Thế nào là “Tánh phiền não tự lìa”? Hoàng-Bá-Hy-Vận trong Uyển
Lăng lục đã nói: “Ngay khi ông biết vọng khởi, biết ấy chính là Phật”. Tâm biết
có vọng, biết có phiền não là tâm hằng hữu tỉnh giác. Phiền não là khách, tự
đến tự đi; tâm tỉnh giác là chủ, chẳng sanh chẳng diệt. Nếu thấy có phiền não
để đoạn, Niết-Bàn để chứng, đó là cái thấy hai bên của Nhị Thừa. Không sanh
không diệt, không đến không đi là Ðại Niết-Bàn, là Như Lai không từ đâu đến,
chẳng đi về đâu.
Lời Quốc Sư đáp lại câu hỏi: “Ngồi thiền quán tịnh...” khiến
chúng ta nhớ đến câu chuyện mài gạch không thành gương của Ngài Nam Nhạc, lúc
khai thị cho Mã Tổ Ðạo Nhất: “Ông học ngồi thiền hay học ngồi Phật? Nếu học
ngồi thiền, thiền chẳng phải ngồi nằm. Nếu học ngồi Phật, Phật không tướng cố
định, không trụ các pháp, cũng chẳng lấy bỏ. Nếu chấp tướng ngồi, chẳng đạt lý
kia”. Nếu đã sống bằng tâm Thiền, thì mọi giờ phút, mọi oai nghi đều là Thiền,
không chỉ có tướng ngồi. Bản tâm luôn thanh tịnh, không một vật thì không có
nhơ sạch, vốn tự tánh định, tự tánh huệ. Nếu khởi quán tịnh tức có phân chia
năng quán sở quán, ấy đã xa rời tự tánh.
Ở đây, chúng ta cần lưu ý một điều: Hiểu theo lý, Phật tánh sẵn
đủ ở muôn loài, không phải tìm cầu mới thấy. Chúng sanh do quên tánh giác nên
tạo nghiệp và trầm luân; nếu thầm nhớ và sống với tánh giác thì đồng đẳng với
chư Phật. Vậy, mê (quên) là chúng sanh, ngộ (nhớ) là Phật, thật là đơn giản! Do
hiểu quá dễ dàng và đơn giản như thế, chúng ta cứ ngỡ thành Phật tác Tổ là chuyện
một sớm một chiều. Từ đó không tinh cần công phu, bài bác lý nhân quả, xem
thường muôn hạnh. Ðây là điều lầm lẫn lớn lao!
Trong thời đại khoa học kỹ thuật tiên tiến, trí thông minh của
con người cũng phát triển. Chúng ta dễ dàng được đọc, được nghe rất nhiều kinh
lục và lời giảng của các bậc cao tăng. Chúng ta dễ dàng thấu hiểu những vấn đề
uyên áo tế nhị của Thiền gia, mà người xưa đôi khi mất một thời gian dài mới
lãnh hội được. Chúng ta cũng dễ dàng rõ biết mình có tánh giác bản lai, và biết
nhiều phương tiện thể nhập tự tánh. Nhưng đó chỉ là kết quả của suy luận, phân
tích, tư duy nhờ ý thức, nên lúc nhớ lúc quên; lúc vô sự tưởng mình là Thánh,
khi có chuyện bất như ý xảy ra thì mình vẫn là một chúng sanh với đầy đủ phiền
não mê lầm! Ngài Nam-Nhạc Hoài-Nhượng là bậc tu hành chân chính, đã có chỗ giải
ngộ nơi Quốc sư An. Thế mà, để trả lời câu hỏi của Lục Tổ: “Ðem vật gì đến? ”,
Ngài phải mất đến 8 năm ôm ấp mối nghi, mới thưa được một lời:
- Nói giống một vật tức chẳng trúng
- Nói giống một vật tức chẳng trúng
Vấn đề cốt lõi ở đây là, tám năm trời ròng rã, Ngài chỉ chuyên
chú với một nghi tình duy nhất cho đến khi bùng vỡ. Phải có sự trực nhận bằng
trực giác mới có chuyển hóa tận gốc rễ, mới hoàn toàn sống được với bản tâm,
mới có thể một bước không lìa. Cho nên, khi Lục Tổ hỏi câu thứ hai: “Có tu
chứng chăng? ”, Ngài trả lời ngay: “Tu chứng chẳng phải không, nhiễm ô không
thể được”. Bản tánh thanh tịnh vốn sẵn đủ, vốn chẳng thể nhiễm ô, nhưng phải có
công phu tu trì miên mật mới mong có kết quả.
Khi đã kiến tánh, tức mới đi được nửa đoạn đường. Việc tu hành
đã nhẹ nhàng, nhưng cũng phải tinh cần bào mòn tập khí, chuyên tu muôn hạnh.
Người xưa có câu “Thật tế lý địa bất thọ nhất trần, Vạn hạnh môn trung bất xả
nhất pháp”. Tuy trong lý chân thật không nhận một mảy trần, nhưng trong cửa
muôn hạnh thì chẳng từ một pháp nào. Ðây là ý nghĩa của Phước-Huệ song tu.
Phước đức sung mãn, hành giả chuyển được nghiệp xấu, tránh bớt chướng duyên,
tạo điều kiện cho trí huệ tăng trưởng. Càng có trí huệ, hành giả càng có cơ hội
thể nhập lý như thật. Ðức Phật được tôn xưng là Bậc Lưỡng túc tôn hay Minh Hạnh
túc, Vì Ngài đã thành tựu viên mãn Phước và Trí. Vì thế, những hàng hậu học
chúng ta, nếu tự xét thấy chưa đủ hai điều kiện trên, chớ vội bác không nhân
quả, làm người vô sự!
Và đây là hai câu nói của hai vị Thiền sư, có thể minh chứng cho
cái tri kiến qua từng giai đoạn trong đời tu: Thiền sư Duy Tín nói: “Trước ba
mươi năm, tôi thấy núi sông là núi sông. Khi gặp Thiện tri thức chỉ dạy, tôi
thấy núi sông không phải là núi sông. Sau ba mươi năm, tôi thấy núi sông vẫn là
núi sông.” Thiền sư Vân Môn đưa cây gậy lên trước chúng, bảo: “Phàm phu gọi nó
là thật, Nhị thừa phân tích gọi nó là không, Duyên giác gọi là huyễn có, Bồ-tát
thì đương thể tức không. Thiền gia thấy cây gậy nói là cây gậy, đi chỉ đi, ngồi
chỉ ngồi, không được động đến”. Phàm phu chưa biết đạo, sống trong mê mờ, nhận
cái giả cho là thật nên vướng kẹt vào các pháp. Vì thế, nhìn núi sông hay cây
gậy đều cho là thật có. Ðối với người tu, tùy công phu quán chiếu các pháp mà
có cái thấy khác nhau, dù tựu trung đều biết các pháp không thật. Hàng Thanh
Văn thấy các pháp vô thường, nay còn nhưng mai mất. Duyên Giác quán các pháp do
nhân duyên sanh, thấy chúng không có tự thể, nên là huyễn có. Các bậc Bồ-tát
thấu tột lý nhân duyên, nhận ra tự tánh không của các pháp nên ngay đó biết rõ
chúng là không. Cái thấy của Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ-tát đều thấu rõ bản
chất các pháp là vô thường, duyên sinh, vô ngã; nhưng các Ngài nhìn sự vật theo
khái niệm chủ quan của mình mà chối bỏ sự hiện hữu của các pháp.
Ðối với các Thiền sư, các Ngài nhìn muôn sự muôn vật bằng tâm
như như của chính mình. Ðây là cái thấy trong trạng thái vô tâm, không hủy
hoại, không sanh tâm trên các pháp, và trả các pháp về ngay bản vị của chúng.
Ðây là cái thấy trút sạch khái niệm vọng chấp, không phân biệt người thấy và
vật bị thấy. Ðây là cái thấy đúng như thực tại đang là, nên có tên “như thị
tri, như thị kiến”. Giai đoạn này được các Ngài diễn tả bằng vài từ tuy rất nhẹ
nhàng nên thơ “thấy cây gậy nói là cây gậy”, hoặc “thấy núi sông vẫn là núi
sông”, nhưng đã bao hàm đầy đủ ý nghĩa tâm chứng của mình!
Thiền là tâm của Phật, kinh là miệng của Phật. Ðức Phật tâm-khẩu
tương ưng, nên ý kinh không khác yếu chỉ của Thiền. Chúng sanh có tám vạn bốn
ngàn trần lao phiền não, thì Ðức Phật cũng có tám vạn bốn ngàn phương thuốc
điều trị, nên gọi Ngài là Bậc Vô Thượng Y Vương. Tuy nhiên, những phương thuốc
ấy chỉ trị được triệu chứng của bệnh; còn muốn điều trị tận gốc, tức dứt tuyệt
mối manh sinh tử, phải có loại thuốc đặc hiệu, độc đáo. Sau 49 ngày đêm thiền
định, Ðức Phật đã tìm ra loại thuốc ấy và đã trị lành bệnh cho mình. Sau đó,
như một người thầy tận tụy, Ngài dạy lại cho chúng sanh, không giấu giếm điều
gì. Rất nhiều môn đệ của Ngài, theo đúng lời Ngài dạy, cũng đã tự chữa khỏi bệnh,
thoát ly sanh tử. Chúng ta ngày nay, có những cơ sở để tin lời Phật dạy là chân
lý, tin con đường Ngài đi có thể đưa đến giác ngộ giải thoát, thì còn chần chờ
gì nữa mà không mau tiến bước theo lộ trình của Ngài?.
(tiếp theo)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét