Trang

Thứ Bảy, 6 tháng 4, 2013

Chuyện Hoang Đường Vụ Thảm Sát Ở Huế 68

http://www.nhandanvietnam.org/view.php?storyid=545
By Noam Chomsky and Edward S. Herman
Lê Hồng Phong dịch

Cả hai bản báo cáo của Saigon và của Pike đã gây nên một sự nghi ngờ về cơ bản của nguồn tin, về giọng điệu và vai trò của chúng trong một chiến dịch tuyên truyền mở rộng nhằm làm giảm đi ảnh hưởng của vụ thảm sát Mỹ Lai.

Tài liệu “Kinh tế chính trị về nhân quyền. (Tập I)
của Noam Chomsky và Edwards S. Herman
(xem bản Anh ngữ ở dưới)
Noam Chomsky   Edward S. Herman

Lời khẳng định thiết yếu về cuộc thảm sát ở Huế, khi chúng tôi nói về “cuộc tắm máu huyền thoại”, chúng tôi không hàm ý là không có sự giết chóc nào đã xẩy ra. Sự thật nó đã xẩy ra trên một quy mô đáng kể. Nhưng đối với chúng tôi những bằng chứng có tính cách thuyết phục thì thấy rằng hình như cốt lõi của sự thật đã bị méo mó, bị mô tả một cách sai lệch, bị thổi phồng, bị tô vẽ với những điều bịa đặt nhằm mục đích tuyên truyền.
Nói về những sự kiện, chúng tôi không có ý đưa ra một bản báo cáo miêu tả cuối cùng nào nhưng chỉ so sánh những bằng chứng có được với những lời giải thích của chính phủ và phương tiện thông tin rằng trong suốt một tháng chiếm đóng Huế trong cuộc tổng tấn công mùa Xuân năm 1968, “NLF” Mặt Trận Giải Phóng miền Nam (MTGPMN) và quân bắc Việt đã có chủ trương tập trung và giết hại hàng ngàn người dân theo một kế hoạch đã định trước và một "sổ đen” "blacklist" những người làm việc cho chính phủ hoặc đại diện cho “kẻ thù giai cấp” “class enemies”.
Những tài liệu căn bản bổ xung cho câu chuyện này gồm một bản báo cáo do chính phủ Saigon đưa ra và tháng 4/1968, một tài liệu lấy được và đã phổ biến trong công chúng của phái đoàn Hoa Kỳ vào tháng 11/1969, và một bài phân tách dài xuất bản năm 1970 của một nhân viên Phòng Thông tin “USIS” Douglas Pike. Cả hai bản báo cáo của Saigon và của Pike đã gây nên một sự nghi ngờ về cơ bản của nguồn tin, về giọng điệu và vai trò của chúng trong một chiến dịch tuyên truyền mở rộng nhằm làm giảm đi ảnh hưởng của vụ thảm sát Mỹ Lai. Nhưng quan trọng hơn nữa là những tài liệu này đã không có sự điều tra hay sự nghiên cứu tỉ mỉ.
Như trong trường hợp về cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu đã đề cập ở trên thì trong trường hợp này sự ước lượng về những nạn nhân của thảm sát của MTGPMN và VNDCCH tại Huế đã tăng vọt lên một cách đáng kể để đáp ứng lại với những nhu cầu chính trị bất ngờ đột xuất trong nước. Vào mùa thu năm 1969, đã xẩy ra ngẫu nhiên cùng thời gian với những nỗ lực của chính quyền Nic-xon nhằm làm cân bằng những ảnh hưởng của làn sóng những nỗ lực hoạt động hòa bình vào tháng 10 và tháng 11, và làm giảm đi sự tai tiếng của vụ thảm sát Mỹ Lai vào tháng 11/1969.
Ngay sau Tết Mậu Thân, Trưởng ty Cảnh sát Huế Đoàn Công Lập đã ước lượng con số nạn nhân bị thảm sát do “NLF” MTGPMN và VNDCCH gây ra là khoảng 200 người và những mồ chôn tập thể những quan chức địa phương và những thường dân khác là khoảng 300 người. Trong một bản báo cáo đưa ra cuối tháng 4/1968 do lực lượng tuyên truyền của chính phủ Saigon khẳng định rằng khoảng 1000 người đã bị Việt Cộng giết tại Huế và khoảng gần một nửa trong số nạn nhân đã bị chôn sống. Vì câu chuyện không được để ý đến, cho nên tuần (lễ) sau đó, đại sứ quán Hoa Kỳ đã đưa ra cùng một bản báo cáo và lúc ấy nó đã trở thành tin tức hàng đầu trên những tờ báo Mỹ.
Câu chuyện đã không được chất vấn mặc dầu không có nhà báo phương Tây nào đã được dẫn đến những mồ chôn tập thể khi các hố chôn đó được khai quật cả. Ngược lại một nhà nhiếp ảnh người Pháp Marc Riboud đã nhiều lần bị từ chối yêu cầu muốn đi xem một trong số địa điểm nơi mà ông tỉnh trưởng tuyên bố có 300 cán bộ chính phủ đã bị Việt cộng giết. Và rồi cuối cùng nhiếp ảnh gia này đã được máy bay đưa đến địa điểm ấy, nhưng viên phi công đã từ chối không chịu hạ cánh với lý do nơi đó không an toàn để hạ cánh.
Người tổ chức AFSC tại Huế cũng không thể khẳng định bản báo cáo về những hố chôn tập thể mặc dầu họ đã báo cáo có nhiều thường dân đã bị bắn và bị giết suốt cuộc tái chiếm thành phố.
Len Acklan, một nhân viên IV S tại Huế năm 1967 đã trở lại Huế vào tháng 4/1968 để điều tra, đã được nhân viên Việt Nam và Mỹ thông báo rằng khoảng 700 người đã bị VC giết. những cuộc đều tra rất chi tiết của ông đã bổ sung cho sự ước lượng này và cũng chỉ ra rằng những cuộc giết người chủ yếu gây ra do lực lượng của MTGPMN ở địa phương khi họ rút lui trong suốt chặng đường cuối cùng của cuộc chiến đẫm máu kéo dài một tháng.
Richard West, một người có mặt ở Huế ngay sau cuộc chiến đã ước tính “khoảng vài trăm người và một số ít người ngoại quốc” đã bị VC giết và đã suy đoán rằng những nạn nhân như kiểu nạn nhân vụ Mỹ Lai do lực lượng Mỹ và VN Cộng Hòa gây ra có thể đã bị chôn sống trong những hố tập thể.
Vào mùa thu 1969, một “tài liệu lấy được” đã được khám phá (tài liệu này đã nằm trong số hồ sơ chính thức trong vòng 19 tháng mà không được chú ý đến), trong đó kể địch “tự nhận” đã giết 2.748 người trong suốt chiến dịch ở Huế. Tài liệu này là nên tảng chính mà dựa trên đó câu chuyện về thảm sát ở Huế được xây dựng. vào lúc nó được tiết lộ cho báo giới thì tháng 11/1969, Douglas Pike đã đưa ra câu chuyện về vụ thảm sát theo yêu cầu của Đại sứ Ellsworth Bunker. Pike, một người vận động chuyên nghiệp của giới thông tin đại chúng, nhận ra rằng những phóng viên Mỹ rất thích “tài liệu” này, cho nên ông đã phát hành tài liệu này. Ông cũng biết không nhà báo nào hiểu được tiếng Việt nên những tài liệu này đã được dịch và xây dựng lại để phù hợp với những yêu cầu của một cuộc thảm sát. Ông cũng biết rằng không có nhà báo nào thắc mắc về tính xác thực của ông và tự lượng giá để tìm ra những bằng chứng. Vì rằng trong lúc này những tài liệu bị cố tình làm sai lạc về VN rất cần. Vụ Mỹ Lai đã bị đổ bể và những hoạt động vì hòa bình có tổ chức vào mùa thu năm 1969 đã gia tăng. Pike đã đứng (?) về vấn đề này.
Để những “hồ sơ lấy được” sang một bên, chi tiết có tính cách thuyết phục về cuộc thảm sát là việc tìm ra những hố chôn tập thể. Nhưng những bằng chứng này đã không đủ thuyết phục như những tài liệu đã được sắp xếp trên. Một sự khó khăn cơ bản đã xẩy ra từ sự việc rằng số đông thường dân bị giết chết trong cuộc chiếm lại thành phố Huế bởi đạn pháo kích của Mỹ và Nam VN được bắn một cách bừa bãi. David Douglas Duncan, một nhà nhiếp ảnh chiến trường nói về cuộc tái chiếm rằng đó là “một sự nỗ lực dốc hết sức để loại bỏ bất cứ một kẻ địch nào. Tâm trí tôi bấn loạn trước cuộc tàn sát.Một nhà nhiếp ảnh khác, viết rằng hầu hết các nạn nhân “đã bị giết bởi bom đạn được bắn một cách kinh hoàng chưa từng thấy của Mỹ”. Robert Shaplen viết về lúc đó “Không có gì trong cuộc chiến ở Triều Tiên và Việt Nam khi nói về sự tàn phá, mà tôi thấy kinh hoàng bằng những điều tôi thấy được ở Huế năm ấy. Trong số 17.134 nhà thì 9.776 ngôi nhà đã hoàn toàn bị phá hủy và 3.169 ngôi nhà bị thiệt hại khá trầm trọng.
Sự ước tính đầu tiên của Nam Việt Nam về số thường dân bị giết trong cuộc chiến lúc giao chiến trong suốt cuộc tái chiếm thành phố là 3.776 người. Townsend Hoopes, Phó tham mưu trưởng không quân (Under-secretary of the Air Forces) vào lúc bấy giờ nói rằng trong nỗ lực tái chiếm thành phố, 80% dinh thự đã bị đổ nát và trong đống gạch vụn đó có khoảng 2000 thường dân bị chết. Con số thương vong do Hoopes và Saigon đưa ra đã vượt quá con số ước tính cao nhất về những nạn nhân của quân Bắc Việt và MTGPMN, bao gồm những viên chức chính quyền, điều này không phải là những sự bịa đặt tuyên truyền có thể chứng minh được. Theo Oberdofer, thủy quân lục chiến Mỹ đưa ra những tổn thất của CS khoảng 5000 người trong khi đó Hoopes nói rằng thành phố bị 1000 quân CS chiếm đóng, nhiều người trong số họ đã trốn thoát, điều này đưa ra giả thuyết là phần lớn những người chết là thường dân bom đạn Mỹ.[*]
Một số thường dân bị chết vì cuộc tấn công của Mỹ đã được quân của Mặt Trận chôn tập thể cùng với những du kích bị thiệt mạng về phía của họ. (theo nguồn tin của quân Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) và một số lớn thường dân bị “quân đồng minh chôn sống” (mass graves by the “allies”) MTGPMN đã khẳng định đã chôn cất 2000 nạn nhân của cuộc chiếm đóng thành phố” đã được khám phá trong những mồ chôn tập thể. Oberdorfer nói rằng 2000 nạn nhân của những cuộc chiếm đóng thành phố” đã được khám phá trong những mồ chôn tập thể nhưng ông đã không đưa ra lý do để tin rằng đây là những nạn nhân của cuộc thảm sát của Bắc Việt và MTGPMN hơn là những người chết do bom Mỹ. Ông dường như đã tin hoàn toàn vào những lời khẳng định của bộ tuyên truyền – Fox Butterfiedd, trên tờ New York Times số ra tháng 4/1975 lại đặt 3000 thi thể trong hố chôn duy nhất! Samuel Adams đã từng là nhà phân tích của CIA, viết trên tạp chí Wall Street số ra 26/3/1975 rằng con số ước lượng về số người chết của Nam Việt Nam và Cộng sản như trùng hợp nhau”. Saigon nói đã đào lên được 2800 thi thể, một bản báo cáo của Công an Việt Cộng cũng đưa ra những con số khoảng 3000” Không có bản báo cáo của công an nào nói như thế được biết đến. Và đối với ông Adams, ông rõ ràng không nghĩ rằng có thể con số 2800 người đã được thay đổi theo yêu cầu của bản tài liệu dịch sai.
Một đặc điểm đáng lưu ý về những hố chôn tập thể là những nhà báo độc lập không hề được phép có mặt tại hiện trường và họ rất khó xác định chỗ chính xác nơi những hố chôn tập thể mặc dầu đã nhiều lần yêu cầu được đến xem. Một trong những tác giả đã nói chuyện với một binh sĩ thủy quân lục chiến có mặt tại buổi khai quật công khai đầu tiên cho rằng những phóng viên có mặt lúc đó là những người đáng tin cậy đuợc lựa chọn một cách cẩn thận và rằng những thi thể không được kiểm tra. Ông còn nhận xét rằng những dấu vết ở hiện trường chứng tỏ đã xử dụng xe ủi đất (cái này Việt Cộng không có). Có lẽ chỉ có những bác sĩ phương tây xem xét những mồ chôn – Alje Vennema, một bác sĩ người Canada, nhận thấy rằng con số nạn nhân trong hố chôn tập thể mà ông đã xem xét đã bị Mỹ và Saigon thổi phồng lên gấp 7 lần.
Con số 68 người đã được báo cáo là 477 người, hầu hết trong số họ đã bị thương và dường như là nạn nhân trong lúc giao chiến. Hầu hết các nạn nhân mặc đồ quân phục.
Rất ít người để ý đến giả thuyết rằng những nạn nhân ở Huế không phải do Bắc Việt hay bom đạn Mỹ mà do quân đội Saigon khi tái chiếm thành phố. Nhiều người thân Công đã lộ dạng trong suốt cuộc tổng tấn công, và đã hợp tác với chính quyền địa phương do những người cách mạng ở Huế hình thành, hoặc bầy tỏ sự ủng hộ của họ đối với MTGPMN. Khi quân giải phóng rút đi, nhiều cán bộ và những người ủng hộ quân giải phóng kẹt lại ở thế rất nguy hiểm và họ trở thành nạn nhân của những sự trả thù của Saigon. Bằng chứng đã đuợc đưa ra ánh sáng rằng sự giết để trả thù trên quy mô lớn đã xẩy ra ở Huế do lực lượng Saigon sau khi tái chiếm thành phố.
Trong một bài mô tả đầy sinh động, một nhà báo người Ý Oriana Fallaci, trích dẫn lời một linh mục Pháp ở Huế đã kết luận rằng: “Tất cả có khoảng 1100 người bị giết (sau ngày quân Saigon “giải phóng” thành phố)”. Hầu hết sinh viên, giáo viên đại học, tu sĩ, những nhà trí thức và tín đồ (religions people) ở Huế đã không bao giờ che đậy cảm tình của họ đối với quân giải phóng.
Trong bất cứ trường hợp nào, tình trạng rất lộn xộn về những sự kiện và bằng chứng cộng với những “chứng cứ” không thể tin được của Mỹ và Saigon, ít ra cũng có thể nói rằng “cuộc tắm máu” do quân giải phóng và quân Bắc Việt gây ra tại Huế đã được xây dựng trên những bằng chứng hời hợt. Và dường như rất có thể những bom đạn Mỹ “cứu” dân Việt Nam đã giết nhiều thường dân hơn là quân giải phóng và Bắc Việt đã làm. Cũng có thể sự thanh toán mang tính chính trị của chính quyền Saigon đã vượt quá bất cứ cuộc thảm sát nào của quân giải phóng và Bắc Việt ở Huế. Bằng chứng cho thấy rằng đa số cảnh sát, công chức và quân nhân ban đầu nằm trong danh sách “cải tạo” hơn là trừ khử, nhưng số người bị giết tăng lên vì áp lực quân sự về phía MTGPMN và Bắc Việt tăng lên. Có một điều đáng lưu ý, như trường hợp cải cách ruộng đất, lực lượng quân giải phóng của Mặt Trận khi rút lui đã bị cấp trên kiểm điểm một cách gay gắt vì đã đi quá giới hạn và làm tổn thương cách mạng. Cho đến nay chúng tôi không hề nghe bất cứ một lời tự phê bình nào của Mỹ và cán bộ cao cấp của Saigon về sự giết hại của họ ở Huế.
…. Chúng tôi đã đề cập một vài trong số những hoạt động trắng trợn hơn nữa của bộ máy tuyên truyền Mỹ và Saigon. Phải cần nhấn mạnh rằng ngay những bản báo cáo hằng ngày đã xây dựng nhiều tin tức về vấn đề Đông Dương lẽ ra nên được xem xét với nhiều hoài nghi hơn.
Một nhà báo Nhật bản Katsuichi Honda một lần điều tra một bản báo cáo hàng tuần của Bộ Tổng thông tin của quân đội Mỹ ở Saigon nhan đề: ”Những Hoạt Động Khủng Bố của Việt Cộng”. Nghiên cứu một vụ mà ông đã quan tâm nhất, ông khám phá ra rằng sự khủng bố không chỉ kinh hoàng và dai dẳng xẩy ra thường xuyên, nó thật sự đã bị che đậy bằng hành động “kiểm soát tin tức” . Và xem ra những người bị giết không phải là nạn nhân của MTGPMN.
Dường như có vô số “sự việc kinh hoàng” đã được che đậy một cách bí mật sau sân khấu của cuộc chiến Việt Nam đang gia tăng. Ông khám phá ra rằng vụ ám sát 5 sinh viên Phật tử tình nguyện trước đây được công bố chính thức là nạn nhân của vụ khủng bố của Việt Cộng rõ ràng là do quân chính phủ gây ra. Trong một số trường hợp khác “những lính say rượu” cãi lộn nhau rồi ném lựu đạn vào một số thường dân qua đường bị chết. Trường hợp này cũng bị cáo giác là do Việt Cộng khủng bố.
Trong những vụ khác, sự thật đã phơi bày một cách tình cờ. Đề cập đến một ví dụ đặc biệt phi lý, kịch cỡm, tại nơi mà hài cốt của những nạn nhân vụ Mỹ Lai đã được chuyển về đã bị không lực Việt Nam Cộng Hòa và trận không kích phá hủy. Nhưng như thường lệ, vụ này cũng đổ cho Việt Cộng khủng bố. Sự thật đã được những người theo đạo Quaker ở trong vùng phanh phui ra.
Những ví dụ trên đây gợi lên một điều những bản báo cáo chính thức là những sự dối trá và lừa bịp và trong một vài trường hợp đã được thay đổi thành những câu chuyện hoang đường chính thức. Một kết luận quan trọng hơn nữa là rằng nguồn tin chính thức nói chung đã hạn chế phẩm chất một cách tối đa. Chúng nêu lên những vấn đề nhưng không đưa ra câu trả lời đáng tin cậy nào.
Tài liệu “Kinh tế chính trị về nhân quyền. (Tập I)
của Noam Chomsky và Edwards S. Herman
Lê Hồng Phong, dịch
NDVN, ngày 4/12/2007

LeHongPhong.php#oneChú thích của SH: Thứ Trưởng Không Quân Mỹ Townsend Hoopes viết trong cuốn The Limits of Intervention, trang 141, về quân đội Mỹ và VNCH đã làm gì ở Huế, tàn sát bao nhiêu dân, phá hủy bao nhiêu nhà cửa v…v.. “80 phần trăm nhà cửa bị phá hủy thành đống gạch vụn, và dưới những đống gạch vụn đó là 2000 thường dân bị chết (vì bom đạn của Mỹ và VNCH). Ba phần tư dân chúng trở thành vô gia cư và cướp bóc lan tràn, những quân sĩ thuộc quân lực VNCH là những kẻ tệ nhất” (Eighty percent of the buildings had been reduced to rubble, and in the smashed ruins lay 2.000 dead civilians. Three-quarters of the city’s people were rendered homeless and looting was widespread, members of the ARVN being the worst offenders)].

Những bài cùng đề tài Mậu Thân:


“The Political Economy of Human Rights – Volume I”
By Noam Chomsky and Edward S. Herman
Black Rose Book, Montréal,1979 - 5.2.3 The Hue Massacre of 1968 (Excerpts)
The essential claim of the myth of the Hue massacre (see note 157 : When we speak of “mythical Bloodbath” we do not mean to imply that no killings took place. In fact they did, on a considerable scale. But the evidence seems to us decisive that the core of truth was distorted, misrepresented, inflated and embellished with sheer fabrication for propaganda purposes. As for the events themselves, we are not attempting to offer any definitive account, but rather to compare the evidence available with its interpretation by government and the media.) Is that during their month – long occupation of Hue at the time of the Têt offensive o f 1968, NLF and North Vietnamese forces deliberately, according to an advance plan and ‘blacklist’, rounded up and murdered thousands of civilians, either because they worked for the government of represented “class enemies.’ The basic documentation supporting the myth consists of a report issued by the Saigon government in April 1968, a captured document made public by the US Mission in November 1969, and a long analysis published in 1970 by USIS employee Douglas Pike. Both the Saigon and Pike reports should have aroused suspicions on the basis of their source, their tone, and their role in an extended propaganda campaign, timed in the latter case to reduce the impact of the My Lai massacre. But, even more important, the substance of these documents does not withstand scrutiny. *
As in the case of the land reform bloodbath myth just discussed, official estimates of alleged NLF-DRV killings of civilians at Hue escalated sharply in response to domestic political contingencies, in this case, in the fall of 1969, coincident with the Nixon administration’s attempt to offset the effects of the October and November surge of organized peace activity and to counteract the exposure of the My Lai massacre in November 1969. Shortly after the Tet offensive it self, Police Chief Doan Cong Lap of Hue estimated the number of NLF-DVR killings at about 200, * and the mass grave of local officials and prominent citizens allegedly found by the Mayor of Hue contained 300 bodies.
(The authenticity of these numbers and responsibilities for these bodies is debatable, as is discussed below.) In a report issued in late April 1968 by the propaganda arm of the Saigon government, it was claimed that one thousand executions had been carried out by the Communists in and around Hue, and that nearly half of the victims had been buried alive. Since the story was ignored, the US embassy put out the same report the following weeks, and this time it was headlined in the US papers. The story was not questioned, despite the fact that NO WESTERN JOURNALIST HAD EVER BEEN TAKEN TO SEE THE GRAVE SITES WHEN THE BODIES WERE UNCOVERED. On the contrary, French photographer Marc Riboud WAS REPEATEDLY DENIEDPERMISSION TO SEE ONE OF THE SITES where the province chief claimed 300 civilian government workers had been executed by the Communists. When he was taken by helicopter to the alleged site, the pilot refused to land, claiming the area was ‘insecure.’ *
AFSC staff people in Hue were also unable to confirm the report of mass graves, though they reported many civilians shot and killed during the reconquest of the city.*
Len Ackland, an IVS worker in Hue in 1967 who returned in April 1968 to investigate, was informed by US and Vietnamese officials that about 700 Vietnamese we re killed by the Viet Cong, an estimate generally supported by his detailed investigations, which also indicate that the killings were primarily by local NLF forces during the last stages of the bloody month-long battle as they were retreating.* Richard West, who was in Hue shortly after the battle, estimated ‘several hundred Vietnamese and a handful of foreigners ‘ killed by Communists and speculated that victims of My Lai style massacre by the US-ARVN forces might have been among those buried in the mass grave. *
In the fall of 1969 a ‘captured document’ was discovered that HAD BEEN MYSTERIOUSLY SITTING IN THE OFICIAL FILES FOR 19 MONTHS, in which the enemy allegedly ‘admitted’ having killed 2,748 persons during the Hue campaign. This document is the main foundation on which the myth of the Hue massacre was constructed. At the time it was released to the press, in November 1969, Douglas Pike was in Saigon to push the Hue massacre story, at the request of Ambassador Ellsworth Bunker. Pike, an expert media manipulator, recognized that the American reporters love “documents,” do he produced documents. He also knew that virtually none of these journalists understood Vietnam e se, so that documents could be translated and reconstructed to con form with the requirements of the massacre. He also knew that few journalists would challenge his veracity and independently assess and develop evidence, despite the long record of official duplicity on Vietnam and the coincidence of this new document with official public relations needs of the moment.* - the My-Lai story had broken, and organized peace activity in the fall of 1969 was intense. Pike was correct on this point also, and the few indications of skepticism by foreign reporters were not allowed to interfere with the institutionalization of the official version.
… Apart from the “captured documents,” the most persuasive support for the alleged massacre from the findings of mass grave – but this evidence is as unconvincing as the managed documents. A fundamental difficulty arises from the fact that large numbers of civilians were killed in the US-Saigon recapture of Hue by the massive and indiscriminate use of firepower. David Douglas Duncan, the famous combat photographer, said of the recapture that it was a “total effort to root out and kill every enemy soldier. The mind reels at the carnage, cost and ruthlessness of it all’.* Another distinguished photographer, Philip Jones Griffiths, wrote that most of the victims “were killed by the most hysterical use of American firepower eve r seen” and were THEN DE SIGNATED “AS THE VICTIM S OF A COMMUNIST MASSACRE.” * Robert Shaplen wrote at the time : “Nothing I saw during the Korean war, or in the Vietnam war so far has been as terrible, in terms of destruction and despair, as what I saw in Hue.”* Of Hue’s 17,134 houses, 9,776 were completely destroyed.” And 3,169 more were officially classified as ”seriously damaged.” The initial official South Vietnamese estimate of the number of civilians killed in the fighting during the bloody reconquest was 3,776.* Townsend Hoopes, Undersecretary of the Air Force at the time, stated that in the recapture effort 80% of the buildings were reduced to rubble, and that “in the smashed ruins lay 2,000 dead civilians…”* The Hoopes and Saigon numbers exceed the highest estimates of NLF-DRV killings, including official ones, that are not demonstrable propaganda fabrications. According to Oberdorfer, the US Marines put Communist losses at more than 5000, while Hoopes states that the city was captured by a Communist force of 1000, many whom escaped – SUGGESTING AGAIN THAT MOST OF THE KILLED WERE CIVILIAN VICTIMS OF US FIREPOWER.
Some of the civilians casualties of this US assault were buried in mass graves by the NLF along side their own casualties (according to NLF-DRV sources), and a large number of civilians were bulldozed into mass graves by the ‘allies.” * The NLF claim to have buried 2000 victim s of the bombardment in mass graves.* Oberdorfer says that 2800 “victims of the occupation” we re discovered in mass graves, but he gives no reason for believing that the se we re victims of the NLF-DRV “political slaughter” rather than people killed in the US bombardment He seems to have relied entirely on the assertions of the Ministry of Propaganda. Fox Butterfield, in the NEW YORK TIMES of 11 April 1975, even places all 3,000 bodies in a single grave! Samuel Adams, a former analyst with the CIA, wrote in the WALL-STREET-JOURNAL of March 26, 1975 that “South Vietnamese and Communist estimates of the dead coincide almost exactly. Saigon says it dug up some 2,800 bodies; a Viet Cong police report puts the number at about 3,000.” There are no known “police report” that say any such thing; and it is apparently never occurred to Adams that the 2,800 figure might have been adjusted to the needs of the mistranslated document.
An interesting feature of the mass grave, as noted earlier, is that INDEPENDENT JOURNALISTS WERE NEVER ALLOWED TO BE PRESENT AT THEIR OPENING, AND THAT THEY HAD DIFFICULTY LOCATING THEIR PRECISE WHEREABOUTS DESPITE REPEATED REQUESTS.” One of the author spoke with a US Marine present at the first publicized grand opening, who claims that the reporters present were carefully hand-picked reliable, THAT THE BODIES WERE NOT AVAILABLE FOR INSPECTION, and that he observed TRACKS AND SCOUR MARKS INDICATIVE OF THE USE OF BULLDOZERS (ưhich the DRV and NLF did not possess).* Perhaps the only Western physician to have examined the graves, the Canadian Dr. Alje Vennema, found that the number of victims in the graves he examined were INFLATED IN THE US-SAIGON COUNT BY OVER SEVENFOLD, totaling only 68 in stead of the officially claimed 477, that most of the bodies had wounds and appeared to be victims of the fighting, and that most of the bodies he saw were clothed in MILITARY UNIFORMS.*
Little attention has been paid to the possibility that massacre victims at Hue may have been killed neither by the NLF-DVR, but rather by the returning Saigon military and political police’ Many NLF sympathisers “surfaced” during the Tet Offensive, cooperated in the provisional government formed by the revolutionaries in Hue, or otherwise revealed their support for the NLF. With the retreat of the NLFV forces from Hue in 1968 many cadres and supporters were left in a vulnerable position a potential victims of Saigon retribution. Evidence has come to light that the large scale retaliatory killing may have taken place in Hue by the Saigon forces AFTER its recapture. In a graphic description, Italian journalist Oriana Fallaci, citing a French priest from Hue, concluded that :” Altogether, there have been 1,000 killed (after “liberation” by Saigon forces). Mostly students, university teachers, priests. Intellectuals and religious people at Hue have never hidden their sympathy for the NLF.”*
…. In any case, given the very confused state of events and evidence plus the total unreliability of US-Saigon ”proof”, at a minimum it can be said that the NLF-DRV “bloodbath” at Hue was constructed on flimsy evidence indeed. It seems quite likely that U S firepower “saving” the Vietnamese killed many more civilians than did the NLF and DRV. It I s al so not unlikely that political killing s by the Saigon autho ritie s e xce ed any ma ssac re s by the NLF and DRV at Hue. The evidence indicates that “the vast majority of policemen, civil servants, and soldiers were initially on “reeducation” rather on the liquidation lists, but the number of killings mounted as military pressure of the NLF and North Vietnamese mounted.”* It is also of interest here, as in the land reform case, that the retreating Front forces “were severely criticized by their superiors for excesses which hurt the revolution’.* We have not yet heard of any such self-criticisms coming from US and Saigon superiors for their more extensive killing at Hue.
…. We have discussed several of the more blatant exercices of the US-Saigon propaganda machines, but it must be emphasized that even their day-to-day reports, which constituted the great mass of information about Indochina, should have been treated with comparable skepticism. On the rare occasion when competent reporters made serious investigations, the information presented by U S and Saigon sources turned out to be no less tainted. The Japanese reporter Katsuichi Honda once undertook to investigate the weekly report of the General Information Bureau of the US Army in Saigon entitled “Terrorist Activities by Viet Cong.” Pursuing “one isolated case” that interested him, he discovered that not only was amazingly brutal and persistent terrorism occurring regularly, it was actually being shielded from public scrutiny by Saigon’ s information control.” It soon appeared that the murders were not done by the NLF at all. There were, it seemed, innumerable “terrible facts” which had been secretly hushed up behind the scenes of the intensifying Vietnam war.*
In the case in question, he discovered that the assassination of five Buddhist student volunteers, officially victims of Viet Cong terror, had apparently been carried out by government forces. In another case, “drunken soldiers of the government quarreling among themselves threw grenades, and some civilian bystanders were killed,” the case again being reported “as another instance of “Viet Cong terrorism.”
In others cases, the facts have emerged only by accident. To mention one particularly grotesque example, the camp where the remnants of the My Lai massacre had been relocated was largely destroyed by ARVN air and artillery bombardment in the spring of 1972. The destruction was attributed routinely to Viet Cong terror. The truth was revealed by Quaker service worker s in the area.*
These examples point up the fact that in the instances in questions the official reports were lies and deceptions, and in some cases were converted into official myths; the more important conclusion is that official sources in general have extremely limited credibility. They raise questions, but provide no reliable answer.
Note: All the * in the text refer to supportive documents.

Đọc thêm: The Myth of the Massacre
http://www.chss.montclair.edu/english/furr/Vietnam/huemyth/mythofhuemassacre.pdf

Đôi điều với Liên Thành về "Biến Động Miền Trung”

Trần Kiếm Đoàn


Sau hơn 30 năm ra nước ngoài im hơi lặng tiếng, gần đây ông Liên Thành (xin viết tắt là LT), cựu thiếu tá trưởng ty cảnh sát Thừa Thiên Huế, viết hồi ký nói lên những gì ông biết về tình hình chiến tranh, chính trị và xã hội tại Miền Trung Việt Nam trong khoảng thời gian từ 1963 đến 1975.
Được tin LT sẽ ra mắt sách tại Sacramento, thành phố thủ phủ tiểu bang California vào đầu tháng 11 năm 2009. Đang là một cư dân tại thành phố nầy, tôi xin gởi lời chào LT, một đồng hương xứ Huế và cũng người đồng trang lứa với tôi. Trước cùng lớn lên và đã sống hơn nửa đời trong khung trời Huế và nay trong cảnh “tha hương ngộ cố tri!”
Tập sách “Biến Động Miền Trung” (viết tắt BĐMT) và những bài viết của LT về một số nhân vật thành danh xứ Huế đã tạo nhiều dư luận xôn xao trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Xôn xao, bởi vì về mặt tâm lý, khát vọng lý giải hậu quả bi thảm của cuộc chiến Việt Nam đã trở thành một nỗi ám ảnh thường trực và chung thân đối với tập thể người Việt tỵ nạn ở nước ngoài. Sự phân định, xác quyết, chỉ danh điểm mặt hai tuyến nhân vật thiện–ác, chánh–tà trong cuộc tương tranh ba mươi năm đầy máu lệ là một nhu cầu tình cảm, tâm lý và tri thức của cả một thế hệ đang lần bước đến tuổi già, đang từng tháng, từng ngày thay phiên nhau về đất.
Trong một tiến trình truy tìm bằng chứng, phân tích, lý giải để tìm câu trả lời cho một vấn đề, nếu chỉ đứng về mặt phương pháp luận thì Đông – Tây rất khác nhau.
Người phương Tây thiên về lý, phương Đông ta thiên về tình; phương Tây thường lý luận và chứng minh bằng dữ kiện khách quan độc lập, phương Đông ta thường suy diễn bằng cảm nhận và kinh nghiệm chủ quan tập thể. Xác định điều nầy để nói lên sự dè dặt và cẩn trọng cần thiết về tính khả tín – mức độ đáng tin cậy – khi đọc và tìm hiểu một bản tin thời sự hay một tác phẩm liên quan đến tình hình thời cuộc như LT và BĐMT.
Qua những điều LT đã viết và đã nói trên đài phát thanh, trong các buổi hội luận thì chi tiết nầy kia có chỗ khác nhau, nhưng nội dung và chủ đích chỉ có 3 điều nổi rõ hơn cả:
Thứ nhất, LT đã cố gắng tạo ra một bối cảnh xuất thân đầy sôi động về vai trò và quyền lực cá nhân trong vị thế trưởng ty cảnh sát Thừa Thiên Huế quá nhỏ bé và giới hạn của bản thân mình trong bối cảnh chung của toàn đất nước bằng một thế giới thiên hình vạn trạng của lĩnh vực “tình báo”. Đó là một thế giới của mê hồn trận mà trong lịch sử chiến tranh và chính trị kim cổ, cho đến nay, con người vẫn còn hoang mang trong vấn nạn nhiều hơn là giải đáp vì nó dày đặc huyền thoại nhiều hơn là dữ kiện.
Thứ hai, LT đã cố ý cột buộc và đồng hóa phong trào đấu tranh Phật giáo 1963 và các hoạt động của Phật giáo trở về sau đều là cộng sản. Theo ông, các nhà sư Phật giáo trong hàng giáo phẩm lãnh đạo phong trào là đảng viên cộng sản. Từ đó, LT suy luận và diễn giải rằng, các sinh hoạt Phật giáo có liên quan gián tiếp hay trực tiếp với một tình hình xã hội miền Nam thời chiến đầy biến động là do Cộng sản Việt Nam (CSVN) điều khiển, giật giây. Tự phong cho mình vai trò phán quan của một kiểu tòa án mặt trận thời chiến pha trộn với hình thức ngôn ngữ của các cuộc đấu tố, LT cho mình quyền tự do mạ lỵ không tiếc lời các đối tượng mà ông đã “phán” là cộng sản.
Thứ ba, LT đã tự mình, cùng lúc, đứng ra làm thủ lãnh, chứng nhân, nạn nhân, quần chúng… của một thế giới ma để ông tha hồ gắn lên môi, lên mép, lên nhân dáng tưởng tượng của những người đã nằm im trong lòng đất những lời nói, ý tưởng, động thái, chứng tích không thể kiểm chứng và không còn ai đối chất. Từ đó, LT đã đơn giản yên trí rằng, ông đã “đả thông tư tưởng”, thuyết phục được độc giả và người nghe đứng về phía ông để cho đấy là “sử liệu sống” của thời nay.
Tìm hiểu phản ứng của một số người giới hạn có dùng internet và đọc sách báo tiếng Việt thuộc mọi thành phần xã hội, tôn giáo, có biết đến LT và BĐMT thì được biết thái độ của họ đã thể hiện trong nhiều cách thế khác nhau:
- Những người tin những điều ông nói là đúng sự thật và lên tiếng thì đứng khắp mọi phía bên nầy, bên kia; đằng nầy, đằng nọ nên kết luận phía nầy lắm lúc trở thành câu hỏi của phía khác.
- Những người cho LT là dối trá thì phản ứng lạnh nhạt. Họ cho rằng đây chẳng qua là một cuộc đánh trống khua chiêng của LT tự quảng cáo mình một cách dễ dãi phù hợp với bản chất cố hữu của ông từ trước tới nay với sự hỗ trợ mạnh mẽ của nhóm “Phù Ngô phục hận” đầy bản lĩnh đang đứng ở hậu trường (?!)
- Những người có quan tâm mà im lặng thường không phải là họ không biết, nhưng chỉ vì vấn đề và hoàn cảnh chẳng đáng quan tâm nên không đáng nói mà thôi. Trong giới hạn của một bài viết ngắn dưới hình thức “đôi điều góp ý”, thay cho lời chào hỏi xã giao khách phương xa đến viếng vùng mình, người viết không có tham vọng và có lý do đứng ở một vị trí nào đó để làm công việc biện minh không cần thiết và phán xét chưa đủ căn cứ cho các nhân vật và hoàn cảnh đã được nêu lên trong BĐMT. Những nhân vật lịch sử và những ván bài thời cuộc xin trả về cho lịch sử sẽ phán xét công bằng và chung quyết. Đây chỉ là đôi lời dấy lên như một phản ứng “qua đường thấy việc bất bằng chẳng tha” mà thôi. Xin đi vào nội dung:
Điệp báo và nói láo:
Đó là nhan đề cuốn sách “Of Spies and Lies” của John F. Sullivan viết về mặt trận tình báo trong chiến tranh Việt Nam. Nội dung cuốn sách đã trực tiếp hay gián tiếp nhắc đến nhiều trường hợp các nhân sự Việt Nam trong giới thường dân, công chức, cảnh sát, quân đội… làm cộng tác viên, điểm chỉ viên với các đơn vị tình báo của Mỹ đã bị các đơn vị đặc nhiệm phản tình báo của CSVN đánh tráo tin tức. Sự đánh lừa trong nhiều trường hợp đã tạo ra những nguồn tin sai lạc nhằm gây mâu thuẫn, phân hóa, chia rẽ, hạ bệ và bôi đen phẩm cách của những nhân vật “bị” nổi tiếng mà xét ra không có lợi cho ý đồ lâu dài trong sách lược chiếm trọn miền Nam của họ. Giới tình báo hành chánh bị lừa ngồi trong công sở và bàn giấy chỉ việc rung đùi nghe báo cáo từ các cộng tác viên, yên chí lớn là đã “nắm vững tin tức tình báo” để phản ứng. Thái độ chấp nhận vấn đề – dối trá hóa thật – mà cứ mang ảo tưởng là nắm vững và giải quyết được vấn đề đã góp phần tạo nên những tai họa cho địa phương và cả miền Nam sau nầy.
Đọc phần nói về vai trò tình báo bao quát trong mọi lĩnh vực, thấu suốt mọi vấn đề, nắm vững mọi hoàn cảnh, thấy được mọi ngõ ngách bao gồm luôn cả ta, địch và đồng minh của LT trong BĐMT, người đọc có cảm tưởng như đang coi chuyện võ hiệp kỳ tình. Trong đó, chưởng môn LT ngồi trong trướng võ đàn mà thấy hết hoàn toàn thiên hạ sự. Vì vậy, có thể tạm gọi BĐMT là một tập “hồi ức tạp ghi”… nghĩ chi nói nấy của tác giả LT; còn rất xa mới đủ tính khả tín của chứng tích và sử liệu.\
Được biết LT lên tiếng là chỉ chấp nhận tranh luận “sự nghiệp tình báo” của ông với những người ở trong lĩnh vực tình báo mà thôi (?!). Riêng kẻ viết những dòng nầy chẳng thuộc nòi hỗ báo, tình báo gì cả; nhưng chưa hẳn là kẻ “ngoại đạo” trong lĩnh vực  nầy. Không biết nên chăng cần hé chút tâm sự riêng rằng, tôi đã từng dịch những hồ sơ “classified” cho Peter Downs, giám đốc cơ quan xã hội Tin Lành Việt Nam (VNCS: Vietnamese Christian Social Services) suốt mấy năm liền song song với nghề dạy học. Sau nầy mới biết ông ta là cục phó CIA đặc trách miền Trung. Vì chỉ “dịch nhi bất tác” nên sau 1975, tôi chỉ bị đuổi dạy, lái xe lam mà khỏi đi tù. Tôi có hai người anh ruột. Ông anh cả là chỉ huy trưởng lực lượng Biệt Kích Dù lần lượt ở các trại Biệt Kích trọng điểm như Thượng Đức, Khâm Đức và Khe Sanh, gắn liền số phận sinh tử với các tổ nhảy toán tình báo vào đất địch. Anh đã tử trận ở Khe Sanh năm 1967 – “Biệt Kích Dù vị quốc vong thân!” Ông anh thứ hai cũng ở trong lĩnh vực tình báo của quân lực Việt Nam Cộng hoà (VNCH), làm ở phòng an ninh Không đoàn 41. Thời gian làm việc với P. Downs và hoàn cảnh anh em chia sẻ, thông tin thường xuyên cho nhau đã giúp tôi học hỏi, làm quen và có được cái nhìn không ảo tưởng về một thế giới mà người khí tiết, kẻ gian tà, nhóm trung thành, phường phản bội biến hiện, quần thảo nhau như bóng với hình thường khó lòng phân biệt. Đó là thế giới tình báo hay nhân danh tình báo. Và, thêm vào đó, bản thân tôi cũng là chuyên viên điều tra tòa án (court investigator) về các hồ sơ tội phạm ngược đãi thanh thiếu niên thuộc chương trình CPS của chính phủ Hoa Kỳ trong suốt 18 năm công tác liên tục tại Sacramento.
Học hỏi và kinh ngiệm đã chỉ cho tôi biết rằng, đánh giá kết quả tình báo, điều tra là nhìn vào thành quả chứ không thể căn cứ vào hiện tượng chiến thuật và sách lược biểu hiện đầy vẻ “dung dăng, dung dẻ” biến hiện không lường trên bề mặt nổi. Kiểu cách dùng lời lẽ đại ngôn để vẽ hươu, vẽ vượn cốt làm hoa mắt thiên hạ về những điều vừa mâu thuẫn, vừa không thể nào chứng minh được là một lối diễn xuất phường tuồng, chẳng dính dáng gì đến tổ chức tình báo và tác dụng của tình báo đích thực cả.
Hoàn cảnh thực tế của Thừa Thiên Huế trong thời kỳ LT làm trưởng ty cảnh sát chỉ còn cái lõi thành phố là tương đối còn an ninh trong phập phồng lo sợ. Có thể nói đây là thời kỳ tệ hại nhất về mặt an ninh của xứ nầy. Chiều chiều, từng đoàn người dân quê trong độ tuổi lao động từ các vùng nông thôn phải đạp xe đạp lên thành phố ngủ trọ qua đêm. Bốn phía đều trở thành những vùng xôi đậu, ngày Quốc gia, đêm Việt cộng. Đi xe đạp rời khỏi cột cờ Phu Văn Lâu chừng 10 phút ra khỏi giới hạn An Hòa, Bao Vinh, Chợ Dinh, Dạ Lê, Thủy Xuân, Phường Đúc… sau chạng vạng tối là đã nơm nớp lo sợ du kích cộng sản bắt cóc hay bắn sẻ bất cứ lúc nào.
Trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, 1968 của CSVN trên toàn miền Nam thì Huế bị rơi vào tình trạng thê thảm nhất. Trên 5000 người dân vô tội bị thảm sát. Theo các nguồn thông tin đáng tin cậy thì thủ phạm điểm chỉ bắt người và giết người là những giao liên du kích cộng sản nội thành mà phần đông trước đó, đã quen đường thuộc lối, lên núi và về đồng bằng; vào thành phố Huế dễ dàng như đi chợ. Nếu LT có một mạng lưới tình báo “cái gì cũng biết” như ông nói thì thực tế đau thương của Huế tự nó đã phản bác nghiêm khắc lời tự phong vu vơ, hoàn toàn thiếu căn cứ của ông. Theo tác giả chuyên nghiệp tình báo về cuộc chiến Việt Nam, James J. Wirtz, viết trong sách “Tổng công kích Tết: Sự thất bại của tình báo trong chiến tranh” (The Tet Offensive: Intelligence Failure in War) thì tình báo Mỹ đã biết trước cuộc tổng công kích nầy từ tháng 11 năm 1967, nhưng chưa xác định được ngày giờ đích xác. Sự thất bại của tình báo Mỹ bắt nguồn từ sự thất bại của tình báo Việt Nam, mặc dầu đã biết trước sự cố từ hơn 3 tháng trước.
Sự đại ngôn thái quá của LT trong lĩnh vực tình báo đã gây tác dụng ngược cho các chi tiết về những nhân vật và hoàn cảnh mà ông đã đưa ra với dụng ý chứng minh, phân loại và phê phán theo quan điểm tố cộng cực đoan và bất nhất riêng của mình. Mức độ đáng tin cậy về tính chất thiện, ác; chánh, tà của người và việc trong BĐMT cũng theo sự thổi phồng sai sự thật đó mà rơi xuống mức độ thấp nhất, hay trong nhiều trường hợp  đã bị hiểu ngược lại. Chào mừng LT đến Sacramento, tôi chỉ muốn nhắc với người anh em đồng hương, đồng tuổi, thuộc dòng dõi quý tộc triều Nguyễn rằng, bản chất của tình báo là sự thông minh (intelligence) chứ chẳng phải là ngược lại.
Trả lời và câu hỏi:
Như đã xác định theo tiêu đề của bài viết, đây chỉ là đôi điều góp ý ngắn gọn. Muốn phân tích và chia sẻ cho thấu tình đạt lý về vấn đề BĐMT với LT thì ít nhất cũng cần vài ba trăm trang như có người đã viết, vì nó liên quan đến quá nhiều nhân vật, nhiều sự cố đã thành cố sự. Do đó, tôi chỉ đi thẳng vào trọng tâm của vài ba vấn đề tiêu biểu.
Trước hết là vấn đề Phật giáo với cộng sản. Phật giáo Việt Nam (PGVN) – nói chung chứ không phải là giáo hội PGVN thân chính quyền đang hiện diện trong nước – cơ bản theo tinh thần Đại Thừa. Đạo Phật đi vào cuộc đời hiện thực nên có sự tương tác tùy duyên giữa đạo và đời; đời và đạo. Tinh thần nhập thế của đạo Phật Việt Nam đã được thể hiện hài hòa từ thời Lý Trần. Vua Trần Nhân Tông là một thiền sư. Nhưng khi cần, vua cũng cầm quân ra trận đánh tan quân xâm lược Mông Nguyên. Khi thanh bình trở lại, vua treo kiếm, coi chuyện công danh như đôi dép bỏ, lên Trúc Lâm Yên Tử tu hành giác ngộ. Đạo Phật Việt Nam uyển chuyển như một dòng sông; đi song song với dòng lịch sử dân tộc nên phải chảy qua những chặng đường quanh co, khúc khuỷu theo vận nước thăng trầm. Nhìn đạo Phật mà chỉ nhìn vào một giai đoạn, một bộ phái, một tổ chức hay một phong trào riêng lẻ nằm trong toàn thể sinh hoạt Phật giáo, rồi vội vàng kết luận đạo Phật như thế này, như thế kia… là nhìn biển qua sóng, nhìn sông qua bèo; nên có nhìn mà không thấy!
Khi Việt Minh (tiền thân CSVN) dấy lên phong trào toàn quốc chống Pháp vào mùa Thu năm 1945, những người Việt Nam yêu nước không phân biệt khuynh hướng, thành phần, giai cấp xã hội đều lên đường tham gia kháng chiến. Lịch sử còn ghi lại những hình ảnh cảm động của xóm đạo Tha La. Tuy đạo Thiên Chúa chịu nhiều ân nghĩa với Pháp, nhưng năm 1946, thanh niên xứ đạo Tha La bỏ ruộng vườn, xóm đạo lại đằng sau; Linh mục Nguyễn Bá Kính cũng cởi áo lên đường cứu nước. PGVN với lịch sử gắn liền với vận nước nên nhiều nhà sư từ Bắc chí Nam cũng đã tham gia những phong trào cứu quốc nên đã bị Pháp gọi là “Giặc Thầy Chùa”!
Sau thời kỳ Việt Minh trở thành CSVN thì sự hệ lụy giữa tôn giáo và chính trị kéo dài khi nổi, khi chìm; nhưng chưa bao giờ đạo Phật quay lưng với đất nước và dân tộc.
Trong BĐMT, LT đã nhìn thấy cộng sản khắp nơi. Điều nầy đúng. Khắp miền Nam, từ phủ tổng thống đến các nha, sở, bộ; trường học, chùa chiền, tu viện; thậm chí tư thất, tư dinh đều có cộng sản len lỏi vào. LT chọn bối cảnh cho “biến động miền Trung” bằng cách cắt một mảnh cuối cùng trong cuộc chiến Việt Nam từ 1963 đến 1975. Nghĩa là từ khi có phong trào tranh đấu Phật giáo và Ngô triều bị sụp đổ cho đến khi CSVN chiếm hết miền Nam.
Nội dung và chủ đích chính của LT và cái “Think Tank” (bồn trí tuệ) sau lưng ông là trang hoàng, sơn phết, làm đầy cho một cái khung định kiến đã đúc sẵn. Cái khung khép lại chỉ đơn giản như thế nầy:
Phật giáo + Cộng sản = Đảo chánh nhà Ngô + Mất miền Nam.
                                                                                            
               
(Cảnh biểu tình của Phật Giáo Đồ chống chế độ Ngô Đình Diệm kỳ thị Phật Giáo)
          Đó là… cứu cánh của cách đặt vấn đề trong BĐMT. Mọi phương tiện dầu đúng, dầu sai, dầu hay, dầu dở đều là phương kế khả thi nếu nó phục vụ cho cứu cánh đã đặt định. Điều khó hiểu nhất đối với một người đọc trung bình là có chăng trăm nghìn sự kiện mâu thuẫn và cách hành xử nghịch lý như những điều LT đã diễn tả trong BĐMT đã thực sự diễn ra tại miền Nam? Những thắc mắc chính đáng của độc giả đã thể hiện qua
  
                                                                                                                         
                                                                                                        HY Spellman                                   Ngô Đình Diệm hôn tay HY Spellman
những câu hỏi cụ thể, đại khái như: Tại sao một trưởng ty cảnh sát nhỏ bé như LT lại có quyền lực khắp nơi, khắp chốn như vậy? Tại sao một nhân viên cấp tỉnh như LT lại có uy quyền trên cả hàng tổng, bộ trưởng? Tại sao một hệ thống quân giai có kỷ cương như quân lực VNCH lại để cho một viên thiếu tá địa phương như LT có quyền hành xử tùy tiện và bất chấp như thế? Chỉ có một trong hai bên đúng: Hoặc là giới lãnh đạo quân đội và dân sự miền Nam hoàn toàn vắng bóng; hoặc là LT nói sai sự thật. Nói cường điệu quá đà toàn những chuyện không thật thì người Huế gọi đó là nói “phách tấu !” Mà lẽ nào người Hoàng phái như LT lại đi nói điều phách tấu?!
Có thể nói những tiết mục hấp dẫn nhất trong BĐMT là những màn “tình báo nổi”. Trong kỹ thuật tình báo kinh điển có nói đến phần nhận diện nhân dáng và quan sát tang vật hiện trường như một nghệ thuật “warm up” (hâm nóng) ban đầu để đo lường phản ứng của nhân vật; chuẩn bị tinh thần cho một tiến trình tra vấn tiếp theo. Nhưng không biết LT đã tốt nghiệp ở trường tình báo nào mà thường khi lẫn lộn giữa kỹ thuật nhận diện với tiểu xảo coi tướng của các ông thầy bói xem giò gà xứ Huế theo kiểu xếp bộ “mắt trắng môi thâm”, “tai dơi mặt chuột”… để sơ kết bản chất của những nhân vật mà ông sắp sửa kết án (nhưng chưa chắc đã thấy bao giờ). Cũng theo nguyên tắc tình báo quốc tế thì sự lẫn lộn giữa định kiến, cảm tính và lý tính sẽ “nullification” (vô hiệu) kết quả điều tra.
Trong số nhiều khuôn mặt được ông đưa ra tố cộng trong BĐMT, có hai nhân vật Phật giáo được LT chiếu cố tận tình nhất là thầy Trí Quang và thầy Đôn Hậu. Gần nửa thế kỷ trôi qua, nhưng nhân vật Thích Trí Quang vẫn còn là một đối tượng tham khảo và phân tích của các học viện chính trị, nhân chủng và xã hội quốc tế, nhất là ở Mỹ. Mọi sự suy diễn đơn giản và phiến diện về nhân vật nầy là một trường hợp “nullification” dữ kiện đáng tiếc mà tôi đã có dịp nói ở trên.
Gần 30 năm trước, lúc mới chân ướt chân ráo đến Mỹ thì tôi đã đọc một bài viết xuất phát từ vùng Tiểu Sài Gòn nói rằng, thầy Trí Quang là trung tá Việt cộng. Ngày CSVN chiếm Sài Gòn, thầy mang lon đội mũ trung tá cầm cờ chạy rông ngoài đường phố hoan hô quân miền Bắc. Tin tức kiểu tiếu lâm AVT đó, nay mới nghe lại LT lập lại trong BĐMT! Không có gì thú vị và “xả hơi” hơn khi đọc về nhân vật Thích Trí Quang qua màn tình báo LT. Nguồn tin tình báo LT cho rằng, thầy Trí Quang là đảng viên cộng sản. Rằng, thầy là cộng sản gộc, nhận chỉ thị trung ương Đảng đứng ra sách động phong trào đấu tranh Phật giáo. Đi xa hơn nữa, LT còn viết là thầy Trí Quang có người yêu già nhân ngãi non vợ chồng là một cô bé làm thị giả 13 tuổi. Có lý nào LT là cháu của danh tăng Thích Tịnh Khiết lại hiểu tổ chức Phật giáo Huế có tiếng về giới luật khắt khe, nghiêm ngặt một cách quá nông nổi và sai lạc đến như thế. Trong tổ chức Phật giáo làm sao lại có chuyện tréo cẳng ngỗng “thị giả” nữ 13 tuổi bên cạnh một thượng tọa là thế nào? Chưa hết, LT còn kể là ông đã cãi lệnh tướng tư lệnh cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan, vào lục soát phòng riêng của thầy Trí Quang và tìm thấy một bằng chứng hùng hồn cho sự nghiệp tình báo của ông là một cái xì líp đàn bà. Tưởng tượng vượt quá giới hạn đạo lý sẽ trở thành vô luân.
Thầy Trí Quang là một tu sĩ nổi bật trong cuộc đấu tranh Phật giáo 1963. Thầy được (hay bị?) báo chí Âu Mỹ và Việt Nam khai thác triệt để; hình thầy xuất hiện trên trang đầu của những tờ báo lớn như Time, FP với những lời bình luận nóng hổi. Đa số những bài viết đều có một điểm chung khá tương tự về khuynh hướng Dân Tộc của thấy Trí Quang: Không lệch theo con đường duy vật vô thần của khối Cộng sản; mà cũng chẳng nghiêng về con đường duy linh nhất thần của khối Tư bản. Thầy đứng giữa “hai lằn đạn”. Bên tả cho thầy là CIA, bên hữu cho thầy là Cộng sản.
Biến động 1966 phát xuất từ nguồn gốc là người Mỹ đã chuyển hướng biến Miền Nam thành kho súng đạn sau khi xoa tay bức tử triều đại Ngô Đình. Mỹ không muốn mất thời gian tái tổ chức một xã hội miền Nam theo mẩu mã dân sự ổn định như Hoa Kỳ mà nóng lòng muốn dứt điểm cuộc chiến Việt Nam để ôm Trung Quốc bằng cách quân đội hóa toàn miền Nam. Mỹ là chuyên viên dựng lên những chính quyền quân sự ở các nước chậm tiến và bất ổn như một sự dằn mặt giới lãnh đạo đương quyền do Mỹ hỗ trợ rằng, hãy khôn hồn, đảo chánh và lật đổ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tại sao một miền Nam đang đối đầu với một đối thủ có bộ máy chính trị quá chặt chẽ như miền Bắc mà đồng minh Hoa Kỳ lại áp dụng một sách lược “ăn xổi ở thì” như vậy? Những chính khách miền Nam chống cộng không nằm trong guồng máy hành chánh quân sự đều có chung mối quan ngại như thế.
Thầy Trí Quang và một số các nhà sư Phật giáo đã đứng lên đòi hỏi một hiến pháp và một sách lược mới thích hợp cho chính thể VNCH ổn định và có thực lực tại miền Nam trong thời điểm 1966 là đi ngược lại sách lược của Mỹ đang triển khai tại vùng châu Á Thái Bình Dương. Đồng thời, CSVN cũng thấy được nguy cơ của một miền Nam ổn định. Trong lúc đó, Kissinger đang đi đêm thương thuyết với Bắc Kinh và thuyết phục nội các Johnson bỏ rơi miền Nam. Vô hình trung, nhân vật Trí Quang trở thành đối đầu cùng lúc với cả Mỹ lẫn CSVN. Và khi Mỹ đã bật đèn xanh với túi đô la lè kè bên cạnh thì dẫu cho họ có muốn sông cạn núi mòn trong chớp mắt cũng chẳng có gì là khó. Đã có quá nhiều tài liệu công bố nói rằng, Mỹ đã cho nhân vật Trí Quang một trong ba sự chọn lựa là: Im lặng bó tay vào chùa dịch kinh niệm Phật, lưu vong sang Hoa Kỳ hay về thăm… cụ Diệm (?!)
Trong suốt 40 năm qua, thầy Trí Quang sống yên lặng trong chùa, “thủ khẩu như bình, thủ ý như thành”. Tất cả về thầy Trí Quang sau 1975 mà tôi được biết là hai tác phẩm dịch thuật. Một là bản dịch kinh Kim Cương, 263 trang, do Mai Lan Lệ Ấn hải ngoại ấn hành năm 1987. Hai là bản dịch kinh Diệu Pháp Liên Hoa, 1162 trang, cùng nhà xuất bản năm 1996.
Nhân vật thứ hai được LT mang ra trình làng là thầy Đôn Hậu. Hành tung và sự nghiệp của thầy được LT mô tả trong BĐMT thảy đều là “Việt cộng toàn ròn”. Rốt lại còn “dễ sợ” hơn là thầy Trí Quang!
Ông Đỗ Trung Hiếu, bí danh Mười Anh, người Quảng trị, đảng viên cộng sản thâm niên, được Đảng giao làm công tác Tôn giáo vận, một thời là kiến trúc sư Phật giáo Nhà nước đã khách quan nhận định rằng, thầy Đôn Hậu bị phe Cách mạng cưỡng ép đưa lên núi sau vụ Tết Mậu Thân ở Huế và đem ra Hà Nội trong thời gian chiến tranh, gán cho chức Ủy viên Cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam; năm 1976 là đại biểu Quốc hội khóa 6 và Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc. Nhưng một thời gian sau, để phản đối việc chính quyền cộng sản đàn áp Phật giáo ở miền Nam, thầy Đôn Hậu đã công khai bằng văn thư từ bỏ hết mọi danh vị và chức tước bị gán nói trên. Thầy cực lực chống đối việc thống nhất Phật giáo thành Phật Giáo Việt Nam (thường gọi là Phật giáo Nhà Nước hay Phật giáo Quốc doanh) để làm công cụ chính trị cho đảng Cộng sản. Thầy giữ vững lập trường này cho đến ngày viên tịch (23.4.92). Ý hướng của thầy đã biến thành hành động cụ thể. Cuối đời, thầy Đôn Hậu đã phó thác ấn tín lãnh đạo Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (PGVNTN) lại cho thầy Huyền Quang.
          Trong truyền thống Phật giáo, truyền y bát cho nhân vật lãnh đạo kế thừa đồng nghĩa với sự phó thác tâm phúc nhất niềm tin và lý tưởng vào sự nghiệp hành đạo độ sanh của người kế vị. Với ý nghĩa đó, tưởng cũng nên khách quan tìm lại những nét tiêu biểu nhất về chí hướng của nhân vật thừa kế thầy Đôn Hậu trong PGVNTN. Trong cao trào kháng chiến chống Pháp năm 1945, như tôi đã lược trình ở trên, thầy Huyền Quang tham gia Phật Giáo Cứu Quốc Liên Khu 5 trong những ngày đầu của cao trào yêu nước chống ngoại xâm. Năm 1951, thầy bị Việt Minh lúc bấy giờ đã biến tướng thành CSVN bắt giam lỏng 4 năm vì phản kháng quyết định độc đoán biến Phật giáo thành hội đoàn của cộng sản. Năm 1963, thầy Huyền Quang là tổng thư ký của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo, làm việc trực tiếp với Uỷ Ban Liên Bộ của chính phủ tổng thống Ngô Đình Diệm. Năm 1977, thầy Huyền Quang bị CSVN bắt biệt giam cùng với các thầy Thiện Minh và thầy Quảng Độ. Năm 1992, sau khi được sự phó thác của thầy Đôn Hậu trở thành người lãnh đạo kế nhiệm của PGVNTN, thầy Huyền Quang đã viết yêu sách 9 điểm, nêu lên những sai lầm của nhà cầm quyền và yêu cầu nhà nước CSVN phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng. Kết quả là thầy đã bị CSVN quản chế cho đến ngày viên tịch (5-7-2008). Ngoài ra, những tu sĩ Phật giáo ở vị thế lãnh đạo khác trong phong trào đấu tranh Phật giáo mà LT cho là do cộng sản dựng lên cũng đã bị CSVN ngược đãi, giam cầm như: Thầy Thiện Minh (chết bí mật năm 1978 sau thời gian bị giam cầm).    
Thầy Quảng Độ, thầy Đức Nhuận cũng bị tù tội triền miên.
           Một nhà văn nào đó đã kêu lên: “Trong cảnh tranh tối tranh sáng nầy, anh em nhìn rõ mặt nhau thật khó!” Nhìn rõ nhau đã khó, phán xét đúng càng khó hơn.
 
 
Sau 35 năm im lặng, khi LT lên tiếng để xác nhận sự hiện diện của mình nơi đất khách thì tiếng nói của ông cũng đã lạc hậu mất 30 năm! Những ngày đầu sau 1975, người dân miền Nam hầu hết đều ngỡ ngàng trước thực tế. Câu hỏi lớn nhất vẫn là tại sao quân lực VNCH với phương tiện thủy, lục, không quân còn nguyên vẹn lại phải bị bức tử bỏ cuộc?]
      
                                                             
                                                               Bác sĩ Erich Wulff Tiến sĩ Y khoa năm 1960. Ông làm giảng sư tại Đại học Y khoa  Huế từ năm 1961 đến 1967 và bắt đầu dấn thân chính trị để báo động thế giới về cuộc thảm sát đêm Phật đản 1963 tại đài Phát thanh Huế (từ trái-BS.Erich Wulff   và TT.Trí Quang,- TT.Trí Quang đón tiếp S Wulff tại chùa Từ Đàm Huế 1964 )
 
Khi ra nước ngoài, những thư viện lưu trữ tài liệu về chiến tranh Việt Nam phần lớn nghiêm túc và đáng tin cậy trong các trường đại học Mỹ mà tôi đã theo học và giảng dạy; kết hợp với phương tiện truyền thông đại chúng tại các nước tự do Âu Mỹ về Việt Nam phong phú đã giúp tôi tìm hiểu sự thật nên xin được bày tỏ sự bất đồng hoàn toàn với những điều mang tính “hồi ức” và suy diễn theo cảm tính bốc đồng của LT trong BĐMT. Sự kiện lịch sử đã nói lên quá rõ rằng, đồng minh Hoa Kỳ đã bỏ miền Nam vì quyền lợi của chính đất nước họ với đối tác mới Mỹ-Trung; cũng như trước đó, họ đã quyết định thay ngựa giữa dòng với chính quyền tổng thống Ngô Đình Diệm. Mỹ đã thực hiện rốt ráo nguyên tắc chi phối chính trị của họ trên toàn thế giới: Ai làm chủ túi tiền, người đó là vua. Chiến tranh và chính trị cũng chỉ là một hình thức “thương vụ” quốc tế. Có lời thì tiếp tục kinh doanh mà thua lỗ thì dẹp tiệm. Khi Mỹ đã quyết định thì họ đóng vai nguyên nhân, tất cả còn lại chỉ là nguyên cớ.
Trước khi phong trào tranh đấu Phật giáo phát khởi tại Huế thì Mỹ đã quyết định thay chính quyền tổng thống Ngô Đình Diệm vì tâm huyết sâu sắc, lòng yêu nước đậm cốt cách liêm khiết Nho phong và cách dùng người nhân hậu của Cụ đã bị nịnh thần và phản thần chuyên quyền lợi dụng. Nhất là ở miền Trung, tham vọng quyền lực và vật chất của thế lực gian thần ngày càng tác oai tác quái đã làm mờ đi chính nghĩa của cụ Ngô. Niềm tin khô cạn, nhân tâm lý tán. Thực trạng nầy làm chậm bước tiến chinh phục ảnh hưởng toàn vùng châu Á Thái Bình Dương của Hoa Kỳ nên sự thay thế lãnh đạo là điều không tránh khỏi. Khi đèn xanh đèn đỏ của phú ông chi tiền đã chớp thì nếu không có phong trào Phật giáo nầy, cũng sẽ có vô số những phong trào tương tự khác, mang biển hiệu và màu sắc khác rộ lên.
Ngày 29-3-1973, cả miền Nam có bóng dáng ông sư bà vải nào lên tiếng đâu, thế mà Mỹ vẫn đơn phương hoàn toàn rút quân ra khỏi Việt Nam. Nguyên nhân ở tận Washington  DC và Bắc Kinh chứ không phải ở Huế, Sài Gòn hay nằm trong đống hồ sơ vụn vặt của một ông trưởng ty tỉnh lẻ như Liên Thành. Trâu bò đại khánh, ruồi muỗi đánh nhau. Thảm trạng của thân phận nhược tiểu xưa nay là thế. Hoặc vì không đầu tư học hỏi nghiêm túc, không chịu tham khảo tới nơi tới chốn; hoặc vì một động cơ khó hiểu hay dễ dãi nào khác đã khiến Liên Thành đang đứng ở ngã tư thế giới nhưng vẫn tưởng như còn đang đứng ở Ngã Ba Bánh Bèo xứ Huế “mô rứa răng ri, thích chi noái nấy” qua 400 trang của BĐMT! Vì không dụng công, LT đã nhìn Phật giáo qua nhãn quan một chiều, qua sự hiểu biết giới hạn và qua nhận thức đóng khung của một viên cảnh sát trưởng địa phương. LT đã mang định kiến xào trộn với mớ hồ sơ vi cảnh và cái gọi là “tình báo” đầy hoang tưởng để cột buộc Phật giáo với cộng sản.
Hồi ký của những nhân vật trùm cuộc chiến Việt Nam, có đủ kiến văn, dữ liệu và thẩm quyền để nói như McNamara (viết trong In Retrospect), Kissinger (trong Diplomacy), Rusk (trong As I saw It), Nolting (trong From Trust to Tragedy)… Hay gần gũi với thế giới người Việt hơn là các hồi ký của hơn 20 nhân vật người Việt đã từng ở vị thế lãnh đạo trong cuộc chiến và thời kỳ cận đại, từ cựu hoàng Bảo Đại (Con Rồng Việt Nam) viết về thời kỳ 1913-1987; đến tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cố vấn cho tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, (Khi Đồng Minh Tháo Chạy) viết về giai đoạn Mỹ tham chiến ở Việt Nam cho đến năm 1975 là những tư liệu lịch sử và chính trị đáng tham khảo. Thế nhưng khi viết về những sự kiện có liên quan đến thời kỳ biến động trong cuộc chiến và phong trào Phật giáo thời 1963 vẫn còn nhiều dè dặt và giới hạn. Tác giả cũng như độc giả khi được phỏng vấn, đều có chung sự suy nghĩ rằng, những hình ảnh và chứng liệu cụ thể nặng tính dữ kiện và sử liệu khoa học vẫn còn chưa đủ tầm cỡ để nhận định và đánh giá chân xác, khách quan về bối cảnh và nhân vật liên quan đến những cuộc biến động miền Trung. Mớ tài liệu nhếch nhác chạy giặc mang theo, tầm hiểu biết hạn chế, vị trí nhỏ bé và hồi ức tuổi già của LT đã đưa ông đến chỗ can đảm một cách thảm hại không đúng thời, đúng chỗ, đúng đối tượng đã làm cho độc giả, ngay cả những chiến hữu một thời thân cận nhất của LT, thất vọng.
Đây chưa phải là bài điểm sách và cũng chẳng phải là bài phản hồi nghiêm túc tương xứng với vấn đề đặt ra mà chỉ là đôi điều góp ý. Cũng xuất thân là một người con trai đàn ông Huế như Liên Thành, điều góp ý gần gũi nhất là những gì liên quan đến quê hương xứ sở mình. Huế nghèo nhưng thanh bạch. Thanh bạch trong cách sống và trong lời nói. Người bốn phương yêu Huế vì cái phong cách Huế mà đặc biệt là sự tao nhã, tính văn hóa và dáng vẻ khiêm cung trong ngôn ngữ. Rất tiếc là LT rời Huế quá sớm nên không chứng kiến được sự dị ứng và trăn trở của Huế sau ngày miến Bắc thắng trận. Đó là khi một thiểu số thành phần xuất thân giữ trâu, giữ bò vô học trở thành người chiến thắng, có chút thế lực trong tay ngông nghênh dùng lời lẽ hạ cấp bất xứng với người thất thế. Những người này đã gọi là “thằng”, là “hắn” là “lũ” là tên nầy tên nọ tuốt luốt như: “thằng Mỹ, thằng Ngụy…” với những người đáng tuổi cha ông của mình ở miền Nam bị liệt vào thành phần Mỹ, Ngụy; ngược lại thì cũng tương tự như những người mà LT liệt vào thành phần cộng sản trong BĐMT. Loại ngôn ngữ hằn học, thô lỗ, thiếu văn hóa đó đã bị không những Huế mà tất cả người miền Nam khinh bỉ và lên án. Dẫu có ngoan cố bào chữa cách nào cũng không ai chấp nhận nên cuối cùng họ phải bỏ đi. Tôi hơi ngỡ ngàng khi bắt gặp loại ngôn ngữ thô bạo này trong BĐMT mà LT đã dành cho bất cứ ai, kể cả thầy dạy học cũ của mình, các vị tu sĩ Phật giáo cao niên, những nhân vật lớn nhỏ mà ông đã quy kết là cộng sản, theo cộng, hay thân cộng. Xuất thân là một sĩ quan, một sinh viên đại học Huế, một người Hoàng phái danh gia tử đệ mà vô tình ông Liên Thành đã dẫm lên vết chân của những người thuộc thành phần thấp kém từ Bắc mới vô Nam năm 1975 thì quả là điều xót xa và đáng tiếc! Qua Mỹ đã hơn 30 năm và đã từng làm trong nghề an ninh trật tự xã hội, ông LT cũng hiểu ít nhiều về nguyên tắc luật lệ và trật tự của một xã hội có văn hóa và văn minh: Dẫu là người phạm tội rành rành nhưng chưa có phán quyết của tòa án thì vẫn còn là nghi can. Nhưng cho dẫu là tội phạm chăng nữa thì cũng phải đối xử công bằng và nhân bản. Lẽ nào LT không biết hay quên?!
Được hân hạnh đón LT về thăm vùng đất tỵ nạn của mình đã sống trong hơn hai chục năm qua, tôi chỉ ước mong những người cùng thế hệ, cùng chịu chung nỗi vinh nhục của quê hương gặp nhau, nhìn nhau và thấy được nhau.
Là một Phật tử độc lập, tôi chỉ biết theo giáo lý nhà Phật để tự giáo hóa chính mình tìm sự an lạc như phần đông các Phật tử xuất gia và tại gia khác. Có thêm được chỗ dựa tinh thần và năng lực hóa độ của tăng ni đạo cao đức trọng vẫn là ân đức mong tìm của người Phật tử. Cho nên tôi vẫn thường lập đi lập lại hoài như một lời tâm niệm về hình ảnh đạo Phật là một biển thái hòa an lạc. Nước của trăm nguồn đổ về biển cả, dẫu cho trong sạch hay dơ bẩn đến mức độ nào thì cuối cùng cũng được hóa giải. Trên đường tìm cầu học hỏi, chúng tôi không ngây thơ cho rằng, tất cả tăng ni qua hình tướng đầu tròn áo vuông đều là thánh tăng hay chân tăng. Nhất là trong thời đại “kinh tế thị trường” vàng thau lẫn lộn nầy thì nhìn rõ chân tướng của nhau thật khó. Ai không an trú trong giới luật, sẽ thọ lãnh nghiệp quả của mình. Tiền thân của đức Phật là bồ tát Thường Bất Khinh. Gặp bất cứ ai, ngài cũng cất một lời khiêm tốn: “Thưa ngài, tôi không dám coi nhẹ ngài vì ngài là một đức Phật tương lai!” Nhân danh là những nguời Phật tử, chúng ta có thể nói với nhau một lời đơn giản mà sâu dày như thế được chăng.
Trần Kiêm Đoàn
    Sacramento, cuối Thu 2009

VÀI ĐIỀU VỀ LIÊN THÀNH, TÁC GIẢ “BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG"

Nguyễn Đắc Xuân
ngày 25 tháng 11, 2009
Chủ nhật, 13 tháng 11, 2009, 18:49, tôi nhận được một e-mail của “Một người yêu Huế” với nội dung như sau:
Kính gửi nhà văn Nguyễn Đắc Xuân,
Tôi là một người dân Huế xa xứ, vì yêu Huế nên rất quan tâm đến những chuyện vui buồn của Huế. Vừa qua tôi có đọc bài viết “Trịnh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng của ông Liên Thành và sau đó là bài phản hồi của ông Hoàng Phủ Ngọc Phan trên trang web Lề Bên Trái. Tôi cũng theo dõi những trang web hải ngoại giới thiệu quyển sách Biến động miền Trung của Liên Thành và loạt bài “Liên Thành và mắm tôm” của Bảo Quốc Kiếm… Tuy vậy, vẫn còn một số chuyện mà tôi nghĩ rằng những người trong cuộc chưa nói hết. Được biết ông Nguyễn Đắc Xuân cũng là một trong số những người trong cuộc, là nhân chứng quan trọng – hơn nữa ông còn là nhà Huế học, rất am hiểu về các biến động lịch sử nói trên. Vậy tôi xin mạo muội gửi thư này kèm một số câu hỏi có liên quan đến ông, nhờ ông giải đáp giùm. Mục đích của tôi không phải vì hiếu kỳ mà vì muốn hiểu được sự thật, nên cũng mong được nghe ông nói những điều trung thực, với lương tâm và trách nhiệm của người cầm bút để ghi chép lịch sử, nhất là lịch sử thành phố Huế.
Xin hỏi:
1) Trong sách BĐMT, tại tr. 108, Liên Thành viết ông là bạn học của Liên Thành, xin ông cho biết lúc cùng học với ông, Liên Thành là người như thế nào? Những gì Liên Thành viết về nhân thân của ông có đúng không?
2) Nghe nói ông Liên Thành là học trò của nhà giáo Ngô Kha, có đúng không? Cho đến nay bà con ở Huế có ai biết thêm thông tin gì về cái chết của thầy Ngô Kha không?
3) Ngoài việc giết thầy Ngô Kha, Liên Thành có còn phạm thêm những tội ác nào nữa không?
Xin trân trọng cảm ơn và mong được hồi âm theo địa chỉ riêng hoặc trên một phương tiện truyền thông nào đó thì càng tốt.
Một người yêu Huế
Xin trả lời:
Vào khoảng tháng 4-2007, một nhà thơ bạn cũ của tôi, nguyên là công an Việt Nam Cộng hòa, cấp trên của Liên Thành đang ở San Jose (Cali) mail cho tôi biết Liên Thành, Chỉ huy trưởng BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế, vừa khởi đăng trên một Website ở Hoa Kỳ loạt bài bôi bác Phong trào Đấu tranh chống Mỹ Vận động Hòa bình của Phật giáo và Sinh viên Học sinh Huế từ năm 1966 đến 1975, đề nghị tôi nên lên tiếng để bảo vệ sự thật. Lúc ấy tôi đang khẩn trương chuẩn bị báo cáo chuyên đề “Phong trào văn thơ âm nhạc vận động hòa bình những năm 1964-1966 ở miền Nam Việt Nam” với William Joiner Center (WJC) ở Boston nên tôi không thực hiện được lời đề nghị của anh bạn nhà thơ năm xưa. Đến tháng 5-2007, sau khi hoàn thành việc báo cáo ở WJC, ngồi ở Boston, tôi có dịp đọc loạt bài của Liên Thành với cái tít rất hấp dẫn “Biến động miền Trung – Những chuyện chưa ai nói” từ tập san Biệt Động Quân. Đọc chưa xong loạt bài đó thì hết hạn visa ở Mỹ, tôi phải về Việt Nam. Đến mùa Thu năm 2008, một anh bạn ở Houston (Texas), gởi tặng tôi cuốn Biến động miền Trung (BĐMT) của Liên Thành do tập san Biệt Động Quân xuất bản, (Westminster) tháng 5-2008, dày 440 trang, vì anh bạn đọc thấy trong sách này, Liên Thành đã dành nhiều trang viết về tôi. Rồi mới đây, hồi cuối Hè 2009, không biết ai đó ở bên Mỹ biết địa chỉ e-mail của tôi cũng đã gởi cho tôi bài “Trịnh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng” của Liên Thành lại cũng có nhiều “thông tin” liên quan đến tôi. Dù muốn dù không tôi cũng phải đọc hết cái mớ hổ lốn mà Liên Thành đã bịa đặt và phổ biến ở hải ngoại ấy. Nhưng tôi không động bút vì những lý do sau đây:
1. Tôi là một nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa hơi đâu đi phản biện Liên Thành, một người mà tôi biết rất rõ tông chi họ hàng, học hành thi cử, đạo đức, quá trình làm công an mật vụ tay sai cho Hoa Kỳ, tội ác gây ra cho người dân Huế từ năm 1966 đến 1975 và ngay cả sau năm 1975 ở Hoa Kỳ của anh ta.
2. Tôi tin gia đình những người được Liên Thành xếp loại “trong hàng ngũ quốc gia”, được ông “Cựu Thiếu tá Chỉ huy trưởng BCH/CSQG TTH” viết là “Việt cộng nằm vùng”, như Trung tướng Tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh Chính trị Trần Văn Trung (hiện ở Pháp), Đoàn Công Lập, Trưởng ty Cảnh sát Huế, từng là cấp trên trực tiếp của Liên Thành, nhân viên Công an Mật vụ VNCH làm việc với Liên Thành như Lê Văn Thiện (hiện ở Cali) v.v… sẽ có ý kiến thẳng thắn với Liên Thành.
3. Thật tình tôi cũng không muốn đề cập đến Liên Thành vì cuộc đời học hành, đi dạy giờ, tranh đấu Phật giáo, nghiên cứu nhà Nguyễn, nghiên cứu Kỳ Ngoại hầu Cường Để với Phong trào Đông Du[1], tôi thân quen với quá nhiều người trong gia đình của Liên Thành như bác Tráng Đinh, con bác là Liên Phú (tức Thượng tọa Chơn Kim ở Đơn Dương, Lâm Đồng ngày nay), Liên Đàm (đã mất), như thầy Tráng Cử (làm giám thị thời tôi dạy giờ trường Bán Công Huế, (anh Nguyễn Ngọc Minh hiện ở San Jose còn nhớ), con thầy Tráng Cử là Liên Hương (Việt Kiều Canada, đã cùng tôi giúp thực hiện cuốn phim Theo dấu Ba Vua), Liên Mai (hiện đang giữ nhà thờ Cường Để ở 9 Tân Lăng, An Cựu Huế), Tôn Nữ Thạch Hà (hiện có nhà ở sát tường phía đông chùa Từ Đàm ngày nay), ông Liên Á (cháu đích tôn của cụ Cường Để, hiện ở Gò Vấp, TPHCM) v.v…
Tác giả Nguyễn Đắc Xuân với Liên Hương trước bàn thờ vua Duy Tân ở An Lăng (2008)
Nói đến Liên Thành là chọc vào cái vết thương đau của hậu duệ của Kỳ Ngoại hầu Cường Để thân quen của tôi nên tôi tránh.
Nhưng nay bạn hỏi riêng về những thông tin có liên quan đến nhân thân và một vài người bạn của tôi, nếu tôi không trả lời thì thông tin về tôi sẽ không đúng với sự thực, không đúng với những gì tôi đã và đang viết trong các bài mang tính hồi ký của tôi. Vậy tôi chỉ xin trả lời giới hạn trong phạm vi ấy. Những thông tin khác xin hẹn trong một dịp khác sẽ tiếp tục nếu hoàn cảnh và thời gian cho phép.

1. Liên Thành là bạn học của Nguyễn Đắc Xuân?

Tại trang 108, BĐMT, Liên Thành viết về Nguyễn Đắc Xuân như sau:
Thế nhưng định mệnh trớ trêu, bẵng đi vài năm, khi tôi từ đơn vị tác chiến về Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên-Huế, vào tháng 6 năm 1966, đảm nhiệm chức vụ Phó Trưởng ty Cảnh Sát Đặc Biệt, để dẹp loạn miền Trung, hai người tôi phải đối đầu là thầy, và thằng bạn học cũ từ thuở xa xưa vào năm lớp nhì, lớp nhất tại trường tiểu học Nam Giao và những năm kế tiếp tại trường Quốc Học, đó là Nguyễn Đắc Xuân. [Nguyễn Đắc Xuân sinh năm 1937 tại Huế, nhưng trên giấy tờ khai sanh là 1943, hắn gốc Quảng Nam. Thuở nhỏ học trường Tiểu học Nam Giao, gần chùa Từ Đàm, Xuân và tôi cùng học với hai Thầy là, thầy Bút và thầy Liên. Nhà Nguyễn Đắc Xuân ở cuối dốc Bến Ngự, nhà tôi ở đỉnh dốc Bến Ngự, cạnh chùa Từ Đàm. Nguyễn Đắc Xuân cựu học sinh Quốc Học 1956-1961, sinh viên Văn khoa và Đại học Sư phạm 1961-1966, ban Sử địa]
Trong hồ sơ cá nhân của thầy và của Nguyễn Đắc Xuân, cả hai đều hoạt động trong ban Trí vận của cơ quan Thành ủy Huế, trực thuộc Thành ủy viên Hoàng Kim Loan. Cả hai đều là những tay tranh đấu rường cột của Phong trào Tranh đấu Phật Giáo miền Trung của ông Trí Quang, từ tháng 3 năm 1963.”
1.1. Liên Thành viết: “vào tháng 6 năm 1966”,…. “hai người tôi phải đối đầu là thầy, và thằng bạn học cũ”.
NĐX bình luận: Cuối tháng 5-1966, khi Thiệu-Kỳ ra lịnh hai bạn Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan và tôi ra trình diện, sau đó hai bạn thoát ly ngay. Còn tôi vào ẩn trong chùa Kim Tiên, chùa Tường Vân và Đình Dương Xuân Hạ, đến đầu tháng 7-1966 thì Tường gởi thư bảo tôi ra chiến khu nghỉ một thời gian. Tôi đi. Tháng 6-1966 chúng tôi đâu còn tranh đấu ở Huế nữa để Liên Thành phải đối đầu? Có phải Liên Thành hư cấu thông tin đó để  thấy vai trò quan trọng của mình lúc ấy chăng?
1.2. Liên Thành viết: “Nguyễn Đắc Xuân sinh năm 1937 tại Huế, nhưng trên giấy tờ khai sanh là 1943, hắn gốc Quảng Nam.”
NĐX bình luận: Trong các sách đã xuất bản của tôi (như Kiến thức Triều NguyễnHuế xưa, tập IV), trên nhiều trang Web, tiểu sử của tôi được ghi rõ ràng. Tôi sinh năm 1937, nhưng theo dượng ghẻ sống trong rừng Phụng Sơn (Đà Lạt), không được đi học. Đến khi được đi học tôi phải khai trụt tuổi xuống thành sinh năm 1943. Chuyện nầy liên quan đến sự chênh lệch trong bằng cấp và lý lịch cán bộ của tôi hiện nay, tôi đã trình bày nhiều lần, không có gì bí ẩn cả. Tôi ở trong rừng Phụng Sơn do người Quảng Nam thành lập, tôi chơi thân với các bạn Quảng Nam, bị ảnh hưởng bạn nên nói giọng Quảng, chứ tôi không phải người Quảng Nam. Mẹ tôi người Thanh Hóa, cha tôi người Dã Lê Chánh, xã Thủy Vân, Hương Thủy, Thừa Thiên, ông bà sinh tôi ra khi cha tôi đang làm thủ quỹ cho Hãng buôn Morin Huế. Liên Thành nghe tôi nói giọng Quảng nên đoán mò cho tôi gốc Quảng Nam là quá sai.
1.3. Liên Thành viết: “Thuở nhỏ (NĐX) học trường Tiểu học Nam Giao, gần chùa Từ Đàm.”
NĐX bình luận: Tôi chỉ học Tiểu học hai năm (1952-1954) với thầy Võ Quang Khương (hiện đang sống ở Bảo Lộc, Lâm Đồng) và thầy Nguyễn Tri Bật (đã qua đời ở 30A Hương Sơn, Nha Trang) tại trường Đa Phước (nay là Trường Trại Mát), Đà Lạt. Tôi không hề học Trường Tiểu học Nam Giao bao giờ.
1.4. Liên Thành viết: “Xuân và tôi cùng học với hai Thầy là, thầy Bút và thầy Liên. Nhà Nguyễn Đắc Xuân ở cuối dốc Bến Ngự, nhà tôi (Liên Thành) ở đỉnh dốc Bến Ngự, cạnh chùa Từ Đàm.”
NĐX bình luận: Từ Tiểu học ở Đa Phước Đà Lạt (1952) cho đến năm đỗ Tú tài II ở Quốc học (1961), trong lớp tôi không hề có một người bạn học nào có tên là Liên Thành cả, và cũng không có thầy Bút, thầy Liên nào cả. Mấy năm Đệ Ngũ – Đệ Tứ (1956-1958) Quốc học, lớp tôi có bạn Liên Đàm con bác Tráng Đinh và cô Tạ Thị Hóa ở Vỹ Dạ mà thôi. (Hỏi ông cựu phi công quân sự Đặng Văn Âu từng học một lớp với tôi và Liên Đàm, hiện đang ở Mỹ sẽ rõ.) Trước năm 1975, gia đình tôi chỉ có một ngôi nhà rường của ông nội tôi (Chánh đội Nhạc chánh Nam Triều) để lại tại làng Dã Lê Chánh, xã Thủy Vân, chưa hề có một mái nhà nào ở Huế hoặc ở “cuối dốc Bến Ngự” cả. Vì thế ở làng Dã Lê đi học, gặp những ngày cuối năm mưa lụt tôi hay ở lại nhà của Liên Đàm, (TT Chơn Kim, tức Liên Phú, còn nhớ rõ). Vì thế Liên Thành viết “Nhà Nguyễn Đắc Xuân ở cuối dốc Bến Ngự” là chuyện không có thật, hoặc ai đó hư cấu viết giúp cho Liên Thành nên trật lất, hoặc Liên Thành không biết gì về tôi, mà muốn viết vu khống tôi nên không cần sự thật cứ dựng chuyện viết bừa để lừa bịp những người chưa biết tôi!
1.5. Liên Thành viết: “Nguyễn Đắc Xuân cựu học sinh Quốc Học 1956-1961, sinh viên Văn khoa và Đại học Sư phạm 1961-1966, ban Sử địa.”
NĐX bình luận: Liên Thành là “sếp” công an mật vụ của VNCH tại Thừa Thiên-Huế, đã “lập hồ sơ cá nhân” của Nguyễn Đắc Xuân, mà không biết Nguyễn Đắc Xuân là sinh viên Ban Việt Hán Đại học Văn khoa và cả Đại học Sư Phạm đến 5 năm (1961-1966) lại bảo Nguyễn Đắc Xuân là sinh viên “ban Sử địa” thì thật buồn cười. Nếu có ai chưa tin thì cứ điện thoại hỏi ông Nguyễn Lý Tưởng – dân Sử địa ngày xưa, hiện đang rất gần gũi với Liên Thành ở Hoa Kỳ sẽ được xác nhận ngay. Qua chi tiết nhỏ nầy không rõ trình độ công an mật vụ của Liên Thành thuộc cái cấp buôn làng thôn bản nào mà kém đến vậy. Các nhân viên CIA thầy của Liên Thành, nếu họ biết cậu học trò của mình kém đến vậy, chắc họ tiếc đã lỡ bỏ công dạy cho Liên Thành.
1.6. Liên Thành viết: “Trong hồ sơ cá nhân của thầy (tức Hoàng Phủ Ngọc Tường) và của Nguyễn Đắc Xuân, cả hai đều hoạt động trong ban Trí vận của cơ quan Thành ủy Huế, trực thuộc Thành ủy viên Hoàng Kim Loan”.
NĐX bình luận: “Trong hồ sơ cá nhân… của Nguyễn Đắc Xuân” là hồ sơ nào? Hồ sơ do Liên Thành – Chỉ huy trưởng BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế lập hay hồ sơ do ngành an ninh của chính quyền Thừa Thiên-Huế ngày nay lập? Nếu hồ sơ do Liên Thành lập thì khi chạy khỏi Huế sau ngày 26-3-1975, Liên Thành có đủ thì giờ để lục tìm và mang theo không? Và có đem hồ sơ đó sang Mỹ để tham khảo khi viết BĐMT không? Chắc chắn là không. Nếu là hồ sơ cá nhân của Nguyễn Đắc Xuân do ngành an ninh Thừa Thiên-Huế ngày nay lập thì làm sao Liên Thành có được để tham khảo? Trong lý lịch cán bộ của tôi cho đến nay vẫn ghi “Ngày tham gia cách mạng 10-7-1966” tức là ngày tôi ra chiến khu theo cái thư của bạn tôi là Hoàng Phủ Ngọc Tường. Cái mốc thời gian nầy rất quan trọng, nó liên quan đến thời gian tham gia Cách mạng trong lý lịch Đảng viên của tôi, liên quan đến lương bổng, không thể khai khác được. Nếu khai khác tôi phạm tội man khai lý lịch, sẽ bị kỷ luật ngay. Cho đến nay tôi chưa hề bị kỷ luật vì tội man khai lý lịch bao giờ. Lý lịch của tôi chính xác, rõ ràng. Do đó chuyện Liên Thành viết Nguyễn Đắc Xuân “hoạt động trong ban Trí vận của cơ quan Thành ủy Huế, trực thuộc Thành ủy viên Hoàng Kim Loan” là chuyện tưởng tượng, bịa đặt với ác ý kết tội tôi trong thời gian tranh đấu Phật giáo Nguyễn Đắc Xuân đã là cán bộ trí vận của Mặt trận Giải phóng rồi. Trong hồi ký của tôi, tôi đã viết rõ: Tôi chỉ gặp ông Hoàng Kim Loan trên đường tôi ra chiến khu ngày 10-7-1966 mà thôi.     
Tóm lại, chuyện học hành, tranh đấu, viết lách của tôi và tiểu sử của tôi công khai trên báo chí trong và ngoài nước mấy chục năm qua như thế, tôi cũng đang sống sờ sờ ở Huế đây, nhiều trang Web trong và ngoài nước luôn cập nhật các bài viết của tôi, thế mà Liên Thành dám mạo nhận là bạn học của tôi, hư cấu thông tin về nhân thân của tôi sai 100% như thế, thật quá liều. Chuyện thật về tôi ai cũng có thể kiểm chứng được mà Liên Thành dám phịa ra như thế, thì thử hỏi những bí ẩn chính trị, lịch sử liên quan đến những người đã chết mà Liên Thành tung ra trong BĐMT có được bao nhiêu phần trăm sự thật? Phải chăng 0 %?
2. Hỏi:Nghe nói ông Liên Thành là học trò của nhà giáo Ngô Kha, có đúng không? Cho đến nay bà con ở Huế có ai biết thêm thông tin gì về cái chết của thầy Ngô Kha không?”
Trả lời: Liên Thành nguyên là học trò của Ngô Kha, đã công nhận với nhiều bạn bè của ông. Theo ông Lê Quang X. (PA 25, người khai thác can phạm sau năm 1975, nay đã hưu trí), cho biết hồ sơ can phạm khai còn lưu tại Công an Thừa Thiên-Huế thì vào khoảng đầu năm 1973, hai mật vụ Lê Đình Liên và Nguyễn Đình Cáp đi giám thị bằng Honda 67 thì gặp nhà thơ Ngô Kha mặc áo măng-tô trắng, đầu đội mũ phớt đi qua cầu Gia Hội. Liên và Cáp đón đầu Ngô Kha và yêu cầu Kha lên xe. Kha không chút ngạc nhiên bèn hỏi: “Lên xe nào?” Liên đáp: “Xe 67 nầy.” Kha trèo lên xe. Chiếc xe 67 chở ba vụt chạy về gặp Thiếu úy Trưởng G đặc biệt Dương Văn Sỏ tại nhà riêng ở Nguyễn Thị Giang (bên cạnh quán Bar Why not, 21 Võ Thị Sáu, Huế ngày nay). Sỏ nói: “Để tau ăn cơm xong rồi sẽ đi báo ôn.” Ăn xong Sỏ đi báo với Trương Công Ân và Ân báo với Liên Thành. Kết quả các nhân viên mật vụ vừa bắt Ngô Kha nhận được chỉ thị của Liên Thành “1.000 năm mây bay”. Đến 4 giờ chiều Ngô Kha vẫn còn ở Ty thẩm vấn. Ân đến hỏi bọn Sỏ: “Sao chưa hành động?” Chúng nói trời chưa tối. Đến tối mấy đứa Sỏ, Nghệ, Liên, Cáp chở Ngô Kha về hướng Thuận An, lấy búa đánh Kha chết ngay tại Mỹ An rồi trùm bao bố thả xuống hói gần đó. Bọn chúng báo cáo với Liên Thành: “1.000 năm…” xong và đã giải quyết ở Mỹ An. Liên Thành chửi: “Chúng bây quá ngu, như rứa dân chúng biết răng? Đi vớt lên, kiếm chỗ chôn cho thật kín đáo ngay.”
Nhà thơ Ngô Kha (1935-1973)-thầy giáo của Liên Thành (Ảnh tư liệu của tác giả)
Theo gia đình các ông bác trong họ Ngô của Ngô Kha, cùng lứa tuổi và ở gần nhà Ngô Kha (30 Lê Đình Chinh, P. Phú Hiệp ngày nay)[2], bổ sung thêm một vài chi tiết cụ thể hơn:
Hai tên mật vụ Lê Đình Liên và Nguyễn Đình Cáp phát hiện Ngô Kha qua cầu Gia Hội và vào nhà 42 Bạch Đằng – nhà của bà quả phụ Ngô Giu[3], chị dâu của Ngô Kha, chúng sục vào nhà bắt Ngô Kha. Bà Ngô Giu là công chức biết rõ luật lệ bèn hỏi:
“Các ông bắt người phải có lệnh của cấp có trách nhiệm chớ?”
Hai tên mật vụ ú ớ rồi để một tên ở lại canh giữ Ngô Kha và một tên chạy lấy lệnh của Liên Thành. Trong lúc chờ đợi bà Ngô Giu bảo Ngô Kha:
“Chú trèo tường phía sau nhà trốn đi. Để chị lo đối phó với mấy người ấy.”
Ngô Kha không đồng ý nên trả lời chị:
“Em làm việc chính đại quang minh. Có việc gì phải trốn. Cứ để cho chúng bắt!”
Quả nhiên sau đó chúng đem lệnh bắt Ngô Kha do Liên Thành ký đến và bắt Ngô Kha đem đi. Ngô Kha mất tích từ đó.
Họ hàng của Ngô Kha cũng cho biết: Theo lệnh của Liên Thành, xác của Ngô Kha được vớt lên khỏi bờ hói ở Mỹ An đem lên bỏ nằm chết trần truồng trong phòng thẩm vấn. Không rõ từ nguồn tin nào, ông Phạm Bá Nhạc, Phó Công an quận Hương Thủy, biết chuyện ấy rất đau đớn. Ngô Kha có một người chị là mẹ kế của Phạm Bá Nhạc. Dù sao trên danh nghĩa Ngô Kha cũng là cậu của Nhạc. Nhạc liền lên Huế xin Liên Thành một ân huệ cho phép Nhạc mua cho Ngô Kha một cái săng. Liên Thành đồng ý với điều kiện phải giữ tuyệt đối bí mật. Nếu để lộ Nhạc sẽ bị giết ngay. Nhạc cam kết sẽ giữ bí mật tuyệt đối. Ngô Kha được táng ở cồn mồ phía nam Huế. Để giữ mạng sống của mình, Nhạc không dám hé môi ngay với bà Cao Thị Uẩn, thân mẫu của Ngô Kha. Sau 1975, Phạm Bá Nhạc đi học tập. Nhiều năm sau nầy, trước khi đi HO, Nhạc có nói nhỏ cho gia đình biết Ngô Kha đã chết vào ngày 27 tháng Chạp năm Nhâm Tý (nhằm ngày 30-1-1973) chứ không phải ngày 25 tháng Chạp như gia đình và bạn bè của Ngô Kha thường tổ chức kỵ trong mấy chục năm qua. Còn xác Ngô Kha được táng cụ thể chỗ nào thì vẫn còn trong vòng bí mật.
Gần đây, đối chiếu từ nhiều nguồn tư liệu, tôi đã khoanh vùng được nơi táng Ngô Kha ở cồn mồ làng An Cựu. Sau năm 1975 cồn mồ đó đã bị giải tỏa san lấp để dựng xí nghiệp Gỗ Hương Giang, nay là khu kho ngoại quan phía sau trạm xăng dầu gần Bến xe phía Nam. Xác của giáo sư, nhà thơ Ngô Kha được vùi lấp cụ thể vào tọa độ nào, hay còn nằm dưới đất vùng kho ngoại quan, hay đã được dời đi đâu v.v… là những câu hỏi ám ảnh chúng tôi, những người bạn, những người học trò và gia đình Ngô Kha trong mấy chục năm qua. Không trả lời được những câu hỏi nầy, chúng tôi thật không dám ngẩng đầu nhìn anh khi gặp lại ở chốn vĩnh hằng. Chúng tôi đang có kế hoạch nhờ nhà ngoại cảm Bích Hằng (Hà Nội) chỉ hộ. Nhưng nhân đây tôi có lời khẩn thiết gởi đến các ông từng làm việc dưới trướng Liên Thành biết rõ đầu đuôi cái chết của Ngô Kha như Lê Văn Thiện, Dương Văn Sỏ (có tin đã qua đời), Trương Công Ân,  Phạm Bá Đạt, Lê Đình Liên, Nguyễn Đình Cáp, Hồ Đình Chi v.v… đang ở Hoa Kỳ hãy cởi bỏ mọi hận thù, bố thí một chút từ tâm chỉ cho gia đình Ngô Kha[4] và họ Ngô ở Thế Lại và chúng tôi biết Ngô Kha đã được chôn lấp nơi đâu để chúng tôi đến đó dựng cho Ngô Kha một tấm bia và hằng năm đến ngày 27 Tết, đến thắp cho hương hồn Ngô Kha một nén hương. Mong lắm thay.
3. Hỏi: Ngoài việc giết thầy Ngô Kha, Liên Thành có còn phạm thêm những tội ác nào nữa không?”
Trả lời: Vì giới hạn của một  lá thư trả lời bạn đọc, tôi chỉ xin kể thêm một tội ác nữa của Liên Thành sau đây:
Biết tôi là người nghiên cứu về cụ Cường Để, mỗi lần gặp tôi anh Hà Thúc Quyết (bà con với ông Hà Thúc Ký, Đảng trưởng Đảng Đại Việt) hay kể chuyện người cháu nội của cụ Cường Để là Liên Thành, sếp công an mật vụ ở Huế cuối những năm sáu mươi đầu những năm bảy mươi. Quyết kể nhiều chuyện Liên Thành ác dã man. Tôi tường thuật lại sau đây một chuyện: Chuyện Liên Thành chặt đầu một người bạn thân trốn ở Thủy Bằng hồi mùa Hè năm 1968.
Theo Hà Thúc Quyết, người biết rõ chuyện chặt đầu bạn ấy của Liên Thành là bác sĩ Hà Công Lương (hiện đang định cư ở Nam California). Nghe kể nhiều lần nhưng tôi không dám tin. Rồi một hôm, vô tình tôi gặp cả Hà Thúc Quyết và Hà Công Lương ở quán cà-phê Sơn bên bờ sông Hương, tôi hỏi trực tiếp Hà Công Lương chuyện Liên Thành chặt đầu bạn thực hư như thế nào. Hà Công Lương khẳng định chuyện ấy có thực.


Di ảnh Hồ Đăng Lương, bạn rất thân của
Liên Thành ngày xưa
(Ảnh tư liệu của tác giả)
Qua thông tin của Hà Thúc Quyết, Hà Công Lương, tôi gặp cô Hồ Thị Châu, em ruột Hồ Đăng Lương, ở Huế, để phối kiểm lại các nguồn thông tin tôi đã nghe kể. Xin tóm tắt sự kiện đã được phối kiểm như sau:
Hồi đầu những năm sáu mươi thế kỷ trước, Hồ Đăng Lương ở Thôn Dương Xuân Thượng 1 (bên phải đàn Nam Giao), có hai người bạn cùng học Trường Tiểu học Nam Giao là Hà Công Lương và Liên Thành. Nhà của Hồ Đăng Lương khá, ông bà Hồ Đăng Duyên và bà Thái Thị Sen lại rất quý bạn của con. Vì thế Hà Công Lương và Liên Thành hay ở lại ăn cơm, học bài, chơi đùa ở nhà Hồ Đăng Lương. Ba người thân nhau như ruột thịt cho đến những năm học Trung học.

Bia mộ Hồ Đăng Lương tại thôn Dương Xuân Thượng 1, bên phải đàn Nam Giao
(Ảnh của tác giả)
Sau đó Hà Công Lương đỗ Tú tài rồi vào Đại học Y khoa, Hồ Đăng Lương mãi đến năm 1967 mới đỗ và trốn lính, ở nhà với cha mẹ. Liên Thành học kém, nhà nghèo, không học lên cao được phải đi lính địa phương quân. Đến tháng 6-1966, Liên Thành xin chuyển qua làm Cảnh sát Đặc biệt, được Nguyễn Ngọc Loan tin dùng trong việc đàn áp Phong trào Đấu tranh Đô thị mùa Hè 1966 ở Huế. Vì chơi thân với Hồ Đăng Lương nên Liên Thành biết bạn mình có tư tưởng chống VNCH. Sau Tết Mậu Thân 1968, Liên Thành được báo tin Hồ Đăng Lương có hoạt động cho Việt cộng trong Tết Mậu Thân. Không nghi ngờ gì nữa, Liên Thành tìm bắt Hồ Đăng Lương. Đăng Lương biết thế nên trốn ra khỏi địa phương. Sau một thời gian truy tìm, đến ngày 6-6-1968, Liên Thành phát hiện được hầm bí mật nơi Hồ Đăng Lương đang trốn ở gần nhà ông Kiểm Hoanh, ở vùng núi sau lưng Lăng Khải Định thuộc xã Thủy Bằng. Liên Thành cho giở nắp hầm bí mật và gọi Đăng Lương lên nộp mạng. Nhưng Đăng Lương không lên,  Liên Thành rút chốt lựu đạn ném xuống hầm, Đăng Lương chụp lựu đạn ném lên lại. Liên Thành điên tiết cho đào hầm bí mật của Đăng Lương, kéo Đăng Lương lên khỏi miệng hầm và cầm dao chặt đầu người bạn học đã từng ăn một mâm, ngồi học cùng một bàn suốt nhiều năm xưa. Sau đó Liên Thành lấy đầu của Hồ Đăng Lương cắm vào một cái cọc chôn bên con đường từ lăng Khải Định về làng Dã Lê Thượng xã Thủy Phương với mục đích nhử phục kích đồng đội đồng chí của Đăng Lương ban đêm về lấy đầu Đăng Lương. Nhưng cả tuần sau Liên Thành không phục kích được ai, dân chúng địa phương sợ hôi thối đã lén lấy đầu Đăng Lương đem chôn. Đăng Lương bị bạn Liên Thành thảm sát, thân dập một nơi, đầu chôn một nẻo. Đến sau 1975 một vài năm, một đồ đệ cũ của Liên Thành (hiện còn sống gần chợ Bến Ngự) báo cho bà Thái Thị Sen biết Hồ Đăng Lương, con trai bà, đã bị thảm sát như thế nào và đã bị vùi dập nơi đâu. Nhờ thế gia đình của Hồ Đăng Lương tìm được thân và đầu của anh đem về ráp lại táng ngay trong khu vườn, nơi Liên Thành, Hà Công Lương và người đã bị bạn thảm sát chơi đùa năm xưa.
Chuyện thảm sát đã diễn ra hơn 40 năm, nhưng mỗi lần nghe kể lại ai cũng rùng mình.
Chuyện Liên Thành giết thầy Ngô Kha, chặt đầu bạn Hồ Đăng Lương chưa được Liên Thành viết trong hồi ký Biến động miền Trung. Nhân trả lời bạn đọc, tôi đề nghị những người đang có cuốn sách này nên photocopy bài viết này kèm theo cuốn sách để thấy rõ hơn “cái công lao to lớn” của Liên Thành thời làm Chỉ huy trưởng BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế đối với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu  trước đây.
Trong quá khứ Liên Thành đã hành xử với thầy mình và bạn mình dã man như thế, đến tuổi già đáng lẽ phải hồi tâm sám hối với trời đất, với ông bà để xin được giải tội trước khi giả từ cái cõi tạm nầy, nhưng Liên Thành đã không những không hồi tâm sám hối mà còn làm ngược lại. Lưu vong ở Mỹ, Liên Thành không gây được tội ác giết người bằng da bằng thịt nữa, nay xoay qua viết sách bịa đặt bao điều xằng bậy, ác độc hòng giết tinh thần, uy tín xã hội của những người không cùng “lý tưởng” làm tay sai cho ngoại bang Mỹ như mình. Nghiên cứu văn hóa, lịch sử Việt Nam tôi chưa hề gặp một mẫu nhân vật phản diện nào mang cái nghiệp độc ác, quỷ quyệt nặng nề như Liên Thành. Đến bao giờ Liên Thành mới giải được cái nghiệp chướng ấy?
Chúng ta hãy tin vào luật nhân quả!
Huế, 20-11-2009
© 2009 Nguyễn Đắc Xuân