Nguyễn Đức Hiệp
“Quand je prends des
photos, ce n’est pas moi
qui photographie, c’est quelque chose en moi qui appuie
sur le déclencheur sans que je décide vraiment...”
qui photographie, c’est quelque chose en moi qui appuie
sur le déclencheur sans que je décide vraiment...”
Pierre Verger (1902-1996)
Fernand Nadal
Ông Nadal là người Ả
Rập, sinh ở Algérie (Hussein-Dey năm 1898 ?
hay El Affroun năm 1902?). Ông Nadal đến Đông
Dương trong năm đầu của thập
niên 1920. Năm 1921, thì ông trú ngụ
ở số 150 đường Catinat, Saigon (1). Có
thể ông là người Algérie đầu
tiên đến và lập nghiệp ở
Saigon.
Một vài ảnh của ông
được đăng trong báo "Le
Monde colonial illustré"
giữa các năm 1929 và 1931, và chính
phủ toàn quyền ở Đông Dương
cũng dùng ảnh của ông. Ông thực
hiện nhiều phóng sự ảnh chính
thức cho chính quyền Pháp ở Nam Kỳ
như ảnh của trung đoàn 11 bộ binh
thuộc địa, các tòa nhà công
sở, tượng đài ở Saigon.
Trong các địa chỉ thương mại
ở Saigon năm 1922, cơ sở của ông là
nơi chụp hình, bán các dụng cụ
và phụ tùng nhiếp ảnh. Ông
Nadal mướn một người Âu và 6
người Việt cho công ty ông. Ông
làm việc nhiếp ảnh có lúc cho
chính quyền, còn lúc khác thì
chụp hình cho các chủ những biệt
thự, cho các khách sạn ở các
nơi du lịch như Angkor, chụp những loạt
hình quảng cáo cho các thương
gia ở Saigon. Ngoài ra ông còn in các
album ảnh, các cartes postales, và là
chủ một cơ sở nhiếp ảnh ở
Phnom Penh tương tự như ở Saigon.
Hình 45: Fernand Nadal, trong “album
Nadal”
năm 1926 – Rue de Canton. Đường Canton
(nay là Triệu Quang Phục), hình này
cũng có in lại trên carte postale. Có
lẽ đây là ngày lễ quốc
khánh của Cộng hòa Trung quốc (10
tháng 10). Ở đầu đường và
cuối đường có cổng chào
mừng, trên cổng có đề hàng
chữ “cung chúc dân quốc vạn tuế”
(6). Bên phía trái cổng, có
treo cờ “tam tài” của Pháp.
Ông có chụp ảnh những cơ sở
kỹ nghệ thương mại lớn ở
Saigon và vùng phụ cận, và trong năm
1923-1924 các ảnh "La Bien-Hoa Industrielle"
của công ty gỗ “La Société
forestiere”, lúc đó có độc
quyền xuất khẩu gỗ ở Đông
Dương. Năm 1930, ông làm phóng sự
ảnh cuộc viếng thăm chính thức
của thống đốc Philippines (lúc này
vẫn còn là thuộc địa của
Mỹ), ông Dwight Davis, ở Hà Nội.
Năm 1935, các ảnh cartes postales của
ông đề địa chỉ là số
120 đường Catinat. Trong những năm của
thập niên 1950, ông vẫn còn sản
xuất in các cartes postales.
Võ An Ninh (1907-2009) (12)
Võ An Ninh, tên thật là Vũ An Tuyết,
sinh ngày 16 tháng 6 năm 1907 tại phố
Hàng Gai, Hà Nội. Ngay từ hồi còn
trẻ, Võ An Ninh đã mê chụp ảnh.
Đạp xe đạp khắp Hà Nội chụp
ảnh. Dưới thời Pháp thuộc, ông
làm phóng viên nhiếp ảnh của Sở
Kiểm Lâm. Năm 1935, bức ảnh “Buổi
sáng trên đê sông Hồng”
đoạt Giải ngoại hạng trong cuộc
thi do Hội khuyến khích Mỹ thuật và
Kỹ nghệ Việt Nam SADAEI (Société
Annamite d’encouregement à l’Art et l‘Industrie)
tổ chức. Năm 1938, ảnh “Đẩy
thuyền ra khơi” được giải
thưởng ngoại hạng triển lãm ảnh
Paris – Pháp.
Võ An Ninh đi khắp mọi miền đất
nước Bắc-Trung-Nam để chụp ảnh
với cái camera của Đức hiệu Zeiss
Ikon (1928) và ngay mãi tới gần cuối
đời (2000) ông vẫn dùng độc
chiếc máy này trong tay với phim đen
trắng.
Ở Hà Nội, ông có nhiều ảnh
nổi tiếng về Hồ Gươm như Hồ
Gươm buổi sương mai (1935), Hồ Gươm
trong bốn ảnh "Hà Nội bốn mùa".
Ngoài ra ông có những bức ảnh
gợi nhớ về Hà Nội của những
ngày thanh lịch xa xưa: Trong vườn si
đền Voi Phục (1942), Gió nồm (Đê
sông Hồng, 1948), Nhớ xưa (1944), Cúc
Nghi Tàm (1956), Thiếu nữ Hà Nội
(1960), Bậc đá đền Voi Phục
(1956), Chùa Láng (1941), Cụ đồ viết
câu đối Tết (1940), Tranh Tết làng
Hồ (1941), Phố Hàng Buồm (1940), Mái
nhà cổ phố Hàng bạc (1956), Cửa
Ô Quang Chưởng (1940), Gò Đống Đa
(1942), Lầu Khuê Văn và bia Tiến sĩ
ở Văn Miếu (1945), Bình Minh trên bãi
Phúc Xá (1944), Xe tay ngoại thành (1935),
Thu hoạch vụ chiêm (1935), Đông về
(Từ Liêm, 1935), Bến thuyền cầu đất
(1935), Chợ bán nồi đất (Bưởi,
1935), Chợ Đồng Xuân (1956), Sen Tây Hồ
(1941),
Hình 46: Võ An Ninh - Chiều hè ở Hồ
Tây, Hà Nội (1954). Lúc này khu vực
Hồ Tây vẫn còn hoang vắng. Các
thiếu nữ mặc áo dài đi hóng
mát vào buổi chiều hè. Một nét
thanh lịch của Hà Nội đầu thập
niên 1950.
Một số những bức ảnh nghệ thuật
ở Saigon có giá trị về nghệ
thuật và tư liệu xã hội như
"Chợ bến thành và bến xe thổ
mộ" (1949), "Cụ đồ viết câu
đối Tết" (Saigon, 1950), "Lăng ông
ngày tết" (1952), "Nhà thờ Hồi
giáo" (1950), "Khói hương chùa
Bà, Chợ Lớn" (1953), “Thiếu nữ
Saigon” (1951), “Qua Cầu” (Thủ Đức,
1953), "Lẻ loi" (1941), "Sóng đôi"
(1942), "Vườn Tầm Vông ngoại thành"
(1950), "Ngày xá lợi" (1951), "Đêm
phục sinh" (1950), "Bình minh trên sông"
(1952).
Một bộ tư liệu quí giá khác
trong bộ sưu tập ảnh của cụ là
những cảnh trong nạn đói năm Ất
Dậu 1945 mà cụ ghi lại như một
chứng nhân những gì mà thực dân
Nhật-Pháp đã gây nên ở
miền bắc nước ta. Cảnh người
chết đói ở đường phố Hà
Nội, trên đường từ các tỉnh
(mà nặng nhất là Thái Bình)
vào thủ đô, xác người đầy hốt trên xe đẩy. Đây là bộ sưu tập duy nhất và đầy đủ ở Việt Nam về nạn đói năm 1945.
vào thủ đô, xác người đầy hốt trên xe đẩy. Đây là bộ sưu tập duy nhất và đầy đủ ở Việt Nam về nạn đói năm 1945.
Pierre Verger (1902-1996)
Người gốc Bỉ-Hòa Lan, Pierre Verger,
sinh năm 1902 ở Paris, và mất năm 1996 ở
Salvador (Ba Tây), nơi ông định cư
và được ông xem như là quê
hương thứ hai của mình. Ông là
nhà nhiếp ảnh và dân tộc học
nổi tiếng và là một trong những
người sáng lập ra “Alliance Photo”
năm 1935 ở Pháp, một tổ chức của
các nhà nhiếp ảnh tự do, trong đó
có những nhà nhiếp ảnh huyền
thoại sau này như Henri Cartier-Bresson, Pierre
Boucher và Robert Capa.
Bị đuổi học lúc 17 tuổi vì
thiếu kỷ luật, ông làm việc
trong cơ sở thương mại in ấn của
gia đình, nhưng lúc nào ông cũng
cảm thấy nhàm chán. Sau khi ông được
Pierre Boucher giới thiệu về nghệ thuật
nhiếp ảnh vào năm 1932, ở tuổi
30, ông cho rằng mình chỉ sống đến
tuổi 40 nên ông quyết định sống
một cuộc đời đầy hứng khởi,
tận hưởng mỗi phút giây trong
cuộc sống. Cũng năm này, mẹ ông
mất, ông và nhà nhiếp ảnh
Pierre Boucher đã đi bộ toàn bộ
chu vi đảo Corse dài 1500 km để chụp
ảnh và suy nghĩ về cuộc sống
(24).
Sau đó, ông rời Pháp đi khắp
thế giới chụp ảnh với chỉ rất
ít đồ trong va ly và máy ảnh
Rolleiflex. Ở Nhật (1934) và kế đó
Trung Hoa, ông chụp nhiều hình ảnh ở
Kyoto, Nara, Tokyo, Bắc Kinh, Thượng Hải, Sán
Đầu, Hồng Kông, Nam Kinh,... Ông đạp
xe đạp khắp các nước Pháp,
Tây Ban Nha, Ý và vượt sa mạc
Sahara bằng lạc đà đến vùng
mà ngày nay là các nước Mali,
Burkana Faso, Niger, Benin. Ở đây ông chụp
ảnh và có liên hệ sâu đậm
với sắc dân Yoruba, đây là khởi
đầu của sự đam mê của ông
về văn hóa Phi châu da đen.
Ông viếng Mỹ, Mexico và các đảo
ở Trung Mỹ. Và trong dịp thứ hai băng
qua Liên Xô đến Trung Hoa, ông đã
chứng kiến và chụp hình ảnh
cuộc chiến tranh Trung-Nhật (1937). Sau đó
ông đến Đại Hàn, Phi Luật
Tân và đến Đông Dương
(1938). Ông chụp nhiều hình về con
người cảnh sinh hoạt ở Saigon, Hà
Nôi, Ban Mê Thuột, Hội An, Huế, Đà
Nẵng, Kontum, Pleiku, Mỹ Sơn, Nha Trang, Qui Nhơn,
Lai Châu, Mộc Châu, Hòa Bình... nhiều
hình ảnh ở Cam Bốt như Angkor, Phnom
Penh, Battambang, ở Thái Lan, và ở Lào
(Vietiane, Luang Prabang, Savanakhet).
Trong lúc ở Đông Dương năm
1938, vẫn còn lo nghĩ là mình chỉ
sống đến 40 tuổi và tính lại
là chỉ còn 1500 ngày nữa để
sống. Ông vội đi mua ngay một dây
thước dài đúng 1.5 mét. Quyết
định là mỗi ngày ông sẽ
cắt đi 1 mm để nhắc nhở là
khi dây thước hết cũng là lúc
mình không còn trên cõi đời
này nữa. Và khi dây thước càng
gần hết thì phải quyết sống cho
mỗi ngày thật trọn, kích thích
mình phải làm gì hay nhất, đam
mê, sáng tạo và hữu ích nhất
trong mỗi giây phút còn lại (23). Ông
là người tự học, đọc nhiều
và ham muốn học hỏi chìm sâu
vào nhiều vấn đề và trở
thành chuyên gia về phim, ảnh, âm
nhạc, lịch sử, nghệ thuật, dân
tộc học... Sau này các nhà nghiên
cứu xem ông là ‘”l’homme de
Renaissance” (người của thời Phục
Sinh, biết và tìm hiểu mọi vấn
đề tri thức).
Các hình ảnh của ông không
những có giá trị nghệ thuật mà
còn mang nhiều thông tin về con người,
phong tục ở các xứ sở ông đến.
Ông có những triển lãm và hợp
tác nhiều lần với Viện bảo tàng
Con người (Musée de l’Homme) ở
Paris từ những năm của thập niên
1930 đến thập niên 1980.
|
Hình 47: Saigon
(1938) – Nguồn
Pierre Verger
Foundation (22)
|
Hình 48: Saigon
(1938) – Nguồn
Pierre Verger
Foundation (22)
|
Sau Đông Dương, năm 1939 ông đến
Trung Mỹ (Mexico, Guatemala) và khi chiến tranh
thế giới thứ hai xảy ra, ông trở
lại Dakar (Phi châu) qua các nước Nam
Mỹ (Peru, Brazil, Argentina, Bolivia) nhập ngũ vào
quân đội trong đội nhiếp ảnh.
Tại đây ông gặp Théodore Monod,
giám đốc Viện nghiên cứu Phi Châu
da đen của Pháp (Institute Francais de l’Afrique
Noir, IFAN) và từ đó say mê nghiên
cứu một tôn giáo Phi châu - Ba Tây
đặc biệt của người da đen
thuộc sắc dân Yoruba ở Tây Phi và
Ba Tây (Bahia, Salvador, Sao Paulo) gọi là
Condomblé khi họ di dân qua Nam Mỹ.
Giải ngũ, ông trở lại Nam Mỹ và
làm nhiếp ảnh (1942-1946) cho Viện bảo
tàng quốc gia ở Lima (Peru). Ở Peru, cũng
chính là lúc đoạn milimét cuối
cùng của thuớc dây “đời
sống” của ông hết, lúc ấy
ông đọc quyển “The Importance of
Living” (Sự quan trọng của cuộc
sống) của nhà văn và triết gia
Lâm Ngữ Đường (Lin Yu Tang). Lâm
Ngữ Đường đã thay đổi tư
duy của ông về tiếp tục cuộc sống
(23).
Ông trở thành chuyên viên về văn
hóa Phi Châu - Ba Tây và định cư
ở Salvador. Ông dạy ở các đại
học Ba Tây và năm 1971 là Giám
đốc nghiên cứu Phi châu ở Trung
tâm nghiên cứu quốc gia Pháp (CNRS)
(24). Mặc dầu không được biết
tiếng nhiều ở Pháp, nhưng ông là
người trở thành huyền thoại trong
giới nghiên cứu và người dân
ở Salvador, Bahia và Tây Phi, nhất là
từ khi ông mất. Vào đạo của
người Yoruba, ông có tên là
“Fatumbi”, và trong đạo Ifa, ông
có chức vụ cao “Babalawo” (“cha
của bí mật”) mang trọng trách
không bao giờ tiết lộ bí mật của
đạo cho người ngoại đạo (23).
Pierre Fatumbi Verger cũng là một nhà nhiếp
ảnh huyền thoại với hơn 65,000 tấm
ảnh quí giá chụp ở khắp nơi
trên thế giới vào thế kỷ 20.
Tổng Luận
Bài này chỉ nêu lên sơ lược
về lịch sử nhiếp ảnh và sự
cống hiến về tư liệu của các
nhà nhiếp ảnh ở Việt Nam vào
cuối thế kỷ 19 và đầu thế
kỷ 20. Họ là các nhà nhiếp ảnh
Pháp, Hoa, Việt và các nước
khác; chỉ với mục đích ban đầu
là say mê nhiếp ảnh và sống với
nghề chụp ảnh nhưng những gì họ
để lại là những tư liệu
không những có giá trị nghệ
thuật, như đa số họ ước muốn,
mà còn có giá trị lịch sử,
văn hóa và xã hội mà hiện
nay chúng ta chưa khai thác hết.
Tác giả bài biên khảo này cho
rằng còn có rất nhiều tư liệu
ảnh rải rác ở các sưu tập
tư nhân nhiều nơi trên thế giới
cũng như các kho ảnh như kho ảnh
của Pháp ở “Archives nationales d’outre
mer” (ANOM) hay ở Việt Nam hiện nay chưa
được để ý đến đúng
mức. Một viện bảo tàng nhiếp ảnh
nếu được thành lập ở Việt
Nam sẽ là nơi hội tụ các tư
liệu ảnh mà các nhà sưu tập
tư nhân có thể đóng góp sẽ
rất bổ ích cho các nhà nghiên
cứu trong và ngoài nước về những
vấn đề và đề tài lịch
sử, văn hóa và xã hội ở
Việt Nam vào thế kỷ 19 và 20.
Nguyễn Đức Hiệp
Chú thích:
(6) Lúc này trong Chợ Lớn người
Hoa (trừ người Minh Hương) được
coi là ngoại kiều và có các
chi nhánh của Quốc Dân đảng hoạt
động công khai. Thời này, đường
Triệu Quang Phục là một trong những
trung tâm thương mại ở Chợ Lớn,
người Hoa ở đây đa số là
gốc Quảng Đông. Góc đường
Triệu Quang Phục và Nguyễn Trãi (rue
de Cay-mai) có chùa Bà Thiên Hậu,
một trong những ngôi chùa cổ nhất
ở Chợ Lớn, và cũng là Hội
quán của bang Quảng Đông (Tuệ
Thành Hội quán).
Tham khảo
-
Marie-Hélène Degroise,
Photographes en Outre-Mer (1840-1944),
http://photographesenoutremer.blogspot.com/
-
Daniel, Malcolm. "The Daguerreian Age in France: 1839–1855". In Heilbrunn Timeline of Art History. New York: The Metropolitan Museum of Art, 2000–.
http://www.metmuseum.org/toah/hd/fdag/hd_fdag.htm (October 2004). -
Daniel, Malcolm. "The Rise of
Paper Photography in 1850s France". In Heilbrunn Timeline of Art
History. New York: The Metropolitan Museum of Art, 2000–.
http://www.metmuseum.org/toah/hd/frph/hd_frph.htm (September 2008)
-
Hình ảnh một số từ
http://www.flickr.com/photos/13476480@N07/collections/ và http://belleindochine.free.fr/Saigon1882.htm
-
Nguyễn Đình Đầu, Tìm lại cầu tàu
nơi Bác Hồ rời cảng Sài Gòn, Báo Lao Động ngày 4/6/2011,
http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/Tim-lai-cau-tau-noi-Bac-Ho-roi-cang-Sai-Gon/45151
-
Xavier Guillaume, La terre du
Dragon, Tome 1, Publibook, Paris, 2004.
-
Phạm Phú Thứ, Tây hành nhật ký, Tô
Văn Nguyễn Đình Diệm và Văn Vĩnh, Nxb Văn Nghệ, Tp HCM, 2001.
-
Hình ảnh các camera xưa và nay,
http://www.collection-appareils.fr/general/html/listeD_imagettes.php?RadioGroup1=chrono&submit=Trier
-
Voyage d'exploration en indochine:
par les lieutenants Francis Garnier et Delaporte, Le Tour du Monde -
Volume XXII -1870-2nd semestre - Pages 305-321,
http://collin.francois.free.fr/Le_tour_du_monde/Frame7_textes/TdM_frame7.htm
-
La Conquête du delta du Tong-King,
Romanet du Caillaud, Le Tour du Monde, Volume XXXIV – 1877 – 2nd
semestre,
http://collin.francois.free.fr/Le_tour_du_monde/Frame7_textes/TdM_frame7.htm
-
Malcolm Daniel, Daguerre
(1787–1851) and the Invention of Photography, The Metropolitan Museum
of Art,
http://www.metmuseum.org/toah/hd/dagu/hd_dagu.htm
-
Nguyễn Đức Hiệp, Võ An Ninh: Nhiếp
ảnh và cuộc đời, 2009,
http://www.vannghesongcuulong.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=10502http://www.vannghesongcuulong.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=10502
-
Kho lưu trữ Bộ ngoại giao Pháp ,
http://www.archivesnationales.culture.gouv.fr/anom/fr/11_anc.documents/0905_Pestel/Pestel.html
-
http://www.liveauctioneers.com/item/4482940
-
Victor Goloubew, V.-T. Holbé,
Bulletin de l'Ecole française d'Extrême-Orient, Année 1927, Volume 27,
Numéro 27, p. 525.
-
Chronique, Cochinchine, Bulletin
de l'Ecole française d'Extrême-Orient, Année 1933, Volume 33, Numéro
33, p.1110-1111.
-
Vương Hồng Sển, Saigon năm xưa,
Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1991.
-
Barbara Creed and Jeanette Hoorn, Memory and History: Early Film, Colonialism and the French Civilising Mission in Indochina, in “French History and Civilization”, Papers from the George Rudé Seminar Volume 4, 2011, Edited by Briony Neilson and Robert Aldrich, http://www.h-france.net/rude/rudevoliv/CreedHoornVol4.pdf.
-
John Keay, The Mekong Exploration
Commission 1866-68: Anglo-French rivalry in South East Asia, Asian
Affairs, vol. XXXVI, no. III, November 2005,
http://end-of-empires-south-east-asia.wikispaces.com/file/view/THE+MEKONG+EXPLORATION+COMMISSION.pdf
-
Làng nhiếp ảnh Lai Xá, http://langnghenhiepanhlaixa.com/
-
J. Y. Claeys, Martin Hurlimann:
Ceylan et l’Indochine, architecture, paysages, scènes populaires,
Bulletin de l’École francaise d’Extrême-Orient, 1930, Vol. 30, no. 30,
pp. 180-181
-
Pierre Verger Foundation,
http://www.pierreverger.org/fpv/index.php?option=com_wrapper&Itemid=176
-
Doig Simmonds, Obituary: Pierre Verger, The Independent Sat. 2 March 1996,
http://www.independent.co.uk/news/people/obituary-pierre-verger-1339851.html -
Peter Cohen, Pierre Fatumbi Verger
as social scientist, Cahiers du Brésil Contemporain, 1999, n° 38/39, p.
127-151.
-
Annuaire général Administratif, Commercial et Industriel de l'Indo-Chine, 1908, 1909, 1910, 1911, Imprimerie F.-H. Schneider, Hanoi
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét