TT - Cho dẫu dấu tích của buổi đầu chúa Nguyễn Hoàng mở cõi hay về sau,
khi những vị vua yêu nước tiếp tục chọn Quảng Trị lập căn cứ kháng
chiến, đã bị nhạt nhòa thì tâm khảm con dân miền đất này vẫn ghi lòng
tạc dạ niềm tri ân với tiền nhân. Một trong những niềm tưởng niệm ấy là
ngôi trường trung học đầu tiên của tỉnh Quảng Trị được mang tên chúa:
Trường trung học Nguyễn Hoàng.
Trường trung học Nguyễn Hoàng xưa -Ảnh tư liệu chụp năm 1958
Trường trung học Nguyễn Hoàng xưa -Ảnh tư liệu chụp năm 1958
Trường Nguyễn Hoàng
Hiếm có ngôi trường nào đặc biệt như Trường Nguyễn
Hoàng. Được một nhóm thân hào, nhân sĩ ở thị xã Quảng Trị lập ra vào năm
1951 là trường trung học tư thục, năm học tiếp theo được công nhận là
trường công lập và đến niên khóa 1953-1954 mang tên Trường trung học
Nguyễn Hoàng. Quảng Trị vốn là đất địa đầu giới tuyến, sau những tao
loạn thời cuộc Trường Nguyễn Hoàng đã có lúc dời vào tận Hòa Khánh (Đà
Nẵng) nhưng vẫn giữ nguyên tên gọi.
Sau 24 năm tồn tại, sau ngày giải phóng (1975) ngôi
trường trung học đầu tiên của tỉnh Quảng Trị không còn mang tên Nguyễn
Hoàng. Trên vị trí trường xưa mọc lên một ngôi trường trung học mới mang
tên Trường cấp III Triệu Hải, và sau những lần tách nhập địa giới hành
chính, bây giờ ngôi trường ấy mang tên Trường THPT thị xã Quảng Trị.
Trường Nguyễn Hoàng không còn mang tên xưa nhưng những
thế hệ cựu học sinh Nguyễn Hoàng đã mang theo hình ảnh ngôi trường cùng
tên vị chúa mở cõi đi khắp năm châu bốn bể. Hiếm có ngôi trường nào với
nhiều thế hệ trò giỏi như Trường Nguyễn Hoàng, không chỉ trước 1975 mà
hơn 30 năm nay vẫn gìn giữ và phát huy truyền thống đất học.
Đi đến đâu, những cựu học sinh miền đất này vẫn mang
niềm tự hào “học trò Nguyễn Hoàng”, dù họ đang là anh nông dân hay chữ
lam lũ ruộng vườn hoặc những nhà khoa học, doanh nhân đang sống ở chân
trời góc biển. Đó cũng là sự tưởng niệm lặng lẽ rằng cho dẫu thế nào thì
không ai, không điều gì bị lãng quên, như sau này nhà thơ Nguyễn Duy
cảm khái về lễ cải táng vua Duy Tân: “Bao triều vua phế đi rồi/Người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ”.
Năm 2006, những cựu học sinh Nguyễn Hoàng đã góp tay để
cho ra đời tập sách Chân dung và kỷ niệm. Chỉ chưa đầy hai năm, tiếng
gọi của những cựu học sinh Nguyễn Hoàng đã nối vòng tay lan xa khắp các
châu lục, đã có bốn tập sách, mỗi tập dày ngót ngàn trang in những hồi
ức, kỷ niệm về ngôi trường. Tâm nguyện của những học trò ra đi từ mái
trường này vẫn là không làm điều gì thẹn với uy danh tiền nhân mà ngôi
trường được mang tên.
Mơ một nơi lưu bóng tiền nhân?
Dấu ấn của các chúa Nguyễn trên đất Quảng Trị không chỉ
ở Ái Tử, Trà Bát, Cửa Việt… Bây giờ đi ngược lên miền tây huyện Gio
Linh, nơi những rừng cao su xanh tốt bạt ngàn, đặc biệt với hệ thống
giếng cổ độc đáo được xếp hạng di tích quốc gia, ít ai biết miền đất ấy
đã được Nguyễn Hoàng mở mang bằng việc đưa các tù binh nhà Mạc lên đấy
khai khẩn, lập nên làng xóm (sau này cũng với chính sách ấy ông đã đưa
tù binh nhà Trịnh vào khai phá các vùng đất mới từ Quảng Ngãi vào đến
Phú Yên ngày nay).
|
Chúa
Tiên Nguyễn Hoàng mất tháng 6-1613. Ở ngôi 56 năm, thọ 89 tuổi. Mộ ông
lúc đầu táng ở Thạch Hãn, sau này cải táng đưa vào La Khê, huyện Hương
Trà, gọi là lăng Trường Cơ.
Trường
trung học đầu tiên ở Quảng Trị có quyết định mang tên Nguyễn Hoàng cùng
lúc với các trường trung học Đào Duy Từ ở Đồng Hới, Phan Chu Trinh ở Đà
Nẵng, Trần Quý Cáp ở Hội An, Võ Tánh ở Nha Trang, Duy Tân ở Phan Rang
và Phan Bội Châu ở Phan Thiết… theo quyết định ngày 6-5-1954 của Bộ Giáo
dục thời đó.
|
Hay giờ
đây cái tên Lao Bảo trở nên nổi tiếng là đầu cầu của hành lang kinh tế
Đông - Tây nối Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, là cửa ngõ đường xuyên Á,
một khu kinh tế đặc biệt trên biên giới Việt - Lào. Tuy nhiên ít ai
biết vào năm Nhâm Tuất (1622), chính Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên là
người đã lập nên dinh trấn Ai Lao này để canh phòng nạn cướp bóc nơi
biên thùy, tạo sự thông thương buôn bán với các bộ lạc Lạc Hoàn, Vạn
Tượng (Lào), khi ấy thủ phủ vẫn ở làng Trà Bát.
Nhiều nhà nghiên cứu đã nói rằng tìm hiểu về triều
Nguyễn mà thiếu chặng đường khởi nghiệp ở Quảng Trị là một thiếu hụt
đáng tiếc. Nhưng Quảng Trị, trải qua mấy chục năm binh lửa đạn bom, dấu
vết di tích đã không còn được bao nhiêu. Bom đạn phá một phần, những
nhìn nhận thiếu khách quan về nhà Nguyễn suốt mấy chục năm qua, sự vô
tâm của con người cũng góp phần xóa đi phần ít ỏi dấu tích còn lại.
Trong một lần làm việc với lãnh đạo huyện Triệu Phong
(với huyện lỵ đang đóng tại vùng đất Ái Tử), chúng tôi được biết huyện
Triệu Phong cũng mong muốn tôn tạo, trưng bày những dấu vết của thủ phủ
Ái Tử, dinh trấn Trà Bát. Nhưng cũng chỉ là ước mong vậy thôi, chưa có
gì khởi động. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân gợi ý khó có thể phục dựng
tất cả, bởi đó là công việc đòi hỏi nhiều kinh phí và tốn kém, nhưng có
một cách làm khác là thu nhỏ những di tích ấy bằng những mô hình với tỉ
lệ nhỏ hơn, và tập trung tất cả mô hình ấy vào một khu vực.
Ở Ái Tử có một khu đất rộng chạy sát sông Thạch Hãn lâu
nay vẫn được giữ để làm sân bay trong tương lai (thời chiến tranh là
sân bay quân sự của Mỹ). Tuy nhiên, mới đây quy hoạch sân bay cho Quảng
Trị đã được dời ra vùng Quán Ngang, huyện Gio Linh. Nhiều người mơ ước
trên khu đất định làm sân bay ấy, những dấu tích buổi đầu mở cõi của
chúa Nguyễn Hoàng được phục dựng, mô hình thành Tân Sở được tái hiện trở
thành một bảo tàng thu nhỏ nhưng sinh động, để rồi khi đến đó người ta
hình dung được lịch sử khai mở Đàng Trong đã bắt đầu từ miền đất Ái Tử
như thế nào, công cuộc kháng chiến của vua Hàm Nghi và thành Tân Sở đã
diễn ra ra sao… Âu cũng là hậu thế tri ân tiền nhân vậy!
Nhưng ước mơ chuyện ngôi trường xưa được mang lại tên
Nguyễn Hoàng, một con phố trung tâm nơi đô thị cửa ngõ Lao Bảo mang tên
Chúa Sãi… có là điều quá khó khăn khi lịch sử trước hết là sự công tâm
và quá khứ lịch sử cũng cần sòng phẳng?
LÊ ĐỨC DỤC
Như bao triều đại phong kiến khác tại VN trước đây, vương triều
Nguyễn cũng đã được thành lập, phát triển và lụi tàn theo nhịp phế hưng
của dòng chảy lịch sử dân tộc và theo đà trôi xuôi của thời gian.
Tuy nhiên, sự đánh giá đối với vương triều Nguyễn có vẻ
đặc biệt hơn so với các triều đại khác trong lịch sử nước ta. Đặc biệt ở
chỗ nhiều người chưa có được sự nhất trí trong nhận thức và sự giống
nhau trong quan điểm. Chẳng hạn có người cho rằng nhờ có nhà Nguyễn nên
nước ta mới có được một đất nước rộng lớn và hoàn chỉnh như ngày nay,
cũng có người lên án nhà Nguyễn là một triều đại “bán nước”.
| Đà Nẵng lấy tên chúa Nguyễn Hoàng đặt cho một con đường ở quận Hải Châu trung tâm thành phố -Ảnh: Đoàn Cường |
Thịnh rồi suy
Vương triều Nguyễn chỉ mới được thành lập một cách
chính thức vào đầu thế kỷ 19, nhưng sự chuẩn bị để đi đến kết quả đó đã
bắt đầu từ rất lâu, muộn lắm là cũng vào thế kỷ 17. Theo bước thăng trầm
của lịch sử mọi triều đại phong kiến, ngai vàng của các chúa Nguyễn
Đàng Trong đã bị lung lay ngay sau cái chết của chúa Nguyễn Phúc Khoát
vào năm 1765. Từ đó, Quốc phó Trương Phúc Loan, một con người vừa tham
quyền vừa tham tiền, đã khuấy động cả triều đình Phú Xuân.
Bằng mọi thủ đoạn gian ác, ông đã đưa hoàng tử thứ 16
của vị chúa thứ 8 Nguyễn Phúc Khoát là Nguyễn Phúc Thuần mới 11 tuổi lên
nối ngôi để lợi dụng. Sự lộng quyền của Trương Phúc Loan đã làm bộ máy
cai trị của nhà chúa yếu kém dần và lâm vào tình trạng “dột từ nóc dột
xuống”.
Đó chính là lý do khiến ba anh em nhà Tây Sơn nổi dậy ở
Quy Nhơn vào năm 1771. Năm 1777, Nguyễn Huệ đem quân từ Quy Nhơn vào
đánh Gia Định, chúa tôi nhà Nguyễn phải chạy xuống Định Tường, Cần Thơ
rồi Long Xuyên. Quân Tây Sơn đuổi theo, bắt được chúa và đoàn tùy tùng,
họ đều bị giết, chỉ trừ Nguyễn Phúc Ánh kịp thời rời đất liền ra trốn
tránh ở đảo Thổ Châu.
Sau đó, ông trở về Long Xuyên tụ tập được một số người
thân tín và tái khởi binh đánh chiếm lại Sài Gòn. “Rồi từ đó, suốt 24
năm trời, từ năm 1778 - 1802, Nguyễn (Phúc) Ánh liên tiếp chống lại kẻ
thù họ Nguyễn. Cuối cùng ông gây dựng được cơ đồ cũ, lên ngôi với đế
hiệu Gia Long, cai trị trên một lĩnh thổ to rộng hơn bao giờ hết về
trước, và lĩnh thổ này chính ông đã đặt cho tên Việt Nam” (Nguyễn
Phương, 82 năm Việt sử, 1802-1884, Đại học Sư phạm Huế xuất bản, 1963).
Nếu nói công bằng thì sự thống nhất quốc gia vào đầu
thế kỷ 19 không phải là công riêng của ông vua đầu triều Nguyễn là Gia
Long, mà nó đã được đặt sẵn nền tảng trước đó trên dưới hai thập niên
với việc xóa bỏ ranh giới sông Gianh khi quân Trịnh mở cuộc Nam chinh
vào đầu năm 1775, và nhất là lúc hoàng đế Quang Trung mở cuộc Bắc phạt
vào năm 1788. Việc thiết lập vương triều Nguyễn cũng dựa trên nền tảng
của một số triều đại tiền nhiệm trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, mà
căn cơ và quan trọng nhất của vương triều này vẫn là thời của các chúa
Nguyễn.
“Thà làm dân một nước độc lập”
Gia Long là vị vua khai sáng vương triều Nguyễn, kéo
dài 143 năm (1802-1945) qua 13 đời vua. Nay nhìn lại lịch sử 143 năm
trải qua 13 đời vua ấy, các nhà sử học dễ nhất trí với nhau rằng có thể
chia đại khái ra làm hai giai đoạn. Giai đoạn độc lập tự chủ tồn tại
dưới đời các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và một phần đời vua Tự
Đức. Nhưng sau cái chết của vị vua thứ tư này thì thực dân Pháp đã có
thể gây áp lực trực tiếp lên chính triều đình Huế, buộc Nam triều phải
ký hiệp ước Patenôtre (6-6-1884) và tước đoạt nền độc lập của Việt Nam.
Mặc dù ngay sau đó, ngọn lửa giành lại chủ quyền có lóe
lên vào năm 1885 dưới thời Hàm Nghi, rồi Thành Thái và Duy Tân, nhưng
lực bất tòng tâm, kinh đô thất thủ, Việt Nam hoàn toàn bị đặt dưới quyền
cai trị của người Pháp. Vương triều Nguyễn đã để mất nước (cho đến năm
1945), như chính Bảo Đại đã tuyên bố khi thoái vị: “Thà làm dân một nước
độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ”.
Khi đang viết bài này, tôi đọc được một cuộc phỏng vấn
ngắn với nhà thơ Nguyễn Duy trên báo Lao Động ra ngày 16-7-2008, với
nhan đề “Người yêu nước chẳng mất ngôi bao giờ”. Đây là câu thơ mà
Nguyễn Duy dùng để mở đầu kịch bản phim Đi tìm dấu tích ba vua do Đài
truyền hình TP.HCM thực hiện. Khi trả lời câu hỏi tại sao lại phải “khơi
dòng lịch sử bị nghẽn” vào thời điểm này, nhà thơ Nguyễn Duy thổ lộ:
“Cho đến bây giờ nhiều người biết rằng nhà Nguyễn có công lớn đối với
nước nhà, nhưng không hiểu tại sao và từ lúc nào lại bị biến dạng, bị hạ
thấp một cách oan sai về thang bậc giá trị lịch sử và văn hóa”.
Nhìn chung, vấn đề nào cũng có hai mặt của nó, kể cả
“tấm huy chương” mà một số sử gia, trong đó có các nhà bỉnh bút ở Quốc
Sử Quán, Nội các và Hàn Lâm viện triều Nguyễn đã gắn cho vua Gia Long
nói riêng và vương triều Nguyễn nói chung. Nhưng vì chính vua Gia Long
là người muốn giành lại vương quyền cho dòng họ mình để thành lập triều
Nguyễn với bất cứ giá nào, kể cả việc cầu viện ngoại bang, cho nên con
cháu ông sau đó đã phải trả một cái giá rất đắt khi quân đội thực dân
Pháp đến xâm lược nước ta.
Trong bài “Vài suy nghĩ về vị thế xứ Huế và vị thế lịch
sử của nó” đăng trên tạp chí Sông Hương tháng 5-6 năm 1987, giáo sư
Trần Quốc Vượng đã đưa ra một nhận định đầy công tâm và chính xác về nhà
Nguyễn: “Có thời Nguyễn, chúng ta mới có được một Việt Nam hoàn chỉnh
như ngày nay”. Và trong ngót hai thập niên qua, nhiều cuộc hội thảo khoa
học và nhiều công trình nghiên cứu đã dần dần đem lại một cái nhìn rộng
mở hơn chứ không còn gay gắt như trước đối với vương triều Nguyễn.
13 đời vua triều Nguyễn
|
STT
|
HÚY DANH
|
NIÊN HIỆU
|
THỜI GIAN TRỊ VÌ
|
|
1
|
Nguyễn Phúc Ánh
|
Gia Long
|
1802-1819
|
|
2
|
Nguyễn Phúc Ðảm
|
Minh Mạng
|
1820-1840
|
|
3
|
Nguyễn Phúc Miên Tông
|
Thiệu Trị
|
1841-1847
|
|
4
|
Nguyễn Phúc Hồng Nhậm
|
Tự Ðức
|
1848-1883
|
|
5
|
Nguyễn Phúc Ưng Chân
|
Dục Ðức
|
1883 (3 ngày)
|
|
6
|
Nguyễn Phúc Hồng Dật
|
Hiệp Hòa
|
1883 (4 tháng)
|
|
7
|
Nguyễn Phúc Ưng Ðăng
|
Kiến Phúc
|
1884
|
|
8
|
Nguyễn Phúc Ưng Lịch
|
Hàm Nghi
|
1885
|
|
9
|
Nguyễn Phúc Ưng Ðường
|
Ðồng Khánh
|
1886-1888
|
|
10
|
Nguyễn Phúc Bửu Lân
|
Thành Thái
|
1889-1907
|
|
11
|
Nguyễn Phúc Vĩnh San
|
Duy Tân
|
1907-1916
|
|
12
|
Nguyễn Phúc Bửu Ðảo
|
Khải Ðịnh
|
1916-1925
|
|
13
|
Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy
|
Bảo Ðại
|
1926-1945
|
PHAN THUẬN AN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét