Chương 22
Trời mưa. Nằm chính giữa
Hongkong, sân bay rất gần các cao ốc đến nỗi máy bay mỗi khi hạ cánh như muốn
chạm vào các toà nhà. Cựu hoàng ngồi chờ ở đây đã khá lâu. Không kể mấy ngày đợi
ở Côn Minh, dù ông đã thoái vị, thời buổi cách mạng hay chiến tranh, ít khi ông
phải chờ đợi lâu như lần nầy. Gần nửa ngày đã trôi qua. Trọn một buổi sáng, ông
chỉ thấy mỗi một cảnh tượng lạ mắt: Trên đường băng, từng đoàn lính Anh tấp nập
xếp hàng lên máy bay về nước. Họ từ chiến trường chống Nhật trở về sau khi chiến
tranh kết thúc. Bán đảo Hongkong lại trở thành một ngã tư sôi động. Còn lại rất
ít vết tích chiến tranh. Còn vài tuần lễ nữa các quân nhân sẽ ra đi nhường chỗ
cho chính quyền dân sự. Còn bây giờ, khi Bảo Đại đến đây mọi quyền lực vẫn nằm
trong tay họ. Rõ ràng là người Anh coi nhẹ sự có mặt của ông, không có một nghi
thức đón tiếp nào, chứng tỏ ông không hoàn toàn là người được hoan nghênh. Cuối
cùng một viên chức đến dẫn cựu hoàng làm những thủ tục quen thuộc về nhập cảnh
như đối với bất kỳ dân tị nạn hay du khách nào. Cựu hoàng không chỉ đi có một
mình Đi với ông còn có Yu, một người bạn Trung Hoa, Hongkong và có cả Lý Lệ Hà.
Cũng như ông, hai người trầm trồ ca tụng cảnh nhộn nhịp của Hongkong. Ở bán đảo
nầy, các toà nhà cao ốc đua nhau mọc lên, cao như bức thành khổng lồ, phía dưới
là cảnh lộn xộn khác thường, đầy màu sắc, có một không hai trên thế giới. Tiếng
động ồn ã, ngày và đêm nhộn nhịp, băng biển quảng cáo giăng khắp phố. Một thành
phố ồn ào đến kỳ lạ, say sưa, khác hẳn Trùng Khánh hay Hà Nội lặng lẽ, buồn tẻ.
Từ 5 tháng nay, Bảo Đại được "tự do". Tháng tư, ông quyết định ở lại, mặc cho
phái đoàn chính phủ ra về một mình(1). Tháng chín, ông đến Hongkong. Ông làm gì
trong khoảng thời gian ấy? Thường là thăm thú đây đó. Ông đi thăm các danh lam
thắng cảnh, về nông thôn dự các trò du hí, tham viếng hữu nghị. Như ông kể trong
hồi ký, ông đã được một gia đình Trung Hoa tiếp đón chăm sóc, chiều chuộng ưu
đãi. Người đi với ông hôm nay là con trong một gia đình đã đối xử hào hiệp với
ông. Có lúc ông đã nghĩ đến đi tu. Một nhà sư thích xem tướng, thấy ông có những
nét hợp với cuộc sống tu hành. Bà Hoàng Thái hậu đã từng cam đoan rằng ông là
Phật giáng trần, thế mà... rút cục không phải thế.
Ông thích đi xa, dạo chơi, ngẩng đầu lên, không để ai biết, thoả trí tò mò,
hưởng thụ trong một thành phố lần đầu tiên ông được biết đến. Ông thích ứng rất
nhanh với môi trường mới. Những ngày tiếp theo, người ta có thể thấy ông, vào
buổi trưa, đến nhấm nháp các món ăn hảo hạng, thưởng thức những tiện nghi cực kỳ
hiện đại của nhà hàng Parisian Grill. Ông đi đánh "golf", chơi quần vợt, vẫy
vùng bơi lội ở Repulse Bay, bãi biển sang trọng của Hongkong.
Chính lúc đó ông chợt nhớ đến thần dân cũ và quyết định gửi cho họ một thông
điệp. "Trẫm đã từ bỏ ngai vàng và chọn con đường lưu vong để không trở thành
vật cản cho cuộc thí nghiệm mà các ngươi tin rằng phải đem lại hạnh phúc cho
toàn dân"(2).
Ông Vĩnh Thuỵ, dù ở xa Hà Nội xa chính phủ, vẫn còn là cố vấn tối cao. Hình như
không có quan hệ gì với chính phủ Hồ Chí Minh. Điều lạ lùng là cả hai bên, bên
nào cũng giữ tình trạng không rõ ràng. Công luận không biết chính xác ông đứng
về phía nào. Ông phân vân, không biểu lộ thái độ rõ rệt. Hình như Hồ Chí Minh
vẫn tiếp tục gửi tiền cho ông trong những tháng đầu. Gửi qua đường bộ, qua núi
non phía bắc, đến tận Quảng Châu. Ít ra là cho đến mùa hè năm 1946.
Rồi sau đó, lưng vốn cạn dần, cuộc sống sa sút hẳn. Không còn lâu đài, khách sạn
sang trọng nữa. Vĩnh Thuỵ chọn một khách sạn nhỏ, mang tên Happy Valley (Thung
lũng hạnh phúc), trong một khu phố bình dân nhộn nhịp, ồn ào, ngoài các trung
tâm buôn bán. Ông chỉ ở một phòng. Không kể cô nhân tình, đám tuỳ tùng xem ra
chẳng còn ai trung thành đi theo ông.
Mặc dù phải ăn tiêu tằn tiện, trong cuộc sống cô đơn, ông, vẫn vui vẻ thưởng
thức cuộc sống ban đêm ở Hongkong chẳng cần phải giữ gìn ý tứ, giấu diếm ai.
Phải chăng ông có thể bình thản sống phóng đãng ở nơi ăn chơi nổi tiếng như
Hongkong, như kẻ thù của ông vẫn lên án, trong lúc ở trong nước tình hình đang
nước sôi lửa bỏng, số phận vợ con ông ra sao dưới chế độ Việt Minh? Bề ngoài xem
ra ông không hề tỏ ra băn khoăn về vấn đề đó.
Ông Vĩnh Thuỵ vốn là con người nông cạn. Chẳng có gì làm cho ông ta phải suy
nghĩ sâu xa. Thời gian ngắn ngủi cộng tác với cụ Hồ, việc ra đi không mấy vẻ
vang khỏi Trung Hoa để đến tị nạn tại Hongkong cũng vậy: Nay tất cả các đảng
phái đều phải ve vãn ông. Vầng hào quang bao phủ quanh ông tăng lên từng ngày.
Ngày 4 tháng 11 năm 1946, ở Hà Nội, Hồ Chí Minh cải tổ chính phủ chuẩn bị bước
vào kháng chiến toàn quốc Một số phần tử phản động đội lốt "quốc gia", bị lộ mặt
đã chạy theo quan thầy Trung Hoa. Nhiều bộ, thứ trưởng là người của bọn chúng đã
bị đuổi ra khỏi Chính phủ. Nhưng cố vấn tối cao Vĩnh Thuỵ, mặc dù đang ăn chơi ở
Hongkong, vẫn có tên trong danh sách chính phủ, kèm theo ghi chú: "Đang ở nước
ngoài về việc riêng". Ba lần cải tổ chính phủ tiếp theo, tên ông vẫn ở vị trí
thứ hai trong chính phủ. Mỗi khi nhắc đến tên Vĩnh Thuỵ ông Hồ không quên nêu
đầy đủ chức vụ "cố vấn Vĩnh Thuỵ". Ít lâu sau, trong một cuộc gặp các nhà báo ở
Hongkong, cựu hoàng Bảo Đại sẵng giọng: "Không, tôi không còn là cố vấn nữa". Hồ
Chí Minh muốn chứng minh chính sách đại đoàn kết của ông, có khả năng tập hợp
rộng rãi các tầng lớp xã hội, các khuynh hướng chính trị khác nhau để phấn đấu
cho sự nghiệp chung.
Chú thích:
(1) Sau nầy, theo giải thích của chính ông, Hồ Chí Minh đã viết thư bảo ông ở
lại Trung Hoa, khi cần trở về sẽ báo sau.
(2) Báo Le Monde (Thế giới).
Chương 23
Không khí trong xe bọc thép nóng nực, bà Nam Phương, một tay gỡ bỏ khăn trùm
trên đầu từ lúc rời khỏi trường dòng, một tay giữ chặt trên đầu gối hai con nhỏ
tuổi nhất. Ngồi trước mặt là Bảo Long cũng đang ôm chặt em gái. Chiếc xe trinh
sát bọc thép scout-car cùng chiếc xe gắn súng máy chở lính Pháp đi sau hộ vệ, bỏ
đường cái lớn thường lệ, theo lối tắt, cắt ngang qua sân trường Thiên Hựu, một
vị trí cố thủ của quân Pháp. Như thế, vừa nhanh chóng ra khỏi nơi nguy hiểm, vừa
ra ngoài tầm bắn của pháo binh đối phương. Chiếc Humber vào số, tăng tốc
độ để lại phía sau những ô cửa kính các căn nhà trong khu phố Tây.
Trời tối, xe đi nhanh nên không một ai nhìn thấy người đi trong xe là mẹ con bà
hoàng. Nhưng nếu ai nhận ra thì họ sẽ suy nghĩ bàn tán ra sao nhỉ? Bà Nam Phương
tưởng tượng ra những nụ cười giễu cợt hay những tiếng la hét thù địch. Nhưng may
là không có gì xảy ra hết. Các ngôi nhà đóng kín cửa, bên ngoài đắp luỹ che
chắn. Trời tối mịt như mong muốn của trung tá Costes. Các tay súng bắn tỉa của
đối phương không thể phát hiện mục tiêu. Đường vắng lặng. Chỉ có tiếng động cơ
gầm gừ của chiếc ôtô gắn súng máy đi sàu hộ vệ như tiếng chó săn thở dốc chạy
theo chủ.
Mẹ con bà hoàng thế là đã chạy sang bên kia chiến tuyến. Như vậy có phải là phản
quốc không? Bà tự nhủ: Không. Bà không phản bội tổ quốc, không chống lại nhân
dân. Bà chỉ mong có một nơi an toàn cho các con bà. Mấy hôm trước các sĩ quan
Pháp đã bắn tin cho bà biết từ nhiều ngày nay, Việt Minh tăng cường trinh sát
dường như sắp tiến công trường dòng đến nơi để thu hẹp khu vực cố thủ của Pháp.
Trường dòng Cứu thế sẽ bị kẹt giữa hai luồng đạn sẽ nguy hiểm đến tính mạng mẹ
con bà. Bảo Long có thể bị bắt làm con tin... Như vậy thì dứt khoát là phải đi
khỏi nơi đầu sóng ngọn gió nầy, không còn có cách nào khác.
Đoạn đường nầy chỉ đi mấy phút là đến một nơi mà bà Nam Phương biết quá rõ. Đó
là chi nhánh Nhà băng Đông Dương tại thành phố Huế, nơi vợ chồng bà gửi một phần
tài sản gửi tiền và vàng vào tài khoản, chính xác hơn là đến căn hầm dưới nhà
băng. Hơn các thành phố khác, Huế có nhiều công trình kiến trúc tiêu biểu, có
nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều cung điện nguy nga tráng lệ, là nơi tập trung
lăng tẩm các vị vua triều Nguyễn, ẩn hiện dưới tán lá, lùm cây, trầm mặc trong
không gian tĩnh lặng làm xúc động lòng người. Huế lại có nhiều nhà cửa dinh thự
của chính quyền bảo hộ cũ, xây bằng gạch, đá tượng trưng cho quyền lực của kẻ
bảo hộ từ châu Âu đến. Đẹp nhất, đồ sộ nhất, sang trọng nhất và chắc chắn là
được bảo vệ tốt nhất vẫn là những toà nhà của Nhà băng Đông Dương lừng danh.
Đó là một thế lực, một quyền uy, gần như một nhà nước, cung cấp tài chính cho
các thuộc địa Pháp, gián tiếp chỉ huy nền kinh tế của hàng chục quốc gia, giữ
hầu bao của vài ngàn khách hàng. Trong các hội sở Ngân hàng, an ninh được đặt
hàng đầu. Những hàng cột ốp đá hoa cương, những chùm đèn thuỷ tinh trắng sữa,
những quầy bằng gỗ quý. Có những két sắt đựng tiền chắc chắn với những cánh cửa
thép vừa to, vừa dày chuyển động trên những bánh xe thép nhẵn bóng mỗi khi cần
đóng kín.
Tìm đâu được chỗ tốt để ẩn nấp, để không bị bén lửa cháy, tránh được đạn pháo và
súng máy, hơn là hầm ngầm hay hầm mộ. Nhà băng còn hơn thế. Nếu quân Pháp phải
rút thì đây là sẽ là nơi cố thủ cuối cùng. Hơn thế nữa, nhà băng còn có những
hầm ngẩm được gia cố kỹ, thiêng liêng hơn mọi chỗ thiêng liêng, là trái tim của
toà nhà, đó là phòng để các két sắt.
Chiếc scout-car bọc thép qua ngã tư đại lộ Jules Ferry, quặt sang trái,
chạy tiếp một quãng trên đại lộ Clémenceau dọc bờ sông Hương, rồi vượt qua cổng
vào sân. Xe gắn súng máy đỗ ngoài đường đợi. Bọn lính đi bảo vệ nhìn chăm chăm
về phía thành nội bên kia sông, nơi tập trung lực lượng Việt Minh, cũng là nơi
xuất phát các cuộc tiến công vào các vị trí Pháp ở bên nầy sông.
Trong sân, chiếc scout-car lăn bánh chầm chậm trên sỏi đến một nền cao, xây kín
ba mặt nằm giữa nhà băng và dãy nhà phụ đằng sau, xa đường, bên ngoài không nhìn
thấy. Nhưng xe vừa dựng thì người lái thay đổi ý kiến, lùi xe và dừng lại trước
lối vào chính, chân cầu thang lớn, nơi ông Fafard, giám đốc nhà băng đang đứng
đợi.
Nam Phương biết ông nầy từ lâu. Hai năm trước đây, khi ông mới đến nhậm chức bà
đã gặp hôm ông vào bệ kiến Nhà vua. Bữa nay bà thấy ông có vẻ khô khan, nghiêm
nghị hơn thường lệ, trong ánh sáng lờ mờ lọt qua cửa trên gác lửng rọi xuống bậc
tam cấp. Bà Nam Phương chủ ý đưa mắt tìm bà Fafard nhưng chỉ thấy một mình ông
đứng đó. Còn cả gia đình đang ở trên gác nấp sau cánh cửa chớp đóng kín. Các con
ông bà Fafard vẫn quần áo chỉnh tề, sạch sẽ, gọn gàng theo đúng tác phong của
một gia đình công chức Pháp phải đối phó với tình huống bất hạnh. Cử chỉ gần như
anh hùng mà không biết. Sẵn sàng được giới thiệu khi bà Hoàng hậu tới trú ẩn
trong nhà băng.
Suốt chiều nay, khi được biết gia đình cựu Hoàng đế đến ẩn náu trong nhà mình
các cô gái đã tập các cử chỉ đón chào sao cho cung kính, lễ phép. Chúng tập nhún
chân khi nghiêng mình chào khách, ôn lại cách đi đứng, chào hỏi cho đúng phép
tắc. Dù đang lúc chiến sự diễn ra ác liệt, các quả đạn trái phá 75 ly từ hoàng
thành bên kia sông bắn qua đầu sang phía trường Thiên Hựu, các cô gái vẫn hớn hở
rối rít chờ đón sự có mặt của gia đình Nhà vua trong nhà mình. Những người trong
gia đình ông chủ nhà băng Đông Dương ở Huế vẫn coi việc mẹ con bà hoàng đến lánh
nạn ở nhà mình là một vinh dự đặc biệt. Đối với họ, coi như không có chuyện Nhà
vua thoái vị. Ông Fafard thuộc phái ủng hộ chính phủ Vichy thân Đức, ông còn là
bạn thân của toàn quyền Decoux, không thể một sớm một chiều quên ngay hình ảnh
về chế độ quân chủ cũ.
Nam Phương bước ra khỏi xe đầu tiên. Cử chỉ rất đàng hoàng, dáng vẻ oai vệ. Theo
sau là cô hầu phòng từ xe vận tải bọc thép bước ra, từ nay cô sẽ chăm sóc anh em
Bảo Long. Bà hoàng bận chiếc áo dài trắng nên tuy trời tối bóng dáng bà vẫn nổi
bật. Từ khi chồng thoái vị bà không được phép mặc áo vàng chỉ dành cho đương kim
Hoàng đế và Hoàng hậu. Bà nói to, kiểu nói của người nặng tai, cất tiếng chào
ông chủ nhà băng, đưa mắt chăm chú nhìn những bức tường từ nay sẽ che chở gia
đình bà.
Toà nhà không có vẻ một công sự kiên cố. Bà hoàng chỉ thấy ngôi nhà nhỏ bé, yếu
ớt không được vững chắc, oai vệ như hình ảnh được lưu lại trong trí nhớ của bà.
Theo đánh giá của những chuyên viên bất động sản thì đó là một ngôi nhà lớn,
bình dị của các nhà kiến trúc bậc thẩy. Ngôi nhà hai tầng hình hộp, mỗi bề mười
lăm mét, xây cất kỹ càng, khỏe khoắn nhưng không có tính cách nào hợp với thời
chiến.
Tầng trệt chật ních người lánh nạn. Khi bà hoàng bước qua chiếc cửa sắt, những
con mắt tò mò nhìn theo, bà nhận ra nhiều khuôn mặt quen thuộc. Tự nhiên bà cảm
thấy khó chịu, ngượng nghịu thật sự, một tâm trạng lạ lẫm trước đây chưa hề có.
Quanh bà là những người đang sống chen chúc trong không khí ngột ngạt của các
phòng làm việc của nhà băng nay biến thành những căn hầm cố thủ. Tất cả đều là
người da trắng, không có ai là người Việt, trừ một thiếu phụ, vợ không chính
thức của một người quê đảo Corse theo anh ta đến đây trú ẩn.
Ông chủ nhà băng đi trước dẫn mẹ con bà hoàng qua một cầu thang rộng lên tầng
trên đã được dọn dẹp gọn ghẽ để dành cho gia đình "quý tộc" nầy gồm hai người
lớn và năm đứa trẻ, hai trai ba gái, ở cùng một tầng với gia đình nhà chủ. Nhưng
sau đó có ý kiến của một sĩ quan nhà binh Pháp, ông bà Fafard đã phải thu xếp
chỗ ngủ dưới tầng hầm cho an toàn còn ban ngày có thể ở tạm trên gác nhưng lúc
nào cũng phải sẵn sàng để khi có tiếng đạn pháo rít qua thì xuống ngay tầng dưới
tránh đạn, mặc dù các con ông bà Fafard cũng đã biết cách phòng tránh mỗi khi bị
pháo kích. Chúng nhanh chóng ra khỏi phòng và nấp trong hành lang, luôn luôn
mang theo nệm để chống mảnh đạn.
Khi đi qua tầng dưới để xuống tầng hầm, bà hoàng gặp lại những ánh mắt không mấy
thiện cảm, đôi lúc rõ ràng là thù nghịch của đám người Âu chen chúc ở tầng dưới.
Một số người đang ở tầng hầm phải chuyển chỗ, nhường chỗ cho mẹ con bà hoàng.
Một người có thái độ quá khích đã phản kháng lên ông Fafard. Chính là anh người
quê đảo Corse, một nhân viên thuế quan Huế. Luận điệu của anh ta là tại sao
người Pháp lại phải nhường chỗ cho một mụ đàn bà quý tộc người Việt đã đi theo
Việt Minh, mấy hôm trước còn báng bổ nước Pháp trong lúc chồng mụ đang cùng với
Hồ Chí Minh chỉ huy những tên hiếu sát đang làm khổ người Pháp ở đây. Sao mà yếu
đuối nhu nhược kỳ lạ vậy.
Ông Fafard vốn tính điềm đạm phải dùng quyền uy của mình mới dẹp được cơn thịnh
nộ của những người phải chuyển chỗ đến giữa phòng, xa các cửa sổ lớn ở tầng trệt
của những người bị đuổi. Những người nầy phải tìm một nơi trú ẩn ở giữa những
cửa sổ cao của tầng trệt đằng sau những bàn giấy đủ kiểu chất đầy hồ sơ. Anh
chàng nhân viên thuế quan người Corse không nén nổi cơn giận dũ, vùng vằng ra
khỏi nhà băng đi thẳng về nhà mình đào hào đắp ụ để tự phòng vệ.
Trong số trẻ con đang trú ẩn ở đây với bố mẹ, Bảo Long nhận ra một số bạn học
ngồi cạnh mình trước khi xảy ra chiến sự.
Trong tầng hầm những tấm khăn trải giường được căng lên làm vách ngăn ra từng
khoang cửa những người đến trước. Bà Nam Phương thong thả đi về chỗ dành cho gia
đình, không nhìn thấy những bức tường xám xịt cùng các cặp hồ sơ lưu trữ dày
cộm. Công dụng chính của tầng hầm là vậy. Trước hết là các đồ cồng kềnh, tiếp
đến hàng dãy két sắt. Mẹ con bà hoàng được thu xếp chỗ ngủ trong một gian rộng
có tấm ngăn bằng kim loại dày. Như thường lệ, cậu con trai lớn được ưu tiên một
chỗ được bảo vệ chắc chắn nhất, gần tấm vách ngăn kim loại dày nhất, như được
bọc kín trong một tấm nệm thép. Gần như một nấm mồ. Ông chủ nhà băng quen gọi
nơi đây là "hầm mộ". Bà hoàng rùng mình khi để con mình ở trong ngăn hầm có dáng
một nhà táng. Nhưng còn hơn là trúng mảnh đạn pháo hoặc bị đối phương bắt làm
con tin. Lệnh của nhà binh Pháp là phải chuẩn bị chỗ ngủ cho Bảo Long ở góc nầy
làm cho ông Fafard mỉm cười. Nhưng bà hoàng thì thấy không có gì đáng cười. Bà
chỉ thấy yên tâm hơn. Đúng thế. Con bà được bảo vệ như một bảo vật, như những tờ
giấy bạc nhà băng. Thế nào cũng được. Càng tốt.
Một cánh cửa nặng nề, bằng kim loại dày ba mươi phân được đẩy bằng một bánh xe
quay tít gần giống như bàn cò quay. Bên trong tầng hầm không cửa sổ nầy, rất ít
tường, mà chỉ có sắt thép, như một cái hộp kín chống đạn.
Gia đình bà hoàng đã ổn định chỗ nằm. Mỗi người một hốc làm bằng vải chăng trên
dây tạo thành vách ngăn với gian để két sắt. Bà hoàng vẫn chưa hết khó chịu,
không phải chỉ vì điều kiện sống thiếu tiện nghi. Một tâm trạng chua xót khi
thấy thân phận một mẫu nghi thiên hạ phải chui rúc trong gian phòng chứa két bạc
của thực dân. Tầng hầm không ra dáng một căn phòng. Ngoài gian để két sắt, tường
không nhẵn, bóng láng như các trụ sở tài chính hiện đại, nhưng được tô điểm bằng
những gờ hình chữ triện. Một cách trang trí, cổ điển, cũ kỹ, lỗi thời theo cung
cách phòng khách thị dân.
Cũng như ở trường dòng Chúa Cứu thế, ở đây nước rất ít. Duy nhất chỉ có một vòi
nước trong phòng tắm trên tầng một của gia đình Fafard. Để có nước dự trữ, bồn
tắm được chứa đầy ắp phòng khi bị cắt nước.
Những người ở tầng trệt đến vòi nước lấy đầy từng xô xách xuống nhà, còn gia
đình bà hoàng và ông bà Fafard và các con được lấy nước thẳng từ vòi bao nhiêu
lâu cũng được. Để giết thời gian, bọn trẻ chơi bài.
Những lúc ngớt tiếng súng, Bảo Long rời khỏi tầng hầm làm bằng sắt thép nặng nề
ấy chạy ra sân chơi với lũ bạn cùng lứa, đôi lúc còn chọc ghẹo bọn con gái, tất
cả đều hơn tuổi, có đứa đã đến tuổi 17, 18. Bà Nam Phương chẳng ưa gì sự chung
đụng thân mật thái quá như thế của bọn trẻ, nhưng vì hoàn cảnh buộc bà phải công
nhận thái độ gia đình ông chủ nhà băng quả là tận tình. Thỉnh thoảng bà trò
chuyện với mấy người Âu lân la làm quen với bà. Trong giao tiếp bà giữ vẻ đoan
trang, giữ gìn mà vẫn uy nghiêm quý phái. Riêng với ông Fafard, có hôm bà nói
chuyện tay đôi đến gần một tiếng đồng hồ. Bà giảng giải thái độ của chồng bà. Bà
chăm chỉ cẩu nguyện. Dẩn dần bà tham dự những buổi lễ chầu trong phòng khách của
tầng một. Bà có chỗ riêng cho bà, lùi sâu trong một căn phòng riêng của bà, cửa
để ngỏ.
Thời gian trôi qua, Bảo Long quen dần cuộc sống dưới tầng hầm. So với những ngày
ở trường dòng, cậu thấy được rộng cẳng hơn, chạy nhảy nô đùa trong hành lang và
cầu thang. Thích nhất là giữ nguyên mái tóc.
Khi ở trường dòng các cha xứ đã dự định cạo trọc đầu cậu bé để giấu tung tích
nếu lỡ bị bắt, nhưng chưa kịp thực hiện thì bà hoàng đưa các con chạy theo Pháp.
Chung quanh nhà băng tường bao kín mít, các ô cửa sổ tầng hầm đều đã lấp kín để
ngăn mảnh đạn không văng vào trong. Tia sáng mặt trời không thể lọt qua các bức
tường kín. Tuy vậy bên trong nhà băng không đến nỗi tối quá. Máy phát điện vo vo
suốt ngày đêm. Mỗi ngày qua đi được đánh dấu bằng các biến cố. Trước tiên là ổ
khoá cửa phòng để két sắt bị hỏng hóc. May mà lúc đó không có ai bên trong. Bảo
Long đang chơi ngoài sân.
Một hôm một ngọn nến rơi xuống khăn trải giường và bốc cháy. Mọi người phát
hoảng. May chị hầu phòng vớ được bình nước, dập tắt được ngay. Mặc dù nơi trú ẩn
ở hầm ngầm, tiếng nổ của đạn súng cối và đại bác vẫn dội vào Bảo Long chỉ mơ
thấy đại bác bắn vào thành phố. Cậu ta chẳng sợ gì, chỉ tiếc không được nhìn gần
hơn. Vũ khí vẫn là thứ luôn luôn quyến rũ thái tử Bảo Long.
Ông Fafard, từng ngày một, ghi lại các sự kiện xảy ra trong ngày vào cuốn sổ tay
của ông, với nét chữ thanh và chính xác:
"24 tháng giêng. Đêm yên tĩnh. Hạ sĩ Petit cho biết tối qua từ phía đông
thành phố Việt Minh đã áp sát một đồn tiền tiêu của Pháp ở An Cựu chỉ cách 300
mét rồi đặt pháo 75 ly bắn thẳng vào đồn làm một người chết mười bị thương, một
mất tích. Quân Pháp phải bỏ đồn rút chạy. Người ta nói một máy bay Pháp bị trúng
đạn, đã hạ cánh xuống bên kia kỳ đài, viên phi công đã kịp phá huỷ máy bay và
chạy thoát vào trường dòng Chúa Cứu thế. Kllông biết có đúng như thế không!
Khoảng mười một giờ, ba máy bay tiêm kích đã dội bom xuống cung An Định, để
yểm hộ cho máy bay thả dù tiếp tế cho các đơn vị lính Pháp đang bị Việt Minh bao
vây.
Buổi tối yên tĩnh. 22 giờ có tiếng nổ lớn ở phía đông.
Mười sáu giờ chôn cất ông Van Vuick, chết vì trúng thương ở đùi cách đây mười
lăm ngày. Tôi cũng ghé vai khiêng quan tài. Lúc hạ huyệt, đạn nổ trên đầu, mảnh
đạn tung tóe xuống sân. Có tiếng huyên náo ầm ĩ của bộ đội Việt Minh bên kia
sông. Mấy phát súng cối của quân Pháp làm cho họ im bặt. Những loạt đạn súng cối
khác rót vào thành nội. Cuộc pháo kích ngắn ngủi không thấy Việt Minh phản ứng
gì. Đại uý P. cho bắn liên thanh sang bên kia bờ sông. Có tiếng tiếng người lao
xao. Ngốc thật. Không nên bắn từ đài quan sát, vì rất dễ lộ mục tiêu. Hơn nữa
bắn súng máy ban đêm mà không xác định rõ mục tiêu và tầm bắn thì làm sao có
hiệu quả. Chúng tôi có vinh dự đặc biệt được đón cha Urutia đến nhà đọc kinh
thánh. Chúng tôi rất lo lắng cho số phận của các cố đạo và các nữ tu còn đang bị
kẹt trong vùng do Việt Minh kiểm soát".
Nam Phương giữ kín không thổ lộ cho ai biết dự định của bà. Chẳng hiểu vì sao.
Bà có thể báo cho ông giám đốc nhà băng biết nay mai hết phong toả, may mà không
bị Việt Minh bắt và bà cũng sẽ không trở lại trường dòng. Bà vẫn coi ông như
người thân tín có thể tâm sự được và ông cũng là một con người đàng hoàng luôn
luôn tôn trọng và có nhiều thiện ý với bà. Hoặc với giáo sư người Italia, cũng
là một người đến lánh nạn ở tầng trệt của nhà băng. Ông nầy luôn gần gũi bà,
quan tâm đến lo lắng của bà, đón trước các mong muốn của bà. Đến nỗi những người
Âu khác chế nhạo ông là "đại nội thị thần".
Một ông khác nguyên là Khâm sứ Trung Kỳ cũng không nề hà công việc. Không quản
đêm tối, ông liều mạng đi kiếm rau xanh, củ cải đỏ để cải thiện bữa ăn hàng
ngày. Thực đơn ở đây, thường đơn điệu, chủ yếu là cơm theo khẩu phần của người
lính.
Nhà băng Đông Dương ở Huế trong những ngày chiến tranh chẳng khác gì con tàu
chòng chành giữa biển khơi trong cơn bão táp. Lưới lửa của các tay súng Việt
Minh trùm lên đầu những người đang trú ẩn bên trong. Các vị trí Pháp ở Huế bị
bao vây, thiếu đạn được, vũ khí, lương thực nhưng không bị Việt Minh quét sạch
cũng là chuyện lạ. Chỉ có thể cắt nghĩa bằng trình độ tác chiến và chỉ huy yếu
kém của bộ đội Việt Minh. Như sau nầy chính Bộ chỉ huy Việt Minh cũng phải thừa
nhận: "Quân Pháp cố thủ trong các vị trí kiên cố, tuy lực lượng không nhiều
nhưng là đội quân nhà nghề có trang bị hiện đại còn lực lượng của ta trí thức
quân sự có hạn, trang bị lạc hậu, chưa biết đánh địch trong công sự vững chắc...
đánh tràn lan, phân tán không tập trung binh lực để giải quyết dứt điểm..."(1).
Trung tá Costes, chỉ huy quân Pháp ở Huế, dù do dự và thiếu tự tin, dần dần cũng
chặn được các cuộc tiến công của bộ đội Việt Minh cho đến ngày được giải vây.
Chiến sự tại đây khá ác liệt. Quân Pháp bị bao vây mở nhiều cuộc tiến công để
nống ra đều thất bại. Một chiếc máy bay tiêm kích Spitfire bị pháo phòng không
của bộ đội Việt Minh đóng trong hoàng thành bắn hạ. Phi công bị thương và bị
bắt, đã chết trong khi bị giam giữ. Tại thành phố Vinh, xa hơn về phía bắc, chi
nhánh Ngân hàng Đông Dương cũng bị bao vây.
Ở Huế, một lần tàu chiến tàu Pháp neo trên sông Hương bắn pháo tới tấp vào hoàng
thành. Đạn pháo réo qua nóc nhà băng, phá huỷ các lâu đài, cung điện Nhà vua
trong đại nội ẩn sau các bức tường thành kiểu Vauban. Bảo Long kể lại:
"Cuộc nã pháo rất ấn tượng. Như tiếng ầm ầm của một con tàu tốc hành. Mọi
người trong nhà khấp khởi mong sao cho binh đoàn Burgonde (mang tên vị tướng chỉ
huy), sẽ sớm đến giải thoát họ".
"Các cuộc pháo kích sau đó còn tiếp tục làm cho tôi thích thú nhận thấy quân
Pháp có nhiều vũ khí hiện đại hơn so với Việt Minh và cả quân đội Trung Hoa Quốc
dân đảng có mặt ở Huế trước đây [...]. Chiến tranh đối với tôi lúc đó như một
trò chơi. Thấy được hiệu lực của vũ khí mà không nhìn thấy người bắn. Những ngày
đó, tôi rất thích mỗi khi được nghe thấy tiếng súng nổ".
Hàng ngày, Bảo Long hay la cà đến vớĩ mấy người lính Pháp nấp bắn trên tầng
thượng nhà băng. Họ chỉ có hai: một hạ
sĩ và một lính. Mới
trên mười tuổi, cậu bé có vẻ ham thích vũ khí, trận mạc... Có lần suýt nữa cậu
bé để ngón tay trên cò súng trung liên và định bắn thử xem ra làm sao. Thật là
nguy hiểm. Nếu lộ mục tiêu bộ đội Việt Minh sẽ bắn trả ngay. Tiếng súng nổ ầm ầm,
mùi thuốc đạn khét lẹt...
Cuối cùng quân tiếp ứng đến, phá vỡ được cuộc bao vây. Bộ đội Việt Minh phải rút
ra xa khỏi thành Huế, bỏ lại các cung điện đền miếu trong Đại nội tan hoang vì
bom đạn. Tất cả những người trú ẩn ở nhà băng ùa ra ngoài, đứng bám vào cửa sổ
nhìn sang để xem quang cảnh tàn phá bên kia sông.
Cuộc bao vây đã được giải toả. Mấy mẹ con bà hoàng rời khỏi tầng hầm. Không còn
phải ở chung với két sắt nữa. Cũng không còn phải thấp thỏm với tiếng đạn réo
qua mái nhà... Ông Fafard, chủ nhà băng có nhã ý mời họ lên ở trong phòng của
gia đình ông. Họ được ngủ trên giường, có nệm đoàng hoàng. Nhưng bên kia sông
trong Đại Nội các lâu đài vẫn âm ỉ cháy. Khói phủ kín bầu trời. Lửa đã tắt nhưng
gia đình hoàng gia không thể trở lại hoàng thành. Không phải tất cả đều đổ nát
nhưng các cung điện sẽ không bao giờ được dựng lại nữa.
Lính Pháp đưa gia đình bà hoàng về thăm lại cung An Định, nơi họ đã ở hơn một
năm sau khi Nhà vua thoái vị. Tường lỗ chỗ mảnh đạn, mái sập, nhà xiêu, vỏ đạn
vương vãi khắp nơi. Đồ đạc, quần áo, vật dụng sạch trơn. Bao kỷ vật thời huy
hoàng không còn gì. Cái dinh cổ lỗ xấu xí đã từng là nơi cố thủ của bộ đội Việt
Minh mấy tháng qua. Nơi đây là nhà ở cuối cùng của hoàng gia tại cố đô Huế.
Huế bây giờ là một thành phố thời chiến có đầy đủ những nét tiêu biểu: Cây cầu
sắt nổi tiếng bắc qua sông Hương nối liền hai khu vực của thành phố bị đánh sập.
Nhân dân qua lại phải dùng thuyền. Đường sá thô sơ bị bom đạn cày xới nham nhở.
Cột cờ trên kỳ đài bị đạn trái phá tiện đứt đôi, nửa dưới còn lại nẻ toác, mảnh
tướp tơi tả đung đưa trong gió. Hàng trăm toà nhà trong Đại nội bị phá trụi tan
hoang giống như một gã khổng lồ bị xẹp hơi. Giữa đống gạch vụn, những mảnh ngói
men ngũ sắc vẫn ánh lên màu sắc nhấp nháy dưới tia nắng. Những hoa văn trang trí
rồng, phượng xưa kia lộng lẫy là thế nay vương vãi khắp nơi trên bãi tha ma của
"những con rồng bị hạ bệ". Cửa Ngọ môn, mang tính lễ nghi nổi tiếng chỉ được mở
trong những dịp đón rước long trọng nay chỉ cần lấy vai hích nhẹ cũng bung ra.
Quang cảnh hoàng cung hoang vắng, không người canh giữ, không lính bảo vệ. Tội
nghiệp cho xứ Huế thơ mộng, đề tài của biết bao bài thơ kim, cổ, được Thần, Phật
độ trì nay chẳng còn gì để ngắm nhìn ca ngợi nữa. Ruộng đồng hoang hoá, vườn
tược xác xơ. Chiến tranh vẫn còn đó.
Quang cảnh xám xịt và hỗn độn. Những đám trẻ lang thang kiếm ăn. Quân Pháp đã
trở lại nhưng thanh bình chưa đến. Thiếu lương thực, an ninh không có gì đảm
bảo. Mặt trận lùi xa về vùng rừng núi phía tây nhưng cuộc chiến với du kích
không bao giờ ngừng. Các đội biệt động Việt Minh vẫn bất ngờ xuất hiện trong
thành phố.
Một Uỷ ban điều hành lâm thời ra sức khôi phục các hoạt động bình thường, tung
những chiến dịch tuyên truyền cho việc lập lại nền quân chủ.
Tương lai không có gì chắc chắn. Một nhân viên tình báo Pháp (SDECE - Service de
Documentation Extérieure et Contre-Espionnnge - cơ quan tình báo và phản gián
Pháp), đến gặp bà Nam Phương để thăm dò... Không một lời ca ngợi thắng lợi của
quân Pháp, bà nói "Những hy sinh của tôi chẳng là gì so với những khổ cực
hiện nay của nhân dân". Một câu nói chính trị, giáo điều. Rồi bà nói tiếp
không biết liệu bà và các con có sống được trong tình cảnh "khốn cùng"(2) như
thế nầy được nữa không.
Sau khi rời khỏi nhà băng, mẹ con bà hoàng lại trở về nhà dòng Chúa Cứu thế ở
tạm mấy ngày rồi tất cả theo đường bộ ra Đà Nẵng.
***
Hoàng gia sẽ giữ quan hệ tốt đẹp với gia đình Fafard, giám đốc chi nhánh nhà
băng Đông Dương tại Huế. Trong nhiều dịp khác về sau, mỗi lần đến thăm lại ông
bà Fafard, nhất là các cô con gái đều được bà hoàng đón tiếp niềm nở. Chính ông
sau nầy sẽ được bà hoàng chọn làm người tin cẩn để quản lý tài sản riêng cho
mình.
Trong đoàn hộ tống hoàng gia đi Đà Nẵng lại cũng vẫn những chiếc xe bọc thép
Coventry và Humber nhưng lần nầy chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ, còn mọi người đi xe
thường. Chuyến đi không kém phần vất vả. Em gái lớn nhất của Bảo Long bị ốm dọc
đường. Trên đèo Hải Vân đã diễn ra những cảnh chẳng mấy thơ mộng như cái tên gọi
của đèo: Xe bọc thép đỗ lại chĩa nòng pháo ra phía bìa rừng đề phòng du kích
tiến công. Đoàn xe dừng lại cho đến khi hoàng nữ bình phục.
***
Từ Đà Nẵng gia đình bà Nam Phương đáp máy bay vận tải quân sự Junker 52
bay đi Đà Lạt. Nhưng bà không về ở trong biệt điện của Bảo Đại, nơi xưa kia cả
gia đình Nhà vua sống phần lớn thời gian trong những năm trị vì. Toà biệt thự
lớn quá, bà nay không còn tuỳ tùng, gia nhân. Đang thời chiến, cao nguyên Lang
Biang cũng không tránh khỏi sẽ trở thành chiến địa. Vì vậy bà đưa các con về
biệt thự của mẹ đẻ và ở tạm đó trong gần ba tháng.
Ba tháng nghỉ ngơi để tâm trí trở lại bình tĩnh, hồi phục những chấn thương tinh
thần.
Đà Lạt vẫn còn là đất Việt Nam, nhưng rồi bà và các con vẫn phải ra đi. Bà đã
cắt đứt hẳn quan hệ với Việt Minh vì mẹ con bà đã lánh nạn bên chiến tuyến của
kẻ thù. Cuộc sống tại Đà Lạt cũng không lấy gì làm vui.
Hết cả huy hoàng, lộng lẫy. Vẫn bặt tin về ông Bảo Đại. Không còn trường cho bọn
trẻ đi học. May là có các anh chị em họ bên ngoại cố làm cho các con bà vui vẻ.
Trừ Bảo Long còn giữ được vốn tiếng Pháp nhờ mấy cuốn truyện của Jules Vernes từ
ngày xưa ông nội để lại còn các đứa con khác trong hoàng gia chỉ nói tiếng Việt.
Sau nầy chúng sẽ phải học lại tiếng Pháp là thứ tiếng quen dùng trong gia đình.
Chú thích:
(1)Thừa Thiên- Huế trong kháng chiến chông thực dân Pháp, Nhà
xuất bản Thuận Hoá, 1994, trang 60-63.
(2) CAOM - Lưu trừ bộ Pháp quốc Hải ngoại - Báo cáo 1257 của Sở tình báo phản
gián Pháp (SDECE-Service de Documentaion Extérieure et de Contre Espionage), tập
số 1245 NF.
Chương 24
Thắng lợi của quân Pháp chỉ là tạm thời. Bộ đội Việt Minh tưởng như tan rã, tan
biến vào vùng rừng núi, nhưng vài ngày sau lại xuất hiện. Họ chiến đấu bền bỉ,
kiên quyết, không hề lay chuyển trước muôn vàn khó khăn. Không bao giờ có thể
tiêu diệt được họ dù có gây cho họ những thất bại tạm thời lúc đầu. Còn quân
viễn chinh Pháp, chẳng mấy chốc đã tăng quân số tới một trăm nghìn người gồm cả
lính Âu, Bắc Phi, nguỵ quân người Việt được Pháp trang bị. Họ chỉ làm chủ được
các thành phố, thị trấn, đường cái lớn, những địa điểm quan trọng, xây dựng hệ
thống cứ điểm, boong-ke, tháp canh để bảo vệ vùng kiểm soát. Nhưng quanh họ là
những vòng vây, tầng tầng lớp lớp... Họ chỉ làm chủ được ban ngày còn ban đêm bộ
đội, du kích Việt Nam mặc sức tung hoành bất chấp pháo sáng, vũ khí hơn hẳn của
đối phương. Lê dương Bắc Phi, lính dù hết thảy đều kinh hoàng... Một mối lo sợ
âm ỉ, kéo dài, phát sinh ngay từ sau những cuộc giao chiến đầu tiên, mỗi ngày
một tăng lên sau những cuộc đụng độ đẫm máu để lại những xác chết của đồng đội
thu nhặt được mỗi sớm mai.
Quân Nhật, quân Anh, quân Trung Hoa, tất cả đều đã rút về nước. Từ đây chỉ còn
hai địch thủ Việt và Pháp đối mặt nhau.
Chiến sự lan rộng khắp nước. Mỗi thị trấn, mỗi mảnh ruộng đều có thể là nơi diễn
ra một trận phục kích, là mục tiêu của một trận pháo kích bằng súng cối. Trên
mỗi đoạn đường nhỏ có thể có bẫy chông, làm bằng tre già rắn như thép sắt xuyên
thủng da thịt.
Hai thành phố Hà Nội và Sài Gòn được xem như những thủ đô thời chiến. Tại đây
không xa mặt trận bao nhiêu, nhưng cuộc sóng khá hẳn. Tiền bạc từ Pháp rót sang
để chi trả cho cuộc tái chiếm thuộc địa tràn ngập khắp các phố phường, các hiệu
buôn. Các công ty vận tải, những nhà buôn, nhà ngân hàng và cả những nhà chứa là
những nơi tiền vào như nước...
Trong lúc người Pháp lẫn người Việt yên vị trong cuộc sống sung túc và nguy hiểm
nầy thì một sự thật đập vào mắt: không thể đè bẹp đối phương, không hy vọng một
thắng lợi quyết định, dứt khoát bằng giải pháp thuần tuý quân sự. Việt Minh,
được đa số dân chúng ủng hộ tự nguyện hay không tự nguyện, là một đối thủ quá
vững chắc, rất khó nắm bắt.
Hồ Chí Minh và chính phủ của ông đã rời khỏi Bắc Bộ phủ ở trung tâm thành phố Hà
Nội, phân tán các cơ quan lãnh đạo ra từng bộ phận nhỏ và di chuyển đến vùng tứ
giác tây bắc thủ đô và nam đồng bằng sông Hồng để tiến hành cuộc chiến tranh du
kích kinh điển hầu như không thể dập tắt được.
Bộ chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp cũng phải thú nhận không đủ lực lượng giành
chiến thắng quân sự. Có nên thương lượng không? Nhất định là phải thương lượng
để tìm ra một giải pháp, nhưng lập trường hai bên còn xa nhau quá. Paris không
chấp nhận cho sự độc lập của Việt Nam mà chỉ nói sẽ dành cho Việt Nam quy chế
một Quốc gia Liên kết dưới sự kiểm soát của họ. Trong lúc Việt Minh coi Pháp là
xâm lược nên đòi trước hết phải tôn trọng chủ quyền hoàn toàn và trọn vẹn của
Việt Nam.
Chiến tranh sẽ kéo dài và nhất là bộ tổng chỉ huy Pháp không nhận ra được chung
cuộc sẽ như thế nào.
Ý kiến của họ thay đổi tuỳ theo những người nắm quyền hành ở Paris. Những người
thuộc đảng xã hội mong muốn tìm ra một giải pháp thoả thuận với Hồ Chí Minh, dù
có sự kiện đêm 19 tháng chạp năm 1946 và cuộc đụng độ quyết liệt đang diễn ra.
Trái lại, những người lãnh đạo Phong trào Cộng hoà bình dân (MRP), nay mai sẽ
đứng ra thành lập chính phủ từ chối không thương lượng với chính phủ "cộng sản",
hy vọng "Việt Nam hoá chiến tranh - dùng người Việt đánh người Việt" và dựng lên
một nhân vật có thể đối trọng với lãnh tụ cách mạng.
Người đó dĩ nhiên là Bảo Đại dù có thời kỳ hợp tác với Nhật Bản, hay đã từng làm
cố vấn tối cao cho chính phủ cụ Hồ, dù tính cách chán đời và lối sống tài tử của
ông. Lucien Bodard - một nhà báo chuyên viết về Việt Nam đánh giá Bảo Đại là
chàng "Hamlet da vàng lẩn tránh trong tâm trạng phủ định và trác táng. Ông ta
lúc nào cũng do dự giữa trách nhiệm lịch sử và hưởng thụ".
Ngày 1 tháng tư năm 1947, Emile Bollaert, mới được bổ nhiệm làm cao uỷ Đông
Dương đáp máy bay của hãng Air France đến Hà Nội. Cùng đi có vợ, hai con và
chánh văn phòng Pierre Messmer. Đã thành thông lệ các quan chức đi công cán bao
giờ cũng có vợ con và người thân đi cùng. Trong suốt thời gian làm việc ở Đông
Dương, có chiến tranh hay không, cao uỷ sẽ lợi dụng những chuyến đi về Paris để
hưởng những cuộc du lịch ngắn ngày. Trên đường đi, mỗi dịp dừng chân tại các thủ
đô hay thành phố, ông tranh thủ đi thăm thú các nơi, khám phá nhiều cảnh quan
mới lạ, bao giờ ông cũng có vợ, con cùng đi. Ngay khi đi Vatican để yết kiến
giáo hoàng cũng có con gái Jacqueline đi theo. Khi ông đặt chân xuống đường băng
sân bay Tân Sơn Nhất, ông đã mang sẵn trong túi áo, một tài liệu đánh máy mười
một trang. Đó là mười một trang "huấn thị", như một bản điều lệnh, một bản hướng
dẫn hành động để tránh được những điều dại dột, sai lầm, để chắc chắn là ông áp
dụng đúng chính sách đã được Paris quyết định.
Đối với chính phủ Hồ Chí Minh thì sao? Trong tài liệu ghi rõ: kiên quyết lên án.
Thế còn vấn đề Độc lập cho Việt Nam? Được, nhưng độc lập trong khuôn khổ Liên
hiệp Pháp, không có quân đội riêng, không có ngoại giao riêng, tất cả đều kèm
theo sự kiểm soát chặt chẽ về chính trị. Câu kèm theo biện pháp nầy gợi lại bóng
ma của đô đốc Courbet, của tướng De Courcy và các phế đế hồi giữa thế kỷ XIX.
Trong tài liệu, ghi rõ "Một thí nghiệm cũ, cách đây một trăm năm, chứng tỏ bỏ
qua một số bảo đảm nào đó là quá sớm"(1).
Cuối cùng, với Bảo Đại, bản tài liệu nói rõ: "Lập lại bộ máy cai trị cũ,
nhưng không tỏ ra là chúng ta lập lại triều đại quân chủ".
Ít nhất là phải như thế. Ký tên dưới bản huấn thị có Thủ tướng Nội các Paul
Ramadier, người của đảng Xã hội, còn có phó thủ tướng Maurice Thorez, tổng bí
thư đảng Cộng sản.
***
Tại Hongkong, "Con Trời" Bảo Đại không làm gì hết. Ông ta nghỉ ngơi, thưởng thức
lạc thú trên đời. Năm 1932, ông đã do dự khi rời Paris để về nước nắm quyền
bính. Năm 1945, ông đã thoái vị hơi vội, rồi rong chơi ở Trung Hoa trong lúc đất
nước lầm than vì có mặt của quân đội chiếm đóng nước ngoài và lo sợ xảy ra nội
chiến. Vậy việc gì ông phải từ bỏ những thói quen cũ của mình. Trong khi ông
không chính thức được giao "một chức trách rõ rệt" nào. Ông được tự do. Ông tự
nhủ: còn chưa bằng những người khác.
Ông đã đổi tên. Không còn Hoàng đế Bảo Đại. Cũng không phải công dân Vĩnh Thuỵ
mà là Wang Kunney tiên sinh, một người Trung Hoa. Muôn năm sự kín đáo, sự mai
danh ẩn tích?
Tuy nhiên ông vẫn gặp các nhà báo, vui lòng giải thích lối sống của ông, những
cung cách mới của ông. Nhiều nhà báo nhanh chóng có thói quen đến thăm ông hoàng
bị phế truất kỳ dị, không buồn, cũng không phải thôi thúc hỏi thăm tin tức vợ
con đang sống ở Huế dưới chính quyền Việt Minh ra sao. Ông đi dạo trên bãi tắm,
phô trương người tình của mình, trước tiên là Lệ Hà, tiếp theo là Mộng Điệp, một
mối tình khác của ông.
Đầu đội mũ panama, mình mặc chiếc một áo sơmi lụa bạch theo kiểu Trung Quốc,
quần ống rộng thùng thình; giấu mặt bằng cặp kính râm to, Bảo Đại sống như một
thường dân vô công rồi nghề. Như mọi người, ông đi xe công cộng chật lèn của
Hongkong, tắm, chơi gôn, chơi quần vợt. Ông luôn luôn làm cho các chính khách
bám quanh ông phải ngạc nhiên thán phục.
Dáng dấp trẻ trung, thân hình lực sĩ, tuổi mới gần ba mươi tư, nhưng phần lớn
thời gian rỗi ông phân chia giữa cờ bạc và thể thao. Tối tối, ông lao đến
Paramount, vũ trường lớn nhất của thành phố. Ông thường xuyên lui tới các ca lâu
tửu quán. Ngay từ giữa thời kỳ cách mạng ở Hà Nội, ông đã là khách quen của
những hộp đêm ở Hà Nội. Cần gì? Ông yêu thích cái không khí choáng lộn, trong
những đêm bất tận, thích cái nhìn của những người đi lướt qua bên ông trên sàn
nhảy hay trong các sới bạc.
Thế nhưng ông túng thiếu, gần như nghèo túng. Hoàng đế mà như thế thì nghèo cùng
cực rồi. Tiền ông quăng trên các bàn bạc hoặc thanh toán tiền phòng khách sạn
tồi tàn của ông là của cô nhân tình Lý Lệ Hà chi trả. Cô nầy đã phải mở két,
biếu ông tất cả tiền tiết kiệm của một cô gái nhảy nửa thượng lưu, số tiền lên
tới vài trăm bạc kiên trì tích cóp được nhờ tài quyến rũ của cô.
Ông có thật là một con người vô dụng như các tạp chí miêu tả ông không? Ông có
đóng kịch khi tỏ ra là một nhà du lịch biếm hoạ? Ông đã làm hết sức để cho chân
dung về ông có thể tin được. Ông không chỉ là chàng thanh niên rám nắng, tươi
cười luôn luôn xuất hiện trên các tạp chí. Tuy nhiên báo chí đã lưu lại hình ảnh
ấy và qua báo chí công chúng tin rằng cựu hoàng chỉ là một con người như thế.
Tiếng tăm của ông bị vẩn đục những thành công chính trị sau nầy của ông sẽ bị
phai mờ vì những chuyện bê bối trong đời tư của ông. Một số bài báo đã có dụng ý
tạo nên hình ảnh về ông chỉ là một kẻ ăn chơi trác táng không thể sửa được.
Một tờ báo ở Nam Bộ, tờ Duy Tân đã đăng một tin giật gân, đầu đề chạy suốt trên
tám cột báo: "Một cô gái người Hoa tên là Trần Nỷ - được biết nhiều hơn với cái
tên Jenny Wong - từ Hongkong sang Sài Gòn, đi tìm những người có vai vế trong
hội đồng hoàng tộc để báo cho biết cô đã có mang với Bảo Đại và đứa trẻ sau nầy
ra đời sẽ được chính thức hoá như thế nào trong hội đồng hoàng tộc?". Bài báo bị
Sở kiểm duyệt đục bỏ(2).
Báo chí Pháp còn khẳng định một cách quả quyết hơn. Trong tờ Paris Presse, Merry
Bromberger viết: "Muốn gặp Bảo Đại ở Hongkong chỉ cần dạo mười bốn hộp đêm trong
thành phố, dễ hơn là tìm ông trong một khách sạn Anh"(3)...
Thời gian qua đi, diễn biến các sự kiện, thái độ lừng chừng do dự của người Pháp
làm cho Bảo Đại chán chường, mệt mỏi, chậm chạp, lười biếng, vỡ mộng nữa, hơn
thời kỳ trị vì ở kinh đô Huế. Tuy nhiên, theo ghi chép của một nhân viên tình
báo Pháp (SDECE) "trí tuệ của ông vẫn rất sắc sảo giống như quan hệ tầm
thường không làm nhụt thú hưởng lạc và dan díu tình ái dễ dãi".
Cố vấn tối cao của chính phủ Hồ Chí Minh chẳng bao lâu nối lại sự tiếp xúc với
người Pháp.
Ai chủ động trong việc nầy? Ông Bảo Đại: đó là Paris. Một nhân viên Ngân hàng
Đông Dương bắn tin: chính phủ Pháp muốn ông trở lại ngôi báu. Thấy ông đang gặp
khó khăn về tài chính, Ngân hàng Đông Dương dành ngay cho ông một ngân khoản hai
nghìn đôla Hongkong. Sau đó lại thêm một món tiền của giáo hội Pháp cho vay nữa.
Các giáo sĩ dòng Tên chỉ đòi hỏi món vay được đảm bảo bằng tài sản của ngai
vàng.
Theo cơ quan tình báo Pháp thì chính là Bảo Đại chủ động yêu cầu được giúp đỡ,
sau khi đã tiêu đến đồng đôla cuối cùng. Ông nhận được một món tiền nhỏ, năm
trăm đồng sau khi có ý kiến của lãnh sự Pháp, Bộ Ngoại giao và Bộ Thuộc địa. Số
tiền đó chỉ đủ dùng để tránh cho cựu hoàng khỏi bị các nhân viên nước ngoài khác
lôi kéo. Trong bất kể tình huống nào thì khi đã có tiền, ông lập tức đổi sang
một khách sạn mới, sang trọng hơn. Đó là khách sạn Gloueester trên đường Hoàng
hậu (Queen s Road).
Thế cũng chưa đủ. Các phái viên Pháp tiếp tục dùng tiền để lung lạc cựu hoàng.
Một người tên là Yole, tình báo viên gài vào lãnh sự quán Pháp tại Hongkong, cứ
đều đều mỗi tháng rót cho ông năm nghìn đôla Hongkong. Tiền nầy lấy từ quỹ đen
của ông Bollaert. Một món tiền lớn để chi cho các hoạt động chính trị: một phần
dành cho các đại biểu của các tổ chức "quốc gia" đến thăm ông. Nguồn gốc của
khoản tiền ấy được giữ kín. Các chính khách sa-lông khi nhận được trợ cấp ngoài
mong đợi ấy, đinh ninh rằng Bảo Đại đã gia ân cho họ.
Một phái viên khác tên là Reynaud, một cộng tác viên thân cận của Cao uỷ
Bollaert làm con thoi chạy đi chạy lại giữa Sài Gòn và Hongkong. Không chỉ đóng
vai trò trung gian, Cao uỷ còn giao trách nhiệm cho ông ta "bám sát" cựu hoàng,
tham dự các hội hè ban đêm của ông, trở thành một trong những người thân tín của
ông. Reynaud biết Bảo Đại từ lâu vì trước chiến tranh thế giới ông ta đã là nhân
viên bảo hiểm của ông.
Người bạn mới nầy còn ra sức khuyến khích ông trở lại các phi vụ làm ăn và sẽ
cung cấp tiền bạc. Nhưng một người tin cẩn khác của Cao uỷ là Cousseau - nguyên
công sứ Sơn La - nắm dây thắt hầu bao. Ông ta nói với nhà báo Lucien Bodard: "Tôi
tin sắp thành công đến nơi vì Bảo Đại rất cần tiền. Đó là một ông vua tầm
thường, bị phế truất, không có tiền tiêu, không có hoài bão gì. Ông ta đang
trong cảnh gần như khốn cùng. Thực tế đó là một công việc không dễ dàng chút
nào. Tôi đã đem đến hàng triệu bạc, mà vẫn không đủ [...]. Trở lại với cuộc sống
ăn chơi xả láng, Bảo Đại càng bị lôi cuốn... Ông ta hiểu rằng người ta càng gắn
với ông bao nhiêu thì lại càng cần đến ông bấy nhiêu".
Nguồn gốc sự phất lên rất nhanh của Bảo Đại là một bí mật mà mọi người ai cũng
biết cả. Trong một vụ khám va-li của con gái Bollaert tại phi cảng Sài Gòn, một
khoản tiền ngoại tệ sáu trăm ngàn đồng bị phát hiện. Cô gái khai số tiền nầy gửi
cho chánh mật thám. Ông nầy buộc phải nói rõ: đó là "tiền lương trả cho chi phí
lưu trú của Bảo Đại ở Hongkong".
Nhờ chế độ chuyển tiền hay "buôn bạc" mà những món tiền nhỏ ban đầu nhanh chóng
trở thành khó che mắt thiên hạ. Những trò "ảo thuật" rất hời ấy do một thanh tra
tài chính tìm ra. Tất cả những đồng bạc được phép chuyển từ Sài Gòn hay Hà Nội
đến Paris đổi ra đồng franc được tăng gấp hai lần giá trị ban đầu. Làm như vậy
để khuyến khích những người lao động chân chính sang làm việc ở Đông Dương hoặc
bù trừ cho những nhà buôn phải liều lĩnh bỏ vốn làm ăn ở cái xứ sở đang có chiến
tranh. Một đồng bạc Đông Dương được phép chuyển về chính quốc ăn mười bảy franc.
Nhưng nếu quá hạn mức cho phép được chuyển tiền về nước thì một đồng bạc Đông
Dương chỉ ăn có tám franc. Bảo Đại nhận đổi cho người Pháp làm việc hay kinh
doanh ở Đông Dương muốn chuyển tiền về nước ngoài hạn mức, từ đồng bạc Đông
Dương ra đôla Hongkong với giá tám franc/đồng bạc Đông Dương. Ông gửi những đồng
bạc Đông Dương đó về Sài Gòn và làm thủ tục chuyển tiền về Paris, làm như những
đồng bạc đó kiếm được một cách hợp pháp tại Đông Dương chứ không phải mua lậu
tại Hongkong. Tiền nầy trở về Paris đổi thành franc với giá hối đoái mười bảy
franc một đồng. Như vậy chỉ cần cho tiền lộn về Hongkong và lại tiếp tục hành
trình đi - về.
Phải chăng cựu hoàng đã phất to nhờ hệ thống chuyển tiền ma quái nầy?
Đúng là như thế. Dù sao tài sản của ông tăng vọt.
Sau nầy ông thú nhận: "Tiền ngoại tệ ồ ạt gửi đến cho tôi, kèm theo những móc
ngoặc trong bộ máy ngân hàng - tài chính, khiến tôi có thể làm biến đổi tỷ giá
hối đoái của đồng bạc Đông Dương ở Hongkong"(4).
Như vậy có phải là phi pháp, bất bình thường không? Ở Đông Dương, trong thời kỳ
đầu của chiến tranh thì chuyện đó không có gì là bất bình thường.
Vòng quay của đồng tiền không ngừng tăng tốc độ, những phi vụ không có gì nguy
hiểm và khó khăn... mà ai cũng có phần trong khi vẫn phải tiếp tục các cuộc giao
chiến, sống chết không biết lúc nào. Không kể các vụ buôn bán khác dứt khoát là
đáng ngờ, mà một số người thân cận của ông là thủ phạm. Còn ông không thể không
được chia phần, một khi các vụ làm ăn phi pháp trót lọt.
Cựu hoàng cho Phan Văn Giáo, bí thư của ông, hai mươi ngàn đôla Hongkong để
thưởng công cho Giáo đã làm việc tốt. Với số tiền đó, Phan Văn Giáo mua mười lăm
hòm kháng sinh gửi về Sài Gòn trên một con tàu hải quân của quân đội quốc gia.
Một nơi khác một xe cứu thương dỡ hàng xuống nhà bà Didelot, chị gái bà Nam
Phương Hoàng hậu. Các hòm hàng được đem bán lại ở chợ đen, được bảy trăm năm
mươi nghìn đồng. Ai mua? Người của Việt Minh mua hàng đem về bưng biền! Bảo Đại
có biết không? Không thể nào không biết. Chính ông cũng tham gia vào các vụ
áp-phe của đám cận thần. Ngoài Phan Văn Giáo còn có Nguyễn Hữu Thí, giám đốc cơ
quan tình báo của ông cũng là cố vấn tài chính cho ông. Thí nắm độc quyền cung
ứng và vận tải cho miền Trung Việt đồng thời cũng buôn bán kim cương, rượu vang,
cao su và cùng với Pierre Reynaud trở thành nhân vật thân tín của cái "hợp tác
kinh tế và quân sự ở Trung Kỳ".
Ấy thế mà chẳng có gì rõ ràng cả. Chẳng ai biết chính xác ông cựu hoàng lưu vong
làm việc cho bên nào. Các vụ áp-phe lớn thu lợi cho ông và đám cận thần đã đành
mà Việt Minh được một nguồn tiếp tế có đảm bảo chẳc chắn.
Quan hệ tay đôi giữa nhà cách mạng lão thành Hồ Chí Minh và cựu hoàng Bảo Đại
lưu vong thế là tan vỡ chăng? Không hoàn toàn như vậy. Hãng thông tấn Anh Reuter
loan tin: Bảo Đại khẳng định: "Không bao giờ tôi trở lại Huế để lập một chính
phủ bù nhìn cho người Pháp. Tôi thấy ông Hồ Chí Minh là một con người tài năng,
một người yêu nước chân chính".
Riêng đối với ông Hồ, không bao giờ Bảo Đại lên án. Ông tránh không tỏ ra đứng
hẳn về phe nào. Có lẽ như thế là khôn ngoan. Việc tự nguyện thoái vị của ông đã
được lòng dân chúng. Ai cũng biết hai người đều có chung một nguyện vọng muốn
cho đất nước được độc lập dân chúng được sung sướng, nhưng con đường đạt mục
đích khác nhau, lối sống khác nhau, nhưng trong thời kỳ còn hợp tác với nhau Hồ
Chí Minh bao giờ cũng có thái độ tôn trọng cựu hoàng - cố vấn tối cao của chính
phủ.
Chính phủ Việt Nam, một mặt duy trì Bảo Đại trong cái vị thế kỳ quặc "cố vấn tối
cao", mặt khác tấn công triệt để vào các nhân vật thân cận của ông. Nhân vật
thân cận chứ không phải ông.
Hồ Chí Minh kiên nhẫn chờ đợi kết cục các cuộc thương thuyết giữa cựu hoàng với
Pháp rồi mới tỏ thái độ dứt khoát.
Ngày 5 tháng 7 năm 1947, Bảo Đại lên tiếng ở Hongkong trong một cuộc trả lời
phỏng vấn: "Nếu toàn dân Việt Nam đặt lòng tin vào tôi [...] tôi sẽ sung
sướng trở về Đông Dương. Tôi không ủng hộ cũng không chống lại Việt Minh, tôi
không thuộc đảng phái nào!".
Mặc dù lên án chủ nghĩa cộng sản, ông không lớn tiếng đả kích chế độ Dân chủ
Cộng hoà đối phương, không trực diện công kích cá nhân Hồ Chí Minh...
Nhưng cuộc mặc cả vẫn chưa ngã ngũ. Bảo Đại cao giọng đòi Pháp phải trao trả độc
lập, công nhận nền thống nhất, Nam Bộ phải trở về lãnh thổ nước Việt Nam không
cần trưng cầu ý dân. Về hình thức tưởng như cựu hoàng còn đòi hỏi cao hơn Hồ Chí
Minh năm 1946. Trong dân chúng nhất là trong vùng Pháp kiểm soát, có dư luận cho
rằng cựu hoàng giao thiệp với Pháp là có sự thoả thuận với Hồ Chí Minh, như năm
1945, ông đã nhận nền độc lập từ tay Nhật để rồi mấy tháng sau lại trao lại cho
Việt Minh. Phải chăng, tại Hongkong, ông lại tái diễn lớp trò nầy. Ông thương
thuyết với người Pháp để trở lại nắm quyền bính, rồi sau đó, ông sẽ cai quản đất
nước cùng với Hồ Chí Minh? Philippe Franchini, người Pháp chuyên về chiến tranh
Đông Dương viết: "Một nhóm người nhìn ông như quốc vương của một nước Việt
Nam tìm lại được đạo trung dung của Khổng Tử. Nhóm khác thì xem ông là sự bổ
sung cho Hồ Chí Minh, giống như âm và Dương, như Mặt trời và Mặt trăng, chụm lại
thì thành vòng tròn hoàn chỉnh, hình dung về một nước Việt Nam lý tưởng"(5).
Từ căn cứ kháng chiến, ông Hồ Chí Minh nói với S. Ehe Maissie phóng viên hãng
thông tấn Mỹ International New Service Mỹ, như để đính chính:
"Ông Vĩnh Thuỵ là cố vấn trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tuyên
thệ trung thành trước Quốc hội, trước Chính phủ và trước quốc dân. Ông ta chỉ có
tư cách đứng ra điều đình khi nào được Chính phủ Cộng hoà Việt Nam uỷ quyền".(6)
Người Pháp tỏ vẻ sốt ruột còn Bảo Đại vẫn tỏ ra vẻ bí hiểm. Ông không vội đáp
lại năn nỉ của người Pháp. Biết mình chẳng có hậu thuẫn gì của dân chúng nhưng
ông biết lợi dụng sự khó khăn của Pháp trong việc đối phó với phong trào kháng
chiến của Việt Minh. Hơn nữa trong các phe phái đang ve vãn, lợi dụng vị trí ông
vua cuối cùng triều Nguyễn của ông cũng chưa nhất trí với nhau trong việc tranh
giành chỗ đứng - kèm theo là quyền lợi trong chính phủ bù nhìn tương lai, có
phái bảo hoàng miền Trung, có phái Nam Kỳ muốn có nhiều quyền và lợi hơn trong
chính phủ Việt Nam thống nhất, nói rộng hơn có ý đồ của người Mỹ muốn lợi dụng
Pháp suy yếu để dần dần thay thế Pháp biến Đông Dương sớm trở thành mắt xích
trọng yếu trong vành đai chống cộng của Đông Nam Á, một khi bị Trung Cộng đánh
bật khỏi lục địa Trung Hoa. Là một người không kém thông minh, Bảo Đại không
phải là không biết mọi sự toan tính đó. Ông bình thản chờ xem tình hình phát
triển ra sao rồi mới tỏ thái độ dứt khoát.
Còn thái độ của người Pháp? Bollaert tỏ ra rất sốt ruột. Lập trường đàm phán của
ông đã bị Hồ Chí Minh cự tuyệt sau chuyến công cán của đặc phái viên Paul Mus
đến khu kháng chiến. Tiếp đó là thất bại quân sự trong trận tấn công quy mô Thu
Đông năm 1947 vào chiến khu Việt Bắc để chụp bắt cơ quan lãnh đạo kháng chiến.
Các đoàn đại biểu các phe nhóm, các đảng phái lũ lượt sang Hongkong ngày càng
nhiều. Có người sang thăm dò, mặc cả rồi trở về. Số người ở lại cũng không ít.
Ngô Đình Diệm, sau một thời gian dài ở Mỹ cũng không chịu vắng mặt ở Hongkong
với đề nghị lập một chính phủ gồm các nhà chuyên môn hơn là đại diện các đảng
phái.
Tháng 11 năm 1947, Robert Schuman thay thế Paul Ramadier đứng đầu chính phủ. Là
người của Mặt trận tập hợp bình dân (MRP do De Gaulle sáng lập) chính phủ Pháp
ngày càng ngả sang hữu. Emile Bollaert là người của đảng cấp tiến. Dù nội các
thay đổi, ông vẫn tiếp tục các cuộc mặc cả ở Hongkong. Ông sẽ ở lại chức vụ hiện
nay, dù cho có thay đổi nội các thế nào đi nữa, trong 18 tháng nữa, đến 15 tháng
9 năm 1948, để nhường chỗ cho Léon Pignon.
Hồ Chí Minh cũng thay đổi tuyên bố trước các nhà báo về tình trạng của Bảo Đại.
Ngày 8 tháng 12 năm 1947, một ngày sau cuộc gặp Bollaert - Bảo Đại (ngày 6, 7
tháng 12 năm 1947), trả lời các nhà báo Hồ Chí Minh tuyên bố trước các nhà báo
có tính răn đe: "… Cố vấn Vĩnh Thuỵ ở xa không khỏi bị những thám tử Pháp như
bọn Cousseau bưng bít và những người vô sỉ như Nguyễn Hải Thần, Lê Văn Hoạch
v.v... bao vây cho nên cố vấn có thể nghe những lời hứa hẹn suông của bọn thực
dân Pháp mà đi gặp chúng. Nếu cố vấn Vĩnh Thuỵ biết rõ tình hình trong nước thì
chắc cố vấn không bị chúng lừa bịp... Chính phủ và nhân dân ta rất mong cố vấn
Vĩnh Thuỵ không có những hành động trái ngược với những lời thề trước Tổ quốc và
trước đồng bào trái với nguyện vọng của dân tộc"(7).
Sau nhiều cái bắt tay, kèm theo là ý chí và lòng kiên nhẫn, Bollaert cố gắng
thuyết phục Bảo Đại chấp nhận trở về nước và đứng đầu chính phủ, nhưng với điều
kiện thống nhất và độc lập phải được bảo đảm.
Nhiều cuộc hội đàm tiếp theo đi đến thoả ước Hạ Long, một bản nghị định thư quy
định những điều Pháp sẵn sàng dành cho Việt Nam và những điều Bảo Đại có thể
chấp nhận. Vịnh Hạ Long, với cảnh quan hùng vĩ và trang nghiêm được tạo thành
bởi những đảo nhỏ khắc hoạ trên bầu trời, trở thành địa điểm ưu ái cuộc tái hợp
Pháp - Việt.
Độc lập, thống nhất bao giờ cũng là vấn đề gay cấn trong đàm phán. Bảo Đại đòi
độc lập hoàn toàn, toàn diện còn Pháp chỉ nhân nhượng cho Việt Nam tự do dưới sự
giám sát của Pháp còn vẫn nắm chặt một số lĩnh vực. Phạm vi và số lượng của các
lĩnh vực ấy giảm dần trong quá trình thương lượng. Cuối cùng, hai bên đi đến
thoả ước Hạ Long dự kiến Việt Nam độc lập trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp, có
hành chính riêng, cảnh sát riêng, nhưng quân đội và ngoại giao vẫn ở dưới quyền
Paris. Điểm nổi bật quan trọng là chính phủ trung ương có quyền lực trên toàn bộ
đất nước gồm cả Nam Kỳ, có nghĩa là chính thức hoá sự thống nhất của Việt Nam.
Như vậy là những biện pháp trên gần phù hợp với chỉ thị của chính phủ Pháp trao
cho cao uỷ Bollaert sáu tháng trước đây, rộng rãi hơn những điều dành cho Hồ Chí
Minh hồi ký hiệp định sơ bộ tháng 3 năm 1946. Nhưng phạm vi quyền lực của chính
phủ trung ương của Bảo Đại phỏng được bao nhiêu ngoài các thành phố thị trấn và
dọc đường giao thông do Pháp kiểm soát và bảo vệ còn gần như toàn bộ vùng rừng
núi và phần lớn nông thôn mênh mông đều đặt dưới quyền của chính phủ kháng chiến
do Hồ Chí Minh lãnh đạo.
Nhưng lạ lùng thay, vừa ký tắt xong Bảo Đại tuyên bố bác bỏ thoả ước, la lối
rằng ông đã bị lừa.
Về phía Pháp cũng vậy. Phe bảo thủ không muốn nghe nói đến thoả ước vừa được ký
kết.
Người ta bỗng nhận ra Bảo Đại hoá ra không phải là con người dễ bảo, yếu mềm,
hơn nữa không phải là một tên bù nhìn đã bán mình cho quỷ. Người ta thấy ông tỏ
ra cứng rắn, độc lập trong suy nghĩ và hành động hơn là những nhà chức trách
Pháp đã hình dung về ông.
Các nhà thương thuyết từ Paris sang, không giấu sự bực mình trước tính thiếu
thiện chí, và thái độ không khoan nhượng của ông. Ông vua bị hạ bệ nầy là ai mà
phải cầu cạnh đến như thế nhỉ. Vừa mới ký thoả thuận xong bước đầu đã phủi tay
ngay. Chính phủ Pháp đã nhầm chăng? Ông ta có thực sự độc lập trong hành động
không hay do một số cố vấn có ảnh hưởng điều khiển ông trong bóng tối như thời
kỳ ở Huế ông dễ dàng tuyên bố thoát ly quan hệ với Pháp, nhận sự bảo hộ của Nhật
để rồi lại nhanh chóng thoái vị và làm cố vấn cho chính phủ Hồ Chí Minh. Giờ
đây, sau sự kiện Hạ Long, ai mới là người không khoan nhượng và khôn khéo? Phải
chăng sau lưng ông ta, chính là người Mỹ đang mưu mô nắm con bài Bảo Đại, muốn
ông độc lập với Pháp để vừa làm suy yếu thế lực Pháp ở Đông Nam Á, vừa tiến tới
xây dựng một chính quyền tay sai đủ mạnh làm rào cản chủ nghĩa cộng sản ở châu
Á.
Sau cuộc gặp ở Vịnh Hạ Long, giới hữu trách chính trị ở Pháp vô cùng thất vọng
không tìm được ai có thể thay thế Bảo Đại mặc dù họ không ưa Bảo Đại nữa.
Tháng tám năm đó, đài phát thanh Việt Minh phát từ Huế một cái tin khá lạ lùng,
thuật lại một bài đăng trên báo Continental Daily Mail ra ngày 25 tháng 7 năm
1947 tại London:
"Các nhà chức trách Pháp đến thăm cựu Hoàng hậu Nam Phương, đề nghị bà đưa
con trai bà mười ba tuổi lên ngôi. Bà không trả lời. Trong lúc các vị khách Pháp
giải thích thì bà đến trước đàn dương cầm thản nhiên chơi bài Tiến quân ca, quốc
ca của Việt Nam...".
Một tháng sau, tờ Echo du Vietnam tiết lộ âm mưu: "Một kế hoạch xảo quyệt do
Hội thuộc địa trình bày. Họ chủ trương khôi phục chế độ quân chủ ở An Nam. Có
thể khởi đầu bằng một cuộc thoái vị trọng thể của Bảo Đại nhường ngôi cho con
trai. Cựu hoàng phải thừa nhận sai lầm của bản thân, tự nguyện rút lui khỏi
chính trường để mở đường cho sự hoà hợp chân thành với nước Pháp"(8).
Một nhà báo hỏi cựu Hoàng hậu Nam Phương lúc đó đang ở Đà Lạt: "Có phải con bà
sắp lên ngai vàng không?". Bà không trả lời nhưng cũng không cải chính. Còn Bảo
Long, mùa hè năm 1947 đang sống dưới sự chăm sóc yêu thương của bà ngoại tại Đà
Lạt.
Người ta nhắc đến vua Thành Thái năm 1910 bị buộc phải rời khỏi ngai vàng và
xuống tàu đi đày ở đảo Réunion, vì rối loạn tâm thần. Tại đây, ông đã chứng kiến
con ông, Duy Tân, rời khỏi đảo, về đất liền phục vụ quân đội nước Pháp tự do.
Sống bên ông còn có một công chúa. Chính cô nầy đã thông báo cho cao uỷ biết
nguyện vọng của cha cô muốn được sống những ngày cuối đời tại quê nhà. Lời thỉnh
cầu ấy và những bàn tán thêu dệt đã khiến người ta cho rằng người Pháp đang nghĩ
đến việc tìm kiếm con bài thay thế Bảo Đại.
Lời đồn đại nầy sau đó đã không thành sự thật. Nhưng Vua Thành Thái đã được phép
về sống ở giữa Sài Gòn, chờ ngày về Huế, thành phố của ông. Ông già tỏ ra là con
người dễ thương, lịch sự, gần gũi với dân Sài Gòn.
Lúc đầu chỉ là sự tò mò, dần dần ông được cảm tình của mọi người. Nhưng vấn đề
chỉ dừng lại ở đó.
Ngày 12 tháng 8 tại Huế, bốn mươi ngàn người tụ họp trước cửa Ngọ Môn yêu cầu
Hoàng đế Bảo Đại trở về nước nắm quyền bính. Giải pháp Bảo Long, Thành Thái hay
ai khác không còn được mấy ai nhắc đến.
Đó lại là lúc cựu Hoàng hậu Nam Phương quyết định rời khỏi Việt Nam. Cố nhiên bà
và các con đáp máy bay Anh để tới Hongkong gặp chồng. Lũ trẻ ôm hôn các anh em
họ và sau mấy giờ bay đã phát hiện ra thế giới hiện đại. Ánh đèn nêông choáng
lộn, tàu thuỷ và tiền bạc. Cuộc sống dễ dãi, kỳ diệu bên cạnh cái nghèo nàn của
Đà Lạt, ngay cả Huế. Lần đầu tiên chúng nhập vào một thành phố như thế và không
thể quen được với chiều cao của những nhà chọc trời, với vô vàn ánh sáng, với sự
trộn lẫn giữa sức sống và sự hỗn độn, đặc trưng của bán đảo.
Ông cựu hoàng gặp lại vợ con sau hai năm xa cách.
Một thời gian, Bảo Đại phải bớt đến tiệm nhảy Paramount và những sòng bạc khác.
Cuộc sống vợ chồng mới gặp lại nhau được đặt lên hàng đầu. Lý Lệ Hà, Mộng Điệp
và các cô gái trẻ khác tạm lánh mặt, ít nhất trong một thời gian. Không bao lâu
sau đó bà Nam Phương và các con rời Hongkong sang Pháp. Một chuyến đi vất vả
gian nan. Phải tạm dừng lại ở Bangkok chờ khắc phục những trục trặc kỹ thuật của
chiếc thuỷ phi cơ. Do không đề phòng trước những hỏng hóc, nên sau nhiều ngày,
mọi người đều phải chuyền sang đi tàu thuỷ cùng với hành lý. Tới Pháp, trong
thời gian đầu, mẹ con bà Nam Phương về Cannes, nơi có toà lâu đài Thorenc tráng
lệ được dành cho cả gia đình. Từ nay trên đất Pháp bà Nam Phương chỉ có thể biết
qua loa tình hình trong nước nhờ những lá thư của bà chị ruột là bà bá tước
Didelot ở lại Sài Gòn kể những chuyện lặt vặt cho bà.
***
Anh rể bà, bá tước Didelot ở lại Đà Lạt. Trong một bức thư viết cho con gái - lá
thư bị Sở kiểm duyệt giữ lại - ông nói về Bảo Đại: "Cha tin vào ông chú của
con - chỉ Bảo Đại - ông ta không phải là một vĩ nhân cũng không phải là một
thằng ngốc nhưng nếu được biết rõ tình hình, ông ta sẽ có thể nhận định đúng
đắn. Ông ta hay bị một số người có đầu óc vụ lợi phỉnh phờ và chịu ảnh hưởng của
họ. Trước đây một số người ủng hộ ông thoái vị và hợp tác với Hồ Chí Minh cũng
là để cứu vãn vị thế của họ. Bây giờ ở Hà Nội (... Việt Minh đã rút đi, Pháp đã
trở lại) có những biểu ngữ, truyền đơn dán trên tường yêu cầu Bảo Đại trở về
nước nắm quyền bính...".
Cựu hoàng khác nào một kẻ đang đánh bạc trong khi những người ngồi chầu rìa và
những tay đứng ngoài cá cược với nhau về cơ may được, thua. Mọi người chung
quanh từ vợ, anh rể, địch thủ, hay thẩn dân hình như ai cũng biết rõ những chủ
bài cũng như những điểm yếu của ông. Ông là con người thông minh có nhận thức
nhanh nhưng lại ham thích ăn chơi. Liệu ông có biết chơi canh bạc cuộc đời nầy
không hay trái lại để cho người Pháp hay Việt Minh chinh phục.
Bảo Đại có vẻ như tự tin, ông đánh giá quá cao về vị thế "ông vua cuối cùng
triều Nguyễn" của mình. Trong Hồi ký Con rồng An Nam ông viết:
"Riêng tôi, tôi cảm thấy rất thoải mái, thời đó người ta hay nói: trong tay
tôi chẳng có gì nhiều, ngay cả tính đại diện của tôi cũng còn phải bàn cãi. Nói
như thế là coi nhẹ một yếu tố chủ yếu, ở chỗ tôi là đại diện chính thông cho một
triều đại, tôi là đấng Thiên tử, là Con Trời, được Trời giao sứ mệnh trị vì thần
dân. Có lẽ chỉ có mình tôi nhận thấy tính đại diện chính thông nầy. Nó không thể
được xem như một luận cứ trong một cuộc đàm phán ngoại giao, cũng không thể viện
ra ngay từ đầu. Tuy nhiên nó vẫn hiện hữu, mạnh mẽ hơn mọi luận cứ chông lại
tôi. Chắc chắn là những ai không phải là dân Việt Nam thì không cảm nhận được
điều đó mà tôi cũng không thể thuyết phục được họ. Khi tôi phản ứng hay tỏ thái
độ, những người đôl thoại với tôi không thể hiểu được, họ chỉ đưa lý lẽ giữa con
người với nhau, ngang tầm với họ, hợp với trình độ của họ...".
Một điều chắc chắn là phải thương lượng, chấm dứt mọi mưu mô. Từ tháng 12 năm
1946, chiến tranh lan rộng khắp cả nước với mức độ ngày càng khốc liệt. Việt
Minh vẫn thi hành chính sách vườn không nhà trống ở những vùng họ tạm rút đi.
Thời gian ngày càng thôi thúc. Quân Pháp chỉ chiếm được các thành phố, thị trấn,
còn vùng nông thôn mênh mông vùng rừng núi hiểm trở vẫn nằm trong tay Việt Minh.
Người Mỹ gia tăng áp lực. William Bullit, cựu Đại sứ Mỹ tại Pháp ủng hộ giải
pháp Bảo Đại. Nhân danh chính phủ Mỹ, ông ta vừa khuyên Pháp nhượng bộ thêm nữa
trước đòi hỏi của Bảo Đại, vừa khẩn khoản yêu cầu Bảo Đại phải đương đẩu với
Pháp, tóm lại là đòi cho được độc lập(9).
Tại Hongkong, Bảo Đại hình như đã thoát khỏi cảnh cùng quẫn. Ông trở lại cuộc
sống xa hoa giàu có. Nơi ông ở là một toà nhà rất đẹp theo phong cách kiến trúc
Anh, gần bờ biển cách Hongkong độ hai mươi cây số ông có một ban thư ký riêng
giúp việc. Ông sống ở Stanley Beach nhưng thường hay tiếp các đoàn trong nước ra
ở Causeway Bay, cho họ nghỉ tại Hongkong Hotel hoặc ở Paramount hay
Saint-Francis. Sau khi bán tài sản riêng ở Hongkong cộng với đồ đạc và ôtô, ông
được một khoản tiền tươi đến một triệu đồng Đông Dương.
Ông đi châu Âu, sau sáu năm xa cách. Đầu tiên ông đến Anh để chữa mắt rồi về
Cannes nơi Nam Phương và các con đang đợi ông.
Gián tiếp và trực tiếp người Pháp đã giúp ông trở lại cuộc sống sung túc. Các
phe nhóm đảng phái "quốc gia" tâng bốc ông, tạo vốn chính trị hào nhoáng bên
ngoài cho ông trước hết vì quyền lợi của chính họ. Có lẽ ông cũng biết ông chẳng
có hậu thuẫn gì đáng kể ở trong nước, càng không đủ sức chống lại kháng chiến do
Hồ Chí Minh lãnh đạo nhưng đã ngập sâu trong cuộc sống phù phiếm hưởng lạc, ông
không thể lùi được nữa. Phải ký kết. Tháng 1 năm 1948, ông đi gặp cao uỷ Pháp ở
Genève. Tại sao ông lại chọn Thuỵ Sĩ, một nước trung lập truyền thống, mà Genève
là một địa điểm lý tưởng cho các cuộc mặc cả ngoại giao, giúp ông có được có một
khoảng cách với những người đối thoại. Lần nầy ông chọn đường đến Cannes trên
một chiếc xe hơi đặc biệt, đó là chiếc Gordini, từ khi trở lại giàu có, ông tài
trợ cho nhãn xe nầy. Chiếc xe có tốc độ nhanh, xài xăng pha octane với tỷ lệ
cao, không bán ngoài thị trường tự do, nên phải lập riêng một hệ thống kho xăng
dọc đường từ Cannes đến Genève.
Mặc dù tình hình lúc nầy nghiêm trọng, nhưng trong lúc chiến tranh đang tiếp
diễn ác liệt mà lại đi đàm phán để chấm dứt chiến cuộc thì đâu phải là một việc
tầm thường. Ông cũng biết phải đi những nước cờ cao.
Báo chí cánh tả một lần nữa đưa ra hình ảnh về ông như một kẻ trác táng ích kỷ.
Đặc phái viên của tờ Combat (Chiến đấu) viết: Những cuộc thương thuyết với ông
Bollaert chẳng đi đến đâu, nhưng ông Bảo Đại cũng không bỏ lỡ dịp ở Genève để
sắm thêm nhiều bộ cánh mới. Tôi đã dự một bữa điểm tâm rất sang của ông. Tóc
uốn, tay đút vào túi chiếc áo choàng màu nâu nhạt, ông sải bước bên cạnh bà
hoàng rất trẻ đẹp, có phong thái rất "Paris".
Những cuộc thương thuyết kéo dài bất tận, mỗi lẩn lại đánh dấu bằng những tuyên
bố lạc quan nhưng không có hiệu quả gì. Bảo Đại ra vẻ một con người kỳ cục chưa
từng thấy bao giờ. Phải cầu khẩn van nài, phải lấy lòng bằng những cái cười nụ,
cười nhoẻn dỗ dành. Phải trải thảm đỏ để ông lên máy bay về Sài Gòn. Mỗi lần
tưởng như ông chắc chắn nhận lời, thì ông lại lần khân, tránh né, im lặng. Báo
chí phẫn nộ, các nhà chức trách điên đầu. Bên kia đại dương chiến tranh ngày
càng dữ dội. Còn ông Hoàng đế nầy cứ làm cao, nâng giá lên mãi, mà không quyết
định vào cuộc.
Thời gian thúc bách lắm rồi. Bằng mọi giá phải dựng lên một chính phủ để chiêu
hồi tất cả những phần tử "quốc gia" chống cộng sản. Nhưng không. Con Trời Bảo
Đại luôn muốn đứng trên mọi cuộc xung đột đảng phái, không muốn dấn thân vào
thực địa. Có lẽ ông chả thèm muốn gì hơn vị thế hiện nay của ông, với ngôi biệt
thự đẹp đẽ ở Hongkong, toà lâu đài xinh xắn ở Cannes. Tuy nhiên cuộc đấu tranh
của ông không vô ích. Mỗi lần thương lượng lại được thêm một chút nới rộng quyền
tự trị cho Việt Nam ngay cả từ "độc lập" cũng không còn là điều cấm kỵ nữa.
Đầu năm 1949, dường như Bảo Đại nghe theo lập luận của những người thân cận đang
bu quanh ông, công bố một "tạm ước" (modus vivendi) theo cách của ông. Chưa giải
quyết được gì cả, nhưng cả hai bên Pháp và Việt phải cố cùng sống chung với
nhau, trong khi chờ đợi tình hình được cải thiện. Và thế là ra đời một chính phủ
tàm tạm có quyền lực cả nước dưới quyền của thủ tướng Nguyễn Văn Xuân, một sĩ
quan do Pháp đào tạo, leo lên cấp thiếu tướng, người của Bảo Đại.
Như một trò phù phép. Báo chí không tiếc lời ca ngợi thoả thuận đạt được công
nhận Việt Nam độc lập trên giấy trắng mực đen. Nhưng là độc lập trong khuôn khổ
Liên hiệp Pháp. Đó là quy chế cuối cùng dành cho Việt Nam. Một lần nữa, cảnh
quan hùng vĩ của vịnh Hạ Long được chọn làm địa điểm lễ ký kết. Nhưng lần nầy,
thủ tướng Xuân là một bên ký kết dù chỉ là ký tắt hiệp ước, có sự chứng kiến của
Bảo Đại. Lần nầy ông chỉ làm công việc giám sát từ xa những hành động đầu tiên
của cái chính phủ do ông vừa dựng nên.
Nhưng lại một lần nữa, thoả ước mới chẳng thay đổi được bao nhiêu tình hình đang
diễn ra. Việt Minh vẫn trụ vững ở các vùng nông thôn. Mặt khác quân Pháp không
có ý định giữ trọn quyền lực của mình. Tại Nam Kỳ, nghị viện cũ của thuộc địa
tẩy chay chính phủ Nguyễn Văn Xuân. Tóm lại là chính phủ trung ương của tướng
Xuân chẳng cai trị gì hết. Người ta nhanh chóng thấy rang duy chỉ có cựu hoàng
Bảo Đại là có thể khẳng định quyền lực của mình và chỉ có ông mới là lực đối
trọng của Hồ Chí Minh.
Bảo Đại còn muốn người Pháp phải van nài hơn nữa. Ông đòi thêm các điều bảo đảm
mới nhất là thu hồi được Nam Kỳ (10) (Nam Kỳ phải trở vè lãnh thổ Việt Nam). Bên
Trung Hoa, quân cộng sản của Mao Trạch Đông đang thắng như chẻ tre, tạo một sức
cổ vũ mạnh mẽ cho kháng chiến Việt Nam. Tình hình nhanh chóng chứng tỏ rằng chỉ
có cựu hoàng Bảo Đại mới có thể khẳng định được quyền lực của mình và chỉ có ông
mới có thể đối chọi được với Hồ Chí Minh. Người Mỹ càng sốt ruột. Cuối cùng Tổng
thống Cộng hoà Pháp Vincent Auriol và Bảo Đại ký thoả ước 8 tháng 3 năm 1949,
Cựu hoàng sẽ trở về nước, bổ nhiệm các thủ hiến cai trị ba "kỳ". Các dân tộc
miền núi được hưởng tự trị nhưng đặt dưới quyền trực tiếp của Bảo Đại, gọi là
"Hoàng triều cương thổ". Nhưng không lập lại nền quân chủ. Bảo Đại sẽ không trở
lại làm Vua mà là Quốc trưởng Việt Nam. Sau nầy khi hoà bình được lập lại, nhân
dân sẽ bỏ phiếu lựa chọn chế độ chính trị cho mình. Nhưng trong khi chờ dợi, Bảo
Đại vẫn cho phép và còn mong muốn được mọi người "tâu Hoàng thượng" hoặc "tâu Bệ
Hạ". Sau nầy khi về nước, Văn phòng Quốc trưởng vẫn đóng ở Đà Lạt vì người Pháp
dùng dằng không chịu giao dinh Norodom, tượng trưng cho quyền lực của Toàn quyền
Đông Dương cũ cho Quốc trưởng Việt Nam.
Còn thái độ của chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh?
Ngày 25 tháng 1 năm 1949, trả lời các nhà báo, Hồ Chí Minh nói: "Ông Vĩnh
Thuỵ đã thề trung thành với Tổ Quốc, với nhân dân và Chính phủ. Nếu ông ấy cam
tâm buôn dân, bán nước thì ông ấy sẽ bị tội phản quốc như những kẻ phản quốc
khác"(11).
Ngày 2 tháng 2 năm 1949, trả lời phóng viên hãng thông tấn Anh Reuter hỏi về ông
Vĩnh Thuỵ có còn được coi là cố vấn tối cao trong chính phủ nữa không, Hồ Chí
Minh khẳng định: "Ông ta đã tự cách chức ấy rồi"(12). Hai tháng sau, bình luận
về bản ký kết 8 tháng 3 giữa Bảo Đại và Pháp, Hồ Chí Minh tuyên bố. "Bản ký
kết 8 tháng 3 đối với nhân dân Việt Nam chỉ là tờ giấy lộn. Thứ thống nhất và
độc lập giả hiệu ấy chẳng lừa bịp được ai... Vĩnh Thuỵ trở về với 10.000 viễn
binh Pháp để giết hại thêm đồng bào Việt Nam. Vĩnh Thuỵ cam tâm bán nước. Đó là
sự thật... Vĩnh Thuỵ làm tay sai cho thực dân là một tên phản quốc... Chính phủ
Việt Nam sẽ thẳng tay trừng trị những tên Việt gian đầu sỏ đã bán nước buôn dân…"
(13). Đầu tháng 10 năm 1949, trả lời nhà báo Mỹ A. Steele, báo New Herald
Tribune, Hồ Chí Minh tuyên bố dứt khoát: "Chúng tôi không cần gì đến bọn bù
nhìn... Chỉ có bù nhìn và phản quốc mới ủng hộ Bảo Đại"(14). Cũng vào thời
gian nầy, tại căn cứ kháng chiến của Liên Khu III, hữu ngạn sông Hồng, một phiên
toà đặc biệt của Toà án quân sự đã tuyên án tử hình vắng mặt Vĩnh Thuỵ về tội
phản quốc. Chủ trương xử công khai tội bán nước của Bảo Đại phản ánh thái độ của
chính phủ kháng chiến do Hồ Chí Minh lãnh đạo thể hiện qua một loạt các bài báo
và tuyên bố chính thức của Hồ Chí Minh lên án Bảo Đại bán nước, hại dân và làm
tay sai cho Pháp, chống lại kháng chiến.
Chú thích:
(1) Hồ sơ lưu trữ bộ Ngoại giao Pháp - Vụ Á - Đông Dương, tập 15.
(2) CAOM, Lưu trữ bộ Pháp quốc Hải ngoại - Sở Mật thám. SPCE 376.
(3) Paris Presse, 2/4/1947.
(4) Bảo Đại, Le Dragon dAnnam (Con Rồng Annam) Nhà xuất bản Plon, Paris.
(5) Philippe Franchini: Les Guerres d Indochine (Các cuộc chiến tranh Đông
Dương), Nhà xuất bản Pygmalion,1988.
(6) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1995, trang
220.
(7) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1995, trang
310.
(8) CAOM, Hồ sơ lưu trữ bộ Pháp quốc Hải ngoại - Tập Cố vấn chính trị số 2,
Nhà nước - 285.
(9) CAOM, Hồ sơ lưu trữ bộ Pháp quốc Hải ngoại, SPCE (Service Presse Corps
Expéditionnaire - Phòng báo chí quân đội viễn chinh) - Hồ sơ 376.
(10) Ông đòi họp Hội đồng quản hạt Nam Kỳ biểu quyết đòi trở về với Việt Nam,
sau đó Nghị viện Pháp sẽ hợp pháp hoá yêu cầu đó
(11), (12) (13) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
1995, tập 5, tr. 562.
(14) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1995, tr.
581, 694.
Chương 25
PHẦN 3. TRỞ VỀ
Từ lâu đài Thorenc nhìn ra cảnh quan trải rộng dưới mắt Bảo Long giống như Nha
Trang, một thắng cảnh trên bờ biển miền Trung nước Việt. Ở đó, trên đỉnh đồi
chìa ra biển sừng sững một dinh cơ đồ sộ mang tên "biệt điện Bảo Đại", còn ở đây
một toà biệt thự nguy nga không kém, có vị trí tương tự như trên bờ biển Nha
Trang, được gọi kín đáo hơn là "lâu đài Thorenc". Khác chăng là nổi bật trên màu
xanh lam của vịnh Cannes, rải rác những cánh buồm trắng, những canô máy, những
chiếc du thuyền yatch mảnh mai, quý phái, được cậu bé chăm chú theo dõi.
An ninh ở Cannes được bảo đảm, cổng ra vào toà biệt thự uy nghi, chắc chắn với
đôi sư tử đá trang trí trên cột trụ hai bên...
Bảo Long đã sang tuổi mười ba. Lùi dần vào dĩ vãng : những kỷ niệm không mấy êm
đềm về những ngày lánh nạn sống trong trường dòng chúa Cứu thế ở Huế cùng những
lễ hành xác của các thầy tu, hay những đêm ngủ dưới tầng hẩm nhà băng Đông
Dương, nơm nớp lo sợ trong tiếng rít của đạn trái phá vút mái nhà. Bây giờ cậu
bé chỉ còn chờ ngày tựu trường. Trên đất nước thanh bình như nước Pháp năm 1948,
ngày trở lại trường học không phải là một sự kiện bất ngờ, gia đình nào cũng có
thể biết trước. Nhưng lựa chọn trường nào cho thích hợp không phải là chuyện đơn
giản, vì ba năm qua, trong tình thế đầy biến động ở quê nhà việc học tập của mấy
anh em Bảo Long cũng bị đảo lộn, dở dang. Hai năm học ở Huế hoàn toàn theo
chương trình giáo dục Việt Nam lúc đầu là của chính phủ Trần Trọng Kim, sau đó
là dưới chế độ dân chủ cộng hoà, và năm tiếp theo, bỏ hẳn sách vở vì chiến sự,
vì di chuyển, hết Đà Lạt lại Hongkong.
Cuối cùng, Nam Phương quyết định cho con vào học trường Roches. Tại sao lại học
trường Roches? Đây là một trường đứng đắn, kỷ luật rất nghiêm khắc, được Nhà thờ
Công giáo bảo trợ, mặc dầu tại Masslacq, gần Pau, đó chỉ là cơ sở tản cư thời
chiến của trường chính ở Verneuil-sur-Avre. Chiến tranh kết thúc được bốn năm
rồi nhưng số con em các gia đình ở lại vẫn đông nên trường vẫn tồn tại. Bà Nam
Phương rất hiểu tính nết bướng bỉnh khó bảo của con trai đầu lòng nên bà hy vọng
học trường nầy con bà sẽ trở nên thuần thục hơn.
Đầu tháng 1 năm 1948, Bảo Long theo một người cậu, em của Nam Phương, rời toà
biệt thự ở Cannes, xuyên qua miền nam nước Pháp còn đầy dấu tích chiến tranh để
đến Pau nhập học.
Cũng may là nhà trường có đầu óc thoáng, áp dụng những phương pháp giảng dạy
hiện đại, theo hệ thống giáo dục Anh, nghĩa là cho phép học sinh phát huy tính
chủ động tự quản trong cuộc sống tập thể ở ký túc xá dành cho con cái gia đình
giàu có tại miền tây-nam nước Pháp. Phương pháp giảng dạy và giáo dục của nhà
trường rất được tín nhiệm đến mức sau nầy có nhiều gia đình quyền quý Việt Nam
gửi con đến theo học. Bảo Long hoà nhập được ngay với các bạn tuy cùng lớp nhưng
nhỏ tuổi hơn mình. Điểm nổi bật cuối cùng của nhà trường là mặc dù trường nầy
không thuộc giáo hội quản lý, nhưng trong ban triết học - sau nầy Bảo Long cũng
theo ban nầy - có sáu học sinh thì bốn người khi ra trường trở thành tu sĩ.
Bảo Long cố gắng khép mình vào kỷ luật học đường, song tước vị hoàng tử kế
nghiệp cũng cho cậu được hưởng một số đặc quyền: Mỗi buổi sáng cậu ta được tắm
nước nóng trong khi các bạn cùng lớp phải tắm nước lạnh. Khẩu phần bữa tối cũng
được ưu tiên: được chia nhiều thức ăn hơn, nhiều chocolatte hơn. Cậu ta còn đem
chia bớt cho các bạn. Người ta giải thích lý do những biệt đãi ấy: Bảo Long là
người từ xứ nhiệt đới đến, không quen khí hậu khá khắc nghiệt của vùng núi
Pyrénées, không quen tắm nước lạnh, cần được ăn nhiều của ngọt hơn.
Được cái cậu ta thông minh, sáng dạ, nhanh chóng hoà nhập với tập thể, giỏi văn
chương, ngôn ngữ, cả tử ngữ như tiếng Hy Lạp cổ. Ngược lại về toán và các khoa
học tự nhiên thì kết quả bình thường, tuy nhiên nhiều lần đứng hàng đầu trong
bảng tổng xếp hạng.
Giống như ở Đà Lạt, quanh các đỉnh núi đồi ở vùng tây-nam nước Pháp đều ngợp
bóng thông reo. Cảnh trí ở đây gần như vùng Alpes, hơi buồn, êm ả và thanh bình.
Bảo Long cảm thấy cô độc. Nhớ nhà, nhớ các em đang sống ở Cannes với mẹ. Giống
phần đông các thanh niên học sinh thời đó thường hay ưu thời mẫn thế như một căn
bệnh thời đại, Bảo Long luôn luôn có cảm giác phiền muộn trong lòng. Các bạn
thân trong lớp kể lại rằng tâm trí Bảo Long luôn bị ám ảnh xót xa mỗi khi nhớ
lại những cảnh hoàng cung ở Huế ngùn ngụt cháy rụi trong khói lửa bom đạn.
Thời gian đầu các thầy cô giáo và bạn học lúng túng không biết xưng hô thế nào
cho phải với tước vị cao quý của Bảo Long? Không lẽ mỗi lần lại xưng hô Hoàng tử
Bảo Long, một cách trịnh trọng, e không hợp với khung cảnh học đường dưới chế độ
cộng hoà đã gần hai trăm năm tuổi ở Pháp trong khi về danh nghĩa chế độ quân chủ
nhà Nguyễn ở Việt Nam cũng đã cáo chung được gần bốn năm rồi. Nên chăng chỉ gọi
là Nguyễn? Ở Việt Nam các vua thuộc triều đại cuối cùng cũng như có nhiều người
dân thuộc dòng họ Nguyễn. Cuối cùng ông hiệu trưởng chọn tên... Philippe để đặt
cho cậu ta. Philippe có nguồn gốc Hy Lạp "hyppos", có nghĩa là ngựa. Bảo Long
vốn mê cưỡi ngựa. Được hỏi ý kiến, Bảo Long về hỏi lại mẹ, cuối cùng cả hai đều
đồng ý, duy chỉ băn khoăn một nỗi là cái tên Philippe có vẻ công giáo quá. Không
sao.
Bảo Long rất lơ mơ về đời sống tôn giáo. Sau nầy ông kể lại: tham dự các nghi lễ
tôn giáo cũng tựa như đi xem hát. Một ý nghĩ hơi kỳ quặc nhưng không có gì ác ý.
Bảo Long vốn là con người có tính lạnh lùng, lặng lẽ, ít kết giao với bạn bè,
không ưa lối xưng hô mày, tao, cậu, tớ như thường thấy trong bạn học với nhau
trong trường. Bảo Long chỉ có ba người thật sự gọi là thân thiết(1). Anh thích
thể thao, biết chơi nhiều môn. Đây cũng là đặc thù của nhà trường. Phần lớn các
buổi chiều đều dành cho hoạt động thể thao. Sinh hoạt lớp có trưởng lớp điều
khiển, được gọi là "đội trưởng" - Bảo Long được lòng bạn bè nên từ lớp đệ nhị
bậc trung học anh được chỉ định làm trưởng lớp.
Ngày 4 tháng 3 năm 1950, xảy ra một sự kiện khiến tên tuổi Bảo Long được nêu lên
trang đầu các báo. Tất cả các tờ báo ở Pháp đều đưa tin giật gân: thái tử Bảo
Long bị đe doạ bắt cóc. Thế là mọi người Pháp đều biết hoàng tử kế nghiệp của
Triều đình An Nam đang tị nạn chiến tranh ở Pháp. Thị trấn nhỏ bé Masslacq sôi
sục không khí cảnh giới. Cảnh binh sục sạo khắp nơi kể cả những bụi rậm để tìm
dấu vết kẻ tình nghi. Tin mật báo từ một bức điện tín nặc danh cho cảnh sát biết
có một nhóm người Việt cực đoan âm mưu bắt cóc con trai của cựu Hoàng đế Bảo
Đại. Tên chỉ điểm nói rõ ngày giờ sẽ tiến hành vụ bắt cóc, chỉ không chỉ đích
danh tổ chức nào chủ mưu nhưng ai cũng biết trên chính trường Pháp thời đó chỉ
có thể là "cộng sản", lực lượng đang tích cực ủng hộ "Việt Minh" chống lại cuộc
chiến tranh tái chiếm Đông Dương. Tờ Aurore (Rạng đông) ra ngày 4 tháng 3 năm
1950 viết: "... Những phần tử thân Việt Minh âm mưu bắt cóc hoàng thái tử để
làm con tin. Chúng đến từ Cannes trên một chiếc xe ôtô có biển đăng ký đã bị
cảnh sát phát hiện...".
Một đội cảnh binh trang bị tiểu liên được cử đến trường Roches túc trực. Các
cảnh binh thay phiên nhau bám sát Bảo Long, không rời một bước. Tan học, Bảo
Long theo đơn vị bảo vệ đến ở một địa điểm bí mật, qua đêm ở đó, hôm sau lại
được hộ tống đến trường.
Báo chí ra sức khai thác tin giật gân nầy. Ảnh của Bảo Long trương ở khắp nơi.
Một thiếu niên mới 14 tuổi nhưng chững chạc, tóc chải mượt, cổ đeo cà vạt, mặc
quần soóc ngắn, cặp mắt thông minh. Báo nào cũng nói đến đặc điểm rụt rè, trầm
tĩnh. Một số tờ báo còn nói Bảo Long sùng đạo, làm cho cậu ta bực mình.
Mấy ngày sau báo chí lại thay đổi giọng điệu. Một tờ báo cộng sản - tờ Le
Soir (Buổi chiều) - khẳng định: tất cả chỉ là mưu toan đánh lạc hướng chú ý
của quần chúng lao động đang đấu tranh đòi cải thiện đời sống xã hội. Tờ Le Soir
còn điều tra và khẳng định Sở cảnh sát Cannes chẳng biết gì về chuyện nầy. Chẳng
có ai chỉ điểm cũng không có sự đe doạ thật sự nào. Chỉ có người cộng sản là
không tin có âm mưu bắt cóc. Các báo khác vẫn tiếp tục luận điệu của họ.
Hai ngày sau có một nhân chứng nói: một nông dân có tuổi xác nhận có những hiện
tượng bất thường xung quanh trường học. Ông già kể rằng đã thấy hai người, một
người cầm chiếc đèn tín hiệu màu đỏ, người kia cầm đèn tín hiệu màu xanh. Họ đã
đánh tín hiệu trong đêm, trong lúc có tiếng động cơ của một chiếc xe đến gần.
Tóm lại, đã xảy ra chuyện gì đó. Nhưng không khớp với thời điểm và khác với loại
xe mà cảnh sát đã tiên đoán. Nhưng không ai nghi ngờ sự thật về một âm mưu bắt
cóc. Được con trai hỏi ý kiến, Bảo Đại nói đến giả thuyết phổ biến nhất, về một
mưu toan có sự dính líu của đảng Cộng sản Pháp. Cuộc bắt cóc sẽ gây áp lực buộc
cựu hoàng phải rút lui khỏi sân khấu chính trị. Còn ngày nay, khi kể lại chuyện
cũ Bảo Long vẫn cho rằng đây đơn giản chỉ là một vụ việc dân sự thông thường của
bọn lưu manh nhằm đòi một món tiền chuộc.
Sự việc không có nhưng cũng có những hậu quả nặng nề về sau. Bảo Long đã trải
qua một thời niên thiếu đầy biến động, thường là cô đơn, trừ một giai đoạn ngắn
được mọi người kính nể khi cha anh, ông Vĩnh Thuỵ, với tư cách cố vấn tối cao
trong chính phủ, sống ở Hà Nội, hàng ngày tham dự cuộc họp với các ông bộ trưởng
trong chính phủ hoặc tháp tùng Cụ Hồ trong các buổi tiếp tân. Thời kỳ học trường
Roches là bước đầu của một thời thơ ấu "bình thường" với các bạn học, tham dự
các trò chơi trên sân trường hay trên sân vận động và cũng như chúng bạn anh bắt
đầu có cuộc sống ít nhiều thoát khỏi những mưu toan chính trị tối tăm hoặc liên
quan đến cuộc sống cung cấm. Vậy mà, một âm mưu bắt cóc, dù không xảy ra hay chỉ
là bịa đặt, lại ném anh trở về với những quy chế kỳ quặc của con trai nối nghiệp
một vị Hoàng đế có tương lai không chắc chắn.
Một chiếc xe có ôtô cảnh sát hộ tống đưa Bảo Long đi khỏi Masslacq một cách
tuyệt mật. Anh được đưa đến chủng viện dòng Benoit ở Madiran thuộc Pyrénées- Hạ.
Một lần nữa, lại phải sống với các thầy tu. Phản xạ của bà Nam Phương lần nầy
chẳng khác gì thời ở Huế dưới bom đạn mấy năm trước. Con trai bà không tìm đâu
được sự an toàn bằng giữa những nhà tu hành.
Lần nầy không kỳ cục bằng trường dòng chúa Cứu thế ở Huế năm nào. Ở vùng
Pyrénées-Hạ, dĩ nhiên là không có chiến tranh, cuộc sống ở đây ít sôi động hơn,
quá yên tĩnh là khác. Bảo Long buộc phải ở một mình như đi trốn. Rất ít người
biết nơi ở của anh. Một cảnh binh luôn luôn đi theo để bảo vệ. Suốt ngày đêm,
anh không ra khỏi phòng. Một căn buồng kín đáo chung quanh trang trí toàn màu đỏ
của chính Đức giám mục nhường cho anh, ăn thông với buồng bên cạnh lúc nào cũng
có mặt viên cảnh binh, súng tiểu liên trong tay, luôn ở tư thế sẵn sàng.
Anh ở đấy hai tháng, cách biệt với thế giới bên ngoài, hầu như không liên hệ gì
với người xunh quanh. Ngồi trong buồng nhìn ra, thấy các tu sĩ trẻ đang chơi
bóng pơ-lốt rất muốn chạy ra nhập bọn cũng không được. Anh viết hàng chục lá thư
cho bố, cho mẹ van xin được trở về cuộc sống bình thường như mọi người nhưng
không ai trả lời. Hàng ngày anh chơi cờ "đam" (cờ vua) hoặc nghịch ngợm tập tháo
ra, lắp vào khẩu súng tiểu liên của người cảnh binh. Anh đọc sách, tất nhiên chỉ
là những sách sùng đạo, chán ngắt. Một hôm, một chàng thanh niên mới đi tu lén
đưa anh đọc mấy tập thơ tình của Claudel. Đây là sách hầu như bị cấm trong tu
viện. Quả thật là liều?
Sau hai tháng, thời gian câu lưu kết thúc, anh được đưa về Masslacq, tìm về
trường cũ, cũng vẫn là cơ sở của trường Roches, nhưng ở Normandie, miền bắc nước
Pháp.
Cuộc sống đầy biến động như thế nhưng kết quả học tập vẫn xuất sắc. Mười bảy
tuổi, đỗ tú tài triết học, nhưng vẫn luôn luôn có cảnh binh đi kèm.
Nếu không kể sự có mặt của người bảo vệ nầy, Bảo Long sống như cô độc. Không bạn
bè, ít giải trí, chỉ có sách. Trái ngược hẳn với cha, anh ít giao thiệp với phụ
nữ. Vả lại, luôn luôn có thanh tra cảnh sát bên cạnh, chàng trai mới lớn nầy
muốn mơ tưởng những chuyện diễm tình cũng khó trở thành hiện thực. Tính tình anh
trở nên quá điềm tĩnh, quá lặng lẽ, và quá nghiêm trang so với tuổi. Anh phải cố
chịu đựng những biện pháp che chở thái quá của cha mẹ từ bé, nhưng tuồng như
không ham vui chơi đàn đúm. Anh trở nên ý tứ, dè dặt, kiên nhẫn, lạnh lùng...
Lắm lúc về Cannes, anh bực bội vì không thể tham gia vào cuộc sống vui vẻ, ăn
chơi của bố.
Sau nầy Bảo Long kể lại: "Tôi phải sống ngăn cách với thế giới xung quanh, có
cảnh binh bảo vệ, mặc dù ở Cannes là cả một thế giới ăn chơi, có ôtô sang trọng,
có máy bay riêng, có gia nhân đầy tớ. Tóm lại tôi không biểu sao người ta lại
bắt tôi sống trong ký túc xá trường trung học Roches, kỷ luật khắt khe, thiếu
thốn mọi thứ. Sau nầy tôi mới hiểu, chính mẹ tôi muốn tránh cho tôi khỏi bị
nuông chiều quá, tránh cuộc sống phóng đãng như cha tôi, một lối sống đã gây cho
bà nhiều đau khổ".
Dù sao, anh cũng được bố tặng một chiếc ôtô làm quà sinh nhật tuy còn thiếu nửa
năm nữa mới đến tuổi cầm tay lái. Trên chiếc thuyền y-át cha anh mới mua, neo ở
Monte-Carlo, ở đó một thanh tra cảnh sát đã chuẩn bị sẵn chờ anh đến là trao anh
giấy phép đặc cách, dành cho con trai Hoàng đế An Nam do nước cộng hoà Pháp bảo
trợ. Dẫu vậy, anh vẫn phải qua một cuộc sát hạch. Người thanh tra cảnh sát cho
anh lên xe công vụ chạy đến đầu cảng và chỉ đặt ra một câu hỏi duy nhất: "Khi
hai chiếc xe chạy cùng chiều trên đường, đến một giao điểm thì chiếc xe nào được
ưu tiên?" Bảo Long trả lời luôn: "chiếc đi bên phải!". Thế là xong.
Khỏi cần thử tay lái và những câu hỏi khác. Bảo Long đã có giấy phép lái xe làm
sẵn, được cảnh sát trao tận tay, dưới thuyền y-át.
Đó là một chiếc xe đẹp và dài. Một chiếc xe kiểu Anh, nổi tiếng thanh lịch với
công suất động cơ mang nhãn hiệu Jaguar XK 120. Tại sao lại 120? Vì đó là chiếc
xe đầu tiên của xê-ri có thể vượt quá vận tốc tối đa một trăm hai mươi dặm/giờ
(tức hai trăm cây số/giờ). Đó là ước mơ của Bảo Long. Không may là viên sĩ quan
hầu cận được giao nhiệm vụ đi mua xe lại nhầm.
Chiếc xe đang nằm ở cửa bến to lớn, oai vệ, sang trọng nhưng chẳng phải là xe
thể thao. Đúng là mác Jaguar nhưng là Mark VII. Nặng ba tấn, da và gỗ
đánh vecni vô ích. Bảo Long tức giận đòi phải mang đổi ngay.
Chiếc XK 120 được đưa ngay đến, anh mở cửa xe, ngồi ngay sau tay lái quá rộng
với khổ người, anh lái một chiếc xe nhỏ hơn là vừa. Anh nổ máy cho xe chạy. Vừa
ra khỏi cảng, xe đã đâm vào sườn một chiếc xe đi ngược chiều. May là không thiệt
hại lớn. Anh đã biết lái đâu, chưa qua một lớp học lái, chỉ trông vào thực hành.
Trong hai năm anh gây ra mười hai vụ tai nạn. May là không nghiêm trọng cho cả
hai bên. Nhờ có xe, mỗi kỳ nghỉ anh đi về đều đặn từ Normandie về Cannes. Gia
đình chưa có nhà ở Paris. Mỗi lần cầm tay lái chiếc xe tốc độ cao, anh phải cố
kiềm chế để xe đi với vận tốc trung bình. Đám cảnh sát hò hét hết hơi để chạy
theo nhiều khi phải mượn chiếc xe 203 của cha anh mới đuổi kịp. Sau vụ âm mưu
bắt cóc, tuy không xảy ra, cảnh sát vẫn giám sát chặt chẽ hành trạng của Bảo
Long.
Một hôm, trên quãng đường gần Aix-en-Provence, xe bị hỏng khi vượt qua một chỗ
ngoặt. Như mọi lần anh bỏ xa xe cảnh sát hộ tống đến vài tiếng đồng hồ. Khi anh
đang lúi húi chữa xe để đi tiếp, thì chiếc xe cảnh sát bám theo, trên xe có hai
người cứ vun vút chạy miết về phía trước nên không nhận ra chiếc xe Jaguar đang
hỏng máy nằm bên lề đường. Vì thế, khi cảnh sát đến Cannes trước thì được nhân
viên của lâu đài Thorenc cho biết thái tử vẫn chưa về đến nơi. Thế là họ phải
lái xe 100 km quay trở lại mới gặp Bảo Long đang rong ruổi trên đường về như
không có chuyện gì quan trọng xảy ra.
Thường chỉ có một nhân viên được phân công luôn luôn kèm sát thái tử để bảo vệ.
Đó là thanh tra Tổng nha tình báo Chabrier. Ông ngủ luôn ở phòng liền kề, thông
với phòng ngủ của Bảo Long, có thể nhanh chóng can thiệp khi có chuyện. Hàng
ngày ông theo Bảo Long đến trường, chiếm một chỗ ngồi cuối lớp nhưng không phải
để nghe giảng bài mà chỉ chăm chăm theo dõi nhất cử nhất động của thái tử. Ban
đầu, các bạn học ngạc nhiên thấy hôm nào cũng có một người lớn tuổi có mặt trong
lớp nhưng cũng quen dần. Mỗi khi Bảo Long ra ngoài, dù trên máy bay hay xe lửa,
Chabrier luôn luôn đi bên cạnh. Những hôm Bảo Long lái xe đi chơi xa, người ta
thấy ông ghì chặt tay lái chiếc xe 203 bám theo xe của Bảo Long. Nhưng khi anh
về nghỉ với gia đình ở Paris, Cannes hay Valberg, thì lập tức đã có cảnh sát địa
phương thay thế.
Thanh tra Chabner đã từng làm phận sự theo Bảo Long ở miền nam, vùng núi
Pyrénées, nay phải theo Bảo Long lên Normandie, ở miền bắc Pháp. Trong ngày nghỉ
cuối tuần, ông thường tranh thủ đưa gia đình lên chỗ làm phận sự. Trong chiếc xe
203 của Bảo Đại, người ta thấy gia đình Chabrier ngồi bên cạnh thái tử đi thăm
các khu rừng trong vùng. Vốn ham săn bắn, nhiều lần ông Chabrier rủ cả Bảo Long
cùng đi săn với đám bạn bè mới làm quen được từ khi đến đây làm nhiệm vụ.
Tháng 8, tháng nghỉ hè, Bảo Long về nghỉ với gia đình ở Cannes, Chabrier cũng
phải theo về. Làm công tác bảo vệ như ông thì làm gì có nghỉ hè. Cả Bảo Long
cũng vậy, suốt từ khi học lớp đệ ngũ đến khi học hết đệ nhất trung học rồi đỗ tú
tài triết học, cũng không có nghỉ hè. Trong năm năm qua, Bảo Long học vượt cấp,
bỏ qua năm đệ tam. Sau đó lại có một đội bảo vệ khác đến thay thế cho đến khi
học hết bậc trung học. Đội nầy thường dùng một chiếc ôtô tốc độ cao, đôi khi
phải mượn chiếc Talbot trong số các xe của cựu hoàng để làm nhiệm vụ hộ
tống. Bảo Đại cũng hay lái một chiếc Ferrari vun vút đi trước, xe cảnh sát lao
theo. Những con đường từ Cannes đi ngược lên tuy nhỏ hẹp nhưng ít xe qua lại, cả
xe cảnh sát đi hộ tống lẫn xe của cha con cựu hoàng đều chạy với tốc độ cao,
chẳng khác nào một cuộc đua ôtô, các nhân viên Tổng nha tình báo chẳng mấy chốc
cũng trở thành những tay lái xe đua cừ khôi.
Bảo Long, tính tình vẫn trầm lặng, kín đáo nhưng xem ra lại rất thích thú với
cuộc sống ở Cannes. Nhất là những lúc có mặt cha anh. Anh cũng ham thích bơi
thuyền và lái ôtô thể thao như cha. Mỗi khi Bảo Long ra bờ biển đổi gió, bao giờ
cũng đi hai xe ôtô, xe của anh và xe của cảnh sát, còn thêm chị hầu phòng trẻ
tuổi và bà quản gia. Từ xa, mọi người đã nhận ra, đám đông xì xào khi đoàn xe đi
qua. Xe đi rồi có người còn ngoái cổ lại để xem hoàng tử, công chúa nào mà tuỳ
tùng đông thế... Chàng thanh niên Bảo Long ưa chuộng thể thao còn khám phá những
niềm vui mới như chơi lướt ván, mặc dù mới làm quen cũng đã lướt rất cừ. Nhưng
cũng là những môn thể thao cá nhân chứ không phải chơi theo đội hình có đấu pháp
hợp đồng, luật chơi chặt chẽ như bóng đá, bóng rổ hay bóng chuyền.
Những ngày sống ở La Riviera vui thú nhường vậy! Trên chiến trường Đông Dương xa
xôi, cuộc xung đột đẫm máu diễn ra hàng ngày, hàng ngàn người mỗi bên tham chiến
theo nhau bỏ mạng, nhưng hầu như chẳng mảy may ảnh hưởng đến cuộc sống vô cùng
xa hoa của gia đình cựu hoàng. Bảo Long tính từng ngày phải trở lại trường học.
Một lần Bảo Đại đến thăm con tại ký túc xá vào đúng giữa quý. Như thế là một năm
bốn lần, vào ngày chủ nhật, trong lúc phần lớn các bạn học cuối tuần về gia
đình, còn Bảo Long ngồi một mình trong toà nhà rộng lớn chờ bố đến. Cựu hoàng
một mình tự lái xe đến.
Đó là một chiếc Ferrari hay Bentley giản dị, mà không phải là
những chiếc Rolls sang trọng của giới thượng lưu ăn chơi. Ông cựu hoàng
bao giờ cũng đường bệ, bảnh bao, chuẩn bị đồ nghề mọi thứ để leo núi hay câu cá
dưới chân các thác nước Pyrénées. Chàng thanh niên không biết rằng trong lúc
đang đi chơi cùng với bố ở các vùng thôn dã như thế thì tên tuổi anh càng được
các báo nói đến như để chuẩn bị thay thế vua cha nắm quyền bính. Tuy nhiên, khi
gặp nhau, hai cha con không ai nhắc đến chuyện tương lai.
Đỗ tú tài xong, Bảo Long ghi tên học dự thính cả hai trường một lúc: trường Hành
chính và trường Luật.
Anh vẫn đam mê ôtô như trước. Lần nầy anh lái chiếc Alfa Romeo hay chiếc
Siatia, một chiếc ôtô mui trần hai chỗ ngồi lắp động cơ Fiat. Anh
thường lái xe đi xuyên ngang Paris luôn luôn có chiếc xe cảnh sát hộ tống. Lúc
nào cũng có hai cảnh sát hộ vệ, một người kiêm lái xe được phân công ở lại bên
ngoài trông xe còn người kia theo chân Bảo Long vào giảng đường, chiếm một chỗ
ngồi bên cạnh, cũng giả bộ chăm chú nghe các bài giảng về lịch sử, về kinh tế mà
chắc là chẳng hiểu gì hết. Còn các giáo sư chỉ cắm đầu giảng cũng chẳng ai buồn
biết đến danh tính của chàng thanh niên châu Á hay vắng mặt trong các buổi thực
hành, coi thường môn luật học. Cũng không một ai chú ý đến sự có mặt của người
cảnh sát mặc thường phục lúc nào cũng lẵng nhẵng bám theo anh.
Bảo Long nghe chừng thông cảm với những người đi theo anh làm nhiệm vụ bảo vệ.
Anh gần gũi và tỏ thái độ thân tình với họ. Có hôm anh bỏ chiếc xe Alfa
hay chiếc xe khác của mình để leo lên chiếc Citroen cổ lỗ dẫn động bánh
trước của cảnh sát cùng về căn nhà rộng sáu trăm mét vuông mà bà Nam Phương vừa
mới tậu ở Neuilly. Các buổi tối, mỗi lần Bảo Long ra ngoài hay đi xem phim ngoài
rạp cũng vẫn có một cảnh sát kín đáo theo anh vào phòng chiếu ngồi cách xa vài
mét.
Những chuyện đi theo như vậy quá bình thường đến mức trong gia đình chẳng ai
buồn để ý đến những hình bóng quen thuộc và cũng chẳng ai nhớ đến tên tuổi tính
tình của các chàng cảnh sát mẫn cán đó.
Thế rồi đột nhiên người ta thấy chàng hoàng tử muốn từ bỏ cuộc sống được chiều
chuộng quá mức, có nhiều xe ôtô sang trọng, kể cả các thanh tra Tổng nha tình
báo chăm chú bảo vệ mình để xin đứng vào hàng ngũ chiến đấu. Hình như anh cảm
thấy bứt rứt trong lòng khi thấy mình vắng mặt trong đội quân quốc gia mới thành
lập theo hiệp định mà cha anh mới ký kết với tổng thống Pháp Auriol, trong lúc
hàng ngàn thanh niên trạc tuổi anh đang tham dự cuộc chiến. Anh cho cha anh biết
ý định từ bỏ vai trò kế vị ngôi báu mà người ta giao cho anh từ khi chào đời và
muốn trở về nước, theo học trường võ bị Đà Lạt mới thành lập để trở thành sĩ
quan quân đội quốc gia trẻ tuổi.
Bất ngờ trước ý định của con trai, cựu hoàng Bảo Đại ban đầu chối từ, chắc hẳn
ông không muốn con trai ông làm vật hy sinh. Thấy Bảo Long tha thiết theo đuổi
binh nghiệp hơn là làm chính trị, ông chiều ý con nhưng cho con vào học trường
võ bị Saint-Cyr, có tiếng hơn, và... an toàn hơn. Tốt nghiệp xong trường nầy
chưa chắc Bảo Long đã phải ra trận ở Đông Dương.
Trong thâm tâm ông chẳng tin gì trường võ bị Đà Lạt, chẳng tin gì cuộc chiến
tranh ông đang theo đuổi và cũng chẳng tin gì giải pháp mang tên ông. Ngoài ra
ông thường nói: "Làm gì có giải pháp Bảo Đại mà chỉ có một giải pháp của
người Pháp mà thôi!"
Trong lòng bực bội nhưng Bảo Long tuân lệnh cha, không trở lại Việt Nam.
Chú thích:
(1) Francois du Haut de Bérenc, hoạ sĩ trang trí ở Bangkok, Phoenix và Kim d
Estainville, chết ở Algérie.
Chương 26
Sau hiệp định ký với Auriol, Bảo Đại chuẩn bị rời Cannes để trở về nước. Lại một
lần nữa, Việt Nam chuẩn bị đón cựu hoàng Bảo Đại hồi loan. Giống như năm 1932,
người Pháp phải nghĩ cách làm sao cho lần trở về nầy thật rầm rộ có đông đảo dân
chúng đón tiếp với đủ cờ quạt kèn trống... Có khác tình hình năm 1932 là lần nầy
đối thủ của ông mạnh mẽ hơn nhiều. Đó là cuộc kháng chiến của cả một dân tộc đi
theo ngọn cờ cứu nước của Việt Minh.
Tại Sài Gòn, khi mặt trời lên cao quang canh đường Catinat mới thức giấc bắt đầu
cuộc sống nhộn nhịp thường lệ. Các sân thượng còn vắng khách. Phần lớn ghế ngồi
đêm trước còn ngổn ngang trên mặt đường, giờ nầy còn chất đống trong các tiệm cà
phê có nhiều lớp rào thép bao quanh. Xa xa, trên sân thượng khách sạn
Continental, mấy anh nhà báo đang dùng bữa điểm tâm. Còn ở đây ngay trên đường
nhựa, đám ăn mày đang mơ màng ngủ gà ngủ gật.
Thoạt đầu một tờ truyền đơn từ trên cao rơi xuống bên cạnh một người ăn mày. Rồi
nhiều tờ khác bay là là rơi xuống ban công các nhà hai bên đường phố.
Nhiều tờ khác màu xám như những con chim hay lá cây lướt nhẹ rơi xuống các góc
phố ở trung tâm. Những người đi đường nhặt lên, bắt đầu đọc, và vứt vội đi như
không muốn đọc hết.
Cách tán phát truyền đơn của Việt Minh khá tài tình. Truyền đơn được nhúng ướt
rồi đặt trên nóc nhà hay mui xe ôtô vào ban đêm. Sáng ra, chúng được những tia
nắng ban mai sấy khô từng tờ một, gió thổi bay khắp nơi theo từng đợt. Rải rác
trong ngày, khắp thủ phủ của Nam Bộ người ta nhận được lời lên án sau đây của
kháng chiến:
"Hỏi rằng: ai đã long trọng thề trước dân chúng: "Thà làm công dân một nước
độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ".
- Đó chính là Bảo Đại!
Ai đã nhận nhiệm vụ làm cố vấn tối cao cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà rồi trôn ra nước ngoài, ăn chơi trác táng?
- Đó chính là Bảo Đại!
Ai đã xin tiền của Pháp, Mỹ để sống xa hoa, đàng điếm và đế trả ơn quan thầy,
đã quỳ gối ký các hiệp định Vịnh Hạ Long và hiệp ước Auriol?
- Đó chính là Bảo Đại!
Nối nghiệp bán nước của cha ông trong dòng họ, một tên vua chỉ biết sông truỵ
lạc trong bùn nhơ, nay lại nhận tiền của kẻ thù, làm tay sai cho chúng, tàn sát
đồng bào, còn tự xưng là cứu tinh của Tổ quốc.
Tên vua đó phải bị toàn dân Việt Nam nghiêm trị!
Đả đảo tên phản bội Bảo Đại!
Đả đảo Bảo Đại bán nước!
Đả đảo Bảo Đại mất gốc!
Đả đảo Bảo Đại rước voi về dày mả tổ!
Ngày 26 tháng 4 năm 1949, chỉ huy trưởng lực lượng kháng chiến toàn Nam Bộ ra
lệnh: "Quân đội vùng duyên hải phải sẵn sàng chiến đấu, liên tục tiến công, thực
hiện phá hoại, bắn máy bay...".
Cùng thời gian đó, mỗi tỉnh phải bốc thăm cử ra bốn người một tỉnh, họp thành
một tổ tình nguyện gọi là "ban ám sát" vào Sài Gòn làm nhiệm vụ thủ tiêu Bảo
Đại.
Một truyền đơn ký tên "Uỷ ban kháng chiến Sài Gòn - Chợ Lớn" hạ lệnh làm vườn
không nhà trống tẩy chay các hoạt động đón tiếp Bảo Đại về nước làm tay sai cho
Pháp: Tất cả các nhà phải đóng cửa, không được ra ngoài phố. Bãi chợ, cấm mua
bán vào ngày đó...
Lạ lùng là tin Bảo Đại về nước đã dấy lên một cơn sốt cá cược: giờ nào, ngày
nào, cựu hoàng sẽ về nước như thế nào. Đặt cược thì to, người được thì hiếm.
Trái với mọi chờ đợi, Bảo Đại không về Sài Gòn mà về Đà Lạt. Đến Singapore ông
thuê một máy bay đặc biệt bay về thành phố nhỏ miền núi để tránh một cuộc đón
tiếp linh đình hay một cuộc tẩy chay hay để giữ thể diện vì Pháp không chịu để
ông về ở tại dinh Norodom (tức Phủ Toàn quyền cũ tượng trưng cho quyền lực toàn
quốc). Chọn Đà Lạt cũng còn có nghĩa ông không dấn thân hoàn toàn vào chiến
tranh.
Chiếc Dakota hạ cánh xuống đường băng Liên Khương, cách biệt giữa rừng, cách Đà
Lạt khoảng mươi cây số. Cao uỷ Léon Pignon đọc một diễn từ ngắn chào mừng. Một
hàng dài quan lại, mặc quốc phục nghênh đón cựu hoàng. Cờ hiệu màu vàng Nhà vua
phấp phới bay trên nóc phi trường. Tất cả hầu như đã được biết trước. Nhưng Bảo
Đại giữ vẻ mặt u buồn. Ông ta đọc một bài diễn văn nhạt nhẽo. Nhà báo Lucien
Bodard kể lại: "Kết thúc bài diễn văn, cựu hoàng chui vội vào chiếc xe
limousine to tướng đưa ông về biệt thự của ông nằm sâu giữa rừng. Tất cả có
vẻ "giả dối, qua quýt".
Mấy tuần sau, vào tháng 6, Bảo Đại mới long trọng vào Sài Gòn.
Như đã dự kiến, không xảy ra chuyện gì khi Bảo Đại về Sài Gòn. An ninh được tăng
cường nghiêm ngặt. Ba tên khủng bố sắp ném lựu đạn vào xe của Bảo Đại thì bị bắt
rất kịp thời. Nhưng cờ quạt ít. Chỉ một dúm người đứng dọc đường đi qua. Một số
báo giải thích sự thiếu nồng nhiệt ấy là do dân sợ Việt Minh trả thù.
Phần đông dân Nam Bộ không biết đến hoặc ác cảm với cuộc trở về đó Bảo Đại cũng
như Triều đình nhà Nguyễn trước kia vốn không được dân Nam Bộ coi trọng.
Tuy nhiên sức hấp dẫn cá nhân và sức lôi cuốn tự nhiên của cựu hoàng, thái độ
thoải mái, điềm đạm cố ý giản dị của ông ta và sự hiểu biết hoàn hảo tâm lý quần
chúng và tâm hồn Việt Nam đã khiến ông giành được cảm tình của dân chúng miền
Nam. Trong một bức điện gửi về cho bà Nam Phương ở lại Cannes, Bảo Đại viết:
"Chuyến về Sài Gòn tuyệt hảo. Đón tiếp rất vui!".
Một tháng sau, ông về Huế, nhưng chỉ đơn giản là về thăm. Đế đô vẫn luôn trong
tình trạng chiến tranh, kể từ 9 tháng 3 năm 1945, khi Nhật lật đổ chính quyền
của Pháp. Mặc dù thành phố Huế vẫn bị lực lượng kháng chiến bao vây uy hiếp
nhưng lệnh giới nghiêm đã được rút từ chín giờ tối xuống nửa đêm, để dân chúng
đế đô mở hội mừng Bảo Đại trở về, dù ông chỉ lưu lại có vài giờ. Hoàng thành mở
rộng cửa. Nhân dân tạm quên những bức tường cháy sém và hình ảnh cầu Trường Tiền
chìm sâu dưới dòng nước sông Hương thơ mộng. Bảo Đại mở một bữa tiệc lớn trong
những ngôi nhà thoát khỏi bom đạn và đám cháy, trong phòng thiết triều và trong
một phần cung điện ông ở trước kia. Ai có thể tin được cuộc tái ngộ giữa cựu
hoàng và đế đô? Như bài tường thuật tô hồng của báo giới và của chính Bảo Đại:
"Kỳ lạ là đám quần chúng cố đô có vẻ như hối hận, đã đẩy tôi tới chỗ phải bỏ
ngai vàng bốn năm trước. Không phải là cái hân hoan tôi đã thấy ở Sài Gòn và sẽ
thấy lại ở Hà Nội". Hàng ngàn người dân xứ Huế đã đốt những đèn màu sặc sỡ
kéo đến cửa Ngọ môn, cái cửa lớn uy nghi và đồ sộ, may mắn còn lại sau cơn binh
lửa. Tối đó, Huế như sống lại sau bốn năm chiến đấu và sợ hãi. Bữa tiệc kết
thúc, diễn ra một "dạ hội kiểu Venise". Hội hoa đăng cổ truyền được tổ chức trên
sông Hương: hàng trăm thuyền bè đèn thắp sáng trưng lướt trên nước, trên thuyền
là những vũ công mang mặt nạ. Nhã nhạc tưởng như bị quên lãng nay lại tưng bừng
vang lên từ những quả đồi. Lễ hội kết thúc vào nửa đêm trong niềm vui. Nhưng chỉ
ba giờ sau, một loạt đạn súng cối rơi cách tường thành vài mét. Từ bốn năm nay
các cuộc chiến đấu chưa bao giờ thật sự chấm dứt ở cố đô Huế.
Chữ ký trên hiệp định ở điện Elysée không chấm dứt được không khí sục sôi chính
trị ở Huế. Bảo Đại không dám lập lại Triều đình. Với danh nghĩa "Quốc trưởng"
ông cai trị một đất nước gồm có ba "kỳ" nhưng mỗi "kỳ" vẫn giữ bản sắc riêng, cả
ba đều thường xuyên xảy ra khủng hoảng.
Cơ quan tuyên truyền tổ chức các chuyến viếng thăm, các cuộc gặp gỡ, các cuộc
biểu tình hoan nghênh "quốc trưởng", cố gắng phát huy tinh thần quốc gia.
Tháng 6 năm 1951, Bảo Đại tổ chức lễ hội "thống nhất quốc gia". Các đại biểu ba
miền Bắc, Trung, Nam, đại biểu các dân tộc thiểu số đổ về Sài Gòn, mang theo một
nắm đất quê hương. "Quốc trưởng" trịnh trọng trộn lẫn các nắm đất ấy tượng trưng
cho sự thống nhất các "miền đất" trong nước. Một trăm nghìn người dự cuộc lễ ấy
hoan hô như sấm dậy khi Bảo Đại đổ đất đã trộn vào đầy các bình đặt trên "bàn
thờ Tổ quốc". Tiếp đó khắp các miền trong nước, nhiều lễ nghi tôn giáo được cử
hành cùng với các cuộc diễu hành quần chúng rầm rộ để biểu dương sự kiện trọng
đại nầy.
Hoạt động tiếp theo là làm sao để những điều khoản trong hiệp ước Auriol - Bảo
Đại được thực hiện, nếu không thế thì độc lập chỉ là một từ rỗng tuếch.
Công việc nầy không dễ dàng chút nào. Chiến tranh đang tiếp diễn. Mặt trận quân
sự phải được ưu tiên. Ai cầm súng người đó nắm thực quyền. Những năm 50, trong
vùng tạm chiếm, quyền hành thực sự nằm trong tay đội quân viễn chinh đông tới
hai trăm năm mươi nghìn người. Đó là những quyền quản lý hành chính đối với dân
chúng trong vùng chiếm đóng, quyền thu thuế, quyền trị an. Bảo Đại phải vật lộn,
đấu tranh giành giật từng quyền một cho đến ba năm sau mới đạt được một hiệp
định mới về chuyển giao quyền hành cho "Chính phủ quốc gia Việt Nam" và "Đức
Quốc trưởng Bảo Đại", lúc đó đã quá muộn(1). Trong lúc thế trận chưa ngã ngũ dám
tướng tá Pháp hành động y hệt như năm 1884, sau hiệp ước bảo hộ hay như năm
1933, ban hành những biện pháp đảm bảo quyền tự trị cho Triều đình Huế, chẳng
dếm xỉa bao nhiêu đến những điều khoản chính trị trong hiệp ước vừa ký kết. Vả
lại, thời gian nầy giới chóp bu trong bộ máy cầm quyền ở Pháp chưa có ý định
trao trả độc lập tự do thực sự cho nhân dân các nước thuộc địa.
Không tham khảo ý kiến của ai, Bảo Đại tiếp xúc với người Xiêm, nhất là người
Mỹ. Một báo cáo mật của cơ quan tình báo Pháp (DST) viết: "Ông ta - chỉ Bảo Đại
- tiến hành những cuộc tthương thuyết với nước ngoài mà không cho Paris biết. Mục
đích là nhằm tranh thủ sự ủng hộ của hai nước lớn trong Liên hợp quốc để gây sức
ép với chính phủ Pháp nhanh chóng thực hiện những điều khoản trong hiệp ước Pháp
- Việt, rồi thoát ly khỏ;i ảnh hưởng của Pháp, gia nhập phe Mỹ". Hơn nữa bản báo
cáo mật còn tiết lộ Bảo Đại có lẽ đã thoả thuận với Đài Loan, để tranh thủ sự
ủng hộ của ba trăm nghìn Hoa kiều ở Đông Dương "giúp vào việc bình định Đông
Dương"(2).
Cuối cùng cựu hoàng đấu tranh để thành lập cho được quân đội của riêng mình được
mệnh danh quân đội quốc gia, người đương thời còn gọi là quân đội Bảo Đại gồm
toàn người Việt Nam, có quân phục và quân hiệu Việt Nam, có quân số nhảy vọt từ
hai mươi nhăm nghìn năm 1949 đến gần hai trăm nghìn năm 1954, có đủ các quân
binh chủng lục, hải, không quân, dĩ nhiên được trang bị tốt bằng vũ khí Mỹ, do
sĩ quan Pháp huấn luyện, do Bộ tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp điều động
tác chiến, dưới cái tên chung mang tính lừa bịp là quân đội Liên hiệp Pháp. Mặc
dù ông xuất hiện bên cạnh tướng lĩnh Pháp trong lễ diễu binh các đại đội sĩ quan
mới ra lò trong lễ quốc khánh Pháp 14 tháng 7 năm 1951, lớn tiếng hô hào thanh
niên vùng tạm chiếm sung vào quân ngũ coi đó như "lực lượng xung kích, đi tiên
phong trong công cuộc bảo vệ nền độc lập" nhưng chắc hẳn ông không không mấy tin
tưởng về khả năng chiến đấu và tiền đồ của đội quân ấy nên ông nhất định can
ngăn con trai ông không cho về nước học trường võ bị Đà Lạt để ra làm sĩ quan
cho "quân đội quốc gia". Sau lệnh tổng động viên của "Quốc trưởng Bảo Đại", sáu
mươi ngàn người sẽ được bổ sung vào quân đội quốc gia chiến đấu bên cạnh quân
đội viễn chinh Pháp chống lại lực lượng kháng chiến của ông Hồ Chí Minh.
Cựu hoàng tỏ ra "có tinh thần trách nhiệm hơn", có vẻ "dấn thân hăng hái hơn"
phần lớn là do công của Jean de Lattre de Tassigny, viên tướng năm sao đầy tự
tin, lần đầu tiên nắm quyền cao nhất cả quân sự lẫn chính trị ở Đông Dương: vừa
là Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh vừa là Cao uỷ(3). Ông được bổ nhiệm sang
Đông Dương tháng 12 năm 1950 trong lúc quân đội viễn chinh Pháp đang rơi vào
tình trạng tồi tệ nhất sau thất bại ở biên giới Việt - Trung vào tháng 9 năm
1950 đến mức tướng Carpentier, người tiền nhiệm của ông, đã tính đến một cuộc
rút lui khỏi Hà Nội để về cố thủ tại miền duyên hải Hải Phòng - Hòn Gai. Nhưng
không đầy một tháng sau khi tới Đông Dương, vị tổng chỉ huy mới đã đánh bại
tướng Giáp ở Vĩnh Yên, cách thủ đô khoảng một trăm cây số về phía bắc. Tuy phải
trả giá đắt nhưng dù sao cũng là một trận thắng, giữ được phòng tuyến trung du,
đẩy lùi cuộc tiến công của Việt Minh về đồng bằng và Hà Nội, khôi phục niềm tin
cho đội quân viễn chinh sau nhiều tháng sa sút. Nhưng Bảo Đại lúc đầu tỏ ra
không tin tưởng con người bé nhỏ luôn luôn năng động trái ngược hẳn với tính
cách của ông cũng như thái độ đối với cuộc chiến. Cựu hoàng vẫn để gia đình sống
an bình ở Cannes, can ngăn con trai ông không được về nước chiến đấu chống Việt
Minh. Trái lại, tướng De Lattre, mệnh danh là "vua Jean" đưa vợ sang sống ở Hà
Nội và con trai yêu quý của ông chết trận ở đồng bằng sông Hồng cho sự nghiệp mà
ông gọi là "giải phóng Việt Nam khỏi hiểm hoạ Cộng sản".
Ngày tháng trôi qua, vị chỉ huy chiến tranh và cựu hoàng đi từ lạnh nhạt đến cảm
phục nhau, kính trọng nhau, mời mọc đãi đằng nhau, không tiếc lời tâng bốc nhau,
ít ra là bề ngoài.
Bảo Đại khi mới về nước sống gần như ẩn dật ở Đà Lạt hay Buôn Ma Thuột, mê mải
săn bắn, đánh bạc hơn là chuyện chính trường nay đã bớt xa lánh các cuộc họp,
chịu tham gia bàn bạc chuyện đại sự, bớt tránh né các cuộc liên hoan hội hè đông
người, và tham dự các cuộc diễu binh, diễu hành với cương vị một Quốc trưởng
không thể vắng mặt.
De Lattre không chỉ bằng lòng với việc "lên gân cốt" đám sĩ quan, binh sĩ người
Pháp và Việt dang rệu rã tinh thần trên các chiến trường Đông Dương. Ông còn làm
vai trò trạng sư bênh vực cho "giải pháp Bảo Đại" ở nước ngoài. Ông sang tận Hoa
Kỳ để xin tiền và vũ khí.
Khi De Lattre từ Mỹ trở về, Quốc trưởng đã tổ chức một cuộc chiêu đãi long trọng
tại dinh Gia Long để đón mừng kết quả chuyến công du. Hôm đó có mặt toàn bộ các
thành viên chính phủ Việt Nam, Đoàn ngoại giao, và các tướng lĩnh của hai quân
đội Pháp-Việt.
Trong lời chào mừng, Bảo Đại không tiếc lời ca ngợi De Lattre: "Nhân dân Việt
Nam biết đã chịu nhiều ân nghĩa đối với ngài không thể kể hết. Để tỏ lòng biết
ơn, nhân dân Việt Nam thấy mình phải lớn mạnh lên, ý thức được sự trong sáng của
những ý định của ngài và sẽ không đế ngài phải thất vọng...". Tướng De
Lattre đã đứng suốt thời gian Bảo Đại đọc diễn văn. Đến lượt ông đáp từ bằng
những lời hoa mỹ không kém: "Cựu hoàng Bảo Đại là biểu tượng, là điểm tựa cần
thiết cho sự thông nhất của Việt Nam. Người kế vị trẻ và hiện đại của một triều
đại lâu đời, chỉ mình ông mới có thể cứu rỗi được tâm hồn An Nam. Ngài là cội
nguồn của sự hữu hiệu của đất nước vì ngài đã thể hiện ý chí chiến đấu của nhân
dân".
Tất cả xem ra đều có thể trở thành hiện thực. Nhưng hai tháng sau bữa tiệc nầy,
De Lattre phải nhập viện. Ông chết ở đó vì căn bệnh ung thư ngày 11 tháng Giêng
năm 1952.
"Quân đội quốc gia" tiếp tục tồn tại sau khi cha đẻ của nó là tướng De Lattre đã
bỏ biết bao công sức để sinh thành nhưng qua đời quá sớm. Tiếp đó đến lượt thủ
tướng được Bảo Đại bổ nhiệm sẽ cổ vũ tuổi trẻ Việt Nam lao vào cuộc chiến.
Có thể nói rằng cuộc thử nghiệm Bảo Đại đã thành công? Không. Chính cựu hoàng
cũng có cảm tưởng rằng ông chẳng tin tưởng gì vào hành động của ông.
Từ đây ông không rời cặp kính đen nữa, cứ thấy ánh nắng mặt trời gay gắt là chảy
nước mắt. Dù đứng thẳng và cứng nhắc trong trang phục đại lễ hay vô cùng lịch sự
trong bộ âu phục, ông không giấu nổi vẻ u sầu luôn đeo đẳng trong người. Có phải
do quá nhiều cuộc săn bắn, quá nhiều lần lưu trú tại Pháp, quá nhiều tai tiếng
eo xèo về cuộc sống truỵ lạc? Có thể do quá biếng nhác. Hình như ông là con
người ít hoạt động. Khó mà gặp được ông, ông gần như dửng dưng với tất cả.
Tuy nhiên ông cố đóng vai trò của một nguyên thủ quốc gia. Ông chỉ định, bãi
chức các thủ tướng(4), tưởng như mình là chất gắn kết ba miền đất nước. Nhưng
chỉ là thân phận bù nhìn. Ông chẳng có thực quyền gì trong việc thay đổi người
cầm đầu chính phủ, nhưng lúc đầu chẳng gì ông cũng gây tác hại không nhỏ đối với
sự nghiệp chính nghĩa của Việt Minh.
Nhưng cũng có một vài nhân vật khiến ông như bừng tỉnh khỏi cơn mê, trở về cuộc
sống đời thường. Nhân vật đáng chú ý là Bảy Viễn, được gặp ông lần đầu ở Sài Gòn
năm 1949 và thường gặp lại ở Đà Lạt mùa thu năm 1950. Đó là một tướng lục lâm
khét tiếng, một tay trùm anh chị, một trong những tên cầm đầu phe đảng Bình
Xuyên.
Trên đất Nam kỳ, từ nhiều thập kỷ nay, có nhiều phong trào tôn giáo khác nhau
hoạt động không liên quan gì với các trào lưu tư tưởng lớn. Mỗi giáo phái có hệ
thống chức sắc, tăng ni riêng, về sau còn có cả lực lượng vũ trang riêng chia
nhau hùng cứ một vùng đất riêng, ở đó những người cầm dầu là những lãnh chúa
thật sự. Phe đảng Bình Xuyên còn đặc biệt hơn nữa. Giang sơn của bọn nầy là vùng
ngoại ô Sài Gòn, khu "rừng Sác" rậm rạp hoang vu, một vài đảo nhỏ hẻo lánh giữa
hàng ngàn hecta đầm lầy và nước lợ. Tại đây chúng họp thành một thứ triều đình
kỳ quặc, tụ tập những bọn lưu manh côn đồ hung hãn, tù vượt ngục, những dân anh
chị quen chọc trời quấy nước, tất cả đều đang bị cảnh sát truy nã. Giữa vùng đất
ngoài vòng pháp luật nầy có một làng, có tên cũ là Bình Xuyên, nay được lấy làm
tên chung cho cộng đồng đám du thủ du thực nầy. Sau khi chủ tướng Dương Văn
Dương hy sinh trong một cuộc đụng độ với Pháp, quyền chỉ huy nằm trong tay Bảy
Viễn. Một đầu sỏ lưu manh thực thụ. Hắn đã từng cầm đầu mafia Chợ Lớn. Đó là
"một nhân vật đặc biệt" như Bảo Đại thổ lộ, trở thành thủ lĩnh nhờ sức mạnh võ
biền, trưởng thành từ cuộc sống đường phố, đánh nhau rất liều lĩnh để xưng hùng
xưng bá một vùng đồng bằng Nam Bộ trải dài từ ngoại ô Sài Gòn đến Đồng Tháp
Mười. Bảy Viễn còn nổi danh ở chỗ chỉ đánh vào bọn nhà giàu. Hắn đã bị Pháp đày
ra Côn Đảo rồi vượt ngục, theo Việt Minh đánh Pháp một thời gian, sau đó lại
quay về hợp tác với quân đội viễn chinh. Được Pháp thâu nạp và tất nhiên được
giao kiểm soát Chợ Lớn, nơi tập trung các sòng bạc lớn, các tiệm hút mà khách
hàng phần lớn là người Hoa ở Sài Gòn. Bảo Đại gặp Bảy Viễn đúng lúc y rời bỏ
kháng chiến về hàng Pháp.
Vấn đề lớn khiến Bảo Đại phải gặp Bảy Viễn để thương lượng xuất phát từ "Đại Thế
giới", một sòng bạc kiêm nhà chứa quy mô lớn nổi tiếng "toàn châu Á", có lẽ cả
thế giới, đạt kỷ lục về doanh số cũng như về số con bạc hay lui tới. "Đại Thế
giới" ở Chợ Lớn có thể xem như một siêu thị đánh bạc, chỉ mới xuất hiện năm
1946, trước khi Việt Minh phát động toàn quốc kháng chiến. Chuyện lạ lùng là
sòng bạc Đại Thế giới ra đời do quyết định của đô đốc Thierry d Argenlieu, tổng
chỉ huy quân đội viễn chinh, một thầy tu mặc áo lính vì ông đã có mấy năm phụng
sự Chúa ở tu viện Trappe trước khi theo tướng De Gaulle chiến đấu giải phóng
nước Pháp... Tại đây có đủ cả bác quan và tài sửu, là những trò đánh bạc kiểu
Tàu mà dân Sài Gòn rất mê.
Tối tối, những tay máu mê cờ bạc bình dân đến đây chơi cháy túi, hết sạch cả số
tiền ít ỏi tiết kiệm được, có khi còn hơn nữa, vét cả đồng tiền cuối cùng đáng
lẽ để nuôi sống gia đình họ trong trò đỏ đen "ba mươi sáu con vật". Đây còn là
nơi tụ tập của bọn tứ chiếng giang hồ ở những khu nhà có tường cao vây quanh, ai
đi trên đại lộ nối liền Sài Gòn và Chợ Lớn đều nhận ra ngay. Cả một mớ dây xích
chằng chịt khơi luồng cho đám đông tấp nập chen chúc các lối vào,. vừa để dễ
dàng lục soát cấm con bạc đem theo hung khí. Đại tá Leroy, người sau nầy phụ
trách giám sát an ninh ở Chợ Lớn cho quân đội Pháp viết: "Bên trong tường rào,
trên sân đất rộng, năm mươi căn nhà khung mái tôn được dựng trên nền xi măng,
trong mỗi căn được kê bốn, năm bàn đánh bạc, ban đêm được hàng ngàn bóng đèn
chiếu sáng. Mỗi ngày suốt từ sáng đến tối, hàng ngàn, hàng ngàn con người chen
chúc nối đuôi nhau theo dây chuyền quanh các bàn bạc để sát phạt nhau, trấn lột
nhau bằng các trò may rủi. Thực tế, người thua nhiều hơn người được, rất ít cơ
may thắng cuộc"(5).
Bên cạnh các bàn đánh bạc, ba nhà hát và hai rạp chiếu bóng vét nốt ít tiền còn
lại của khách chơi. Kỳ quặc nhất có lẽ là vũ trường. Sàn nhảy rộng đến ba trăm
mét vuông bằng gỗ được thiết kế riêng làm mọi người kinh ngạc: Sàn gỗ đặt trên
lò xo, với những kỹ xảo đặc biệt như những bộ hãm thuỷ lực, theo người ta nói,
là để khi nhảy, dáng điệu thêm phần uyển chuyển, mềm mại, tăng thêm phần thanh
lịch... Các cô vũ nữ, khá đông, mặc áo dài lụa bó sát người, càng tăng vẻ đẹp
lộng lẫy. Các nhạc công, nổi bật lên giữa một số khách chơi ăn mặc lôi thôi lếch
thếch, luôn luôn trang phục chỉnh tề với bộ smoking trắng bóng trên ngực
gài bông hoa cẩm chướng màu đỏ. Trong Đại Thế giới bên cạnh khu ăn chơi
của giới bình dân, còn có một loạt các buồng kín đáo hơn, đầy vẻ bí ẩn dành
riêng cho khách chơi giàu có. Trước tiên là phòng dành cho người Pháp, có bàn cò
quay đủ màu sắc. Xa hơn một chút là những buồng kín đáo hơn nữa trông như những
lô-cốt với những cửa sổ kính mờ, đó là câu lạc bộ riêng của các ông chủ ngân
hàng, các thương gia giàu có, chủ các hãng tàu buôn, người môi giới hối đoái,
tóm lại là những "đại gia" Chợ Lớn. Người Việt Nam có vẻ như ham đánh bạc hơn
người châu Âu đến nỗi đầu năm 1950, Bảo Đại phải cấm công chức và quân nhân vào
đấy.
Nhưng đó không phải là nội dung bàn bạc giữa cựu hoàng Bảo Đại và tướng Bảy
Viễn. Vấn đề đặt ra không phải là những hậu quả xấu của sòng bạc khổng lồ Đại
Thế giới đem lại cho xã hội mà là khoản lợi nhuận thu được từ cơ sở ăn chơi
nầy. Theo lệ lâu nay là hai năm một lần sẽ bỏ thầu, ai nộp nhiều tiền nhất sẽ
giành được quyền khai thác. Từ 1948, những người Hoa ở Macao đã giành được quyền
nầy bằng cách đều đặn mỗi ngày nộp cho chính phủ Nam Kỳ bốn trăm nghìn đồng bạc
Đông Dương. Nhưng muốn ăn chắc, không bị Việt Minh quấy rầy, họ cũng phải trích
thêm năm trăm nghìn đồng nữa để nộp cho Việt Minh, tổng cộng mỗi ngày Đại Thế
giới phải bỏ ra gần chín trăm nghìn đồng bạc Đông Dương (tương đương mười lăm
triệu ba trăm nghìn franc năm 1948) chỉ để được kinh doanh yên ốn từ hai phía.
Cả một gia tài? Đúng như thế nếu lợi nhuận tại chỗ không đủ trang trải cho chiến
tranh. Ai có may mắn trúng thầu khai thác còn được quyền đưa nhân viên của mình
phụ trách các chân: hồ lỳ, ca sĩ, nữ tiếp viên, gái gọi, nhân viên kế toán, bảo
vệ... công việc kinh doanh tiến triển tốt. Khu phố vốn đã ồn ào, nhộn nhịp lúc
ban ngày cứ chiều tối đến lại càng thêm đông đúc náo nhiệt. Các ông chủ sòng bạc
Đại Thế giới hầu như không gặp khó khăn gì trong việc "nộp cống" đều đều không
những cho cả hai bên Pháp và Việt Minh mà còn cho cả Cao uỷ, giám đốc cảnh sát
đô thành, giám đốc hải quan, cho cả bà vợ của bộ trưởng nội vụ, cho Bình Xuyên
đang nắm quyền hành ở Chợ Lớn và chắc chắn cho nhiều người khác nữa nhưng... Bảo
Đại đến giờ phút nầy vẫn chưa có phần(6).
Cuộc gặp gỡ giữa cựu hoàng và viên tướng cướp có thể chẳng đem lại kết quả gì
nếu hai người không cảm mến nhau. Họ tâng bốc nhau theo cách riêng của mỗi
người. Họ gặp lại nhau, cùng nhau đi săn, cùng nhau chia sẻ các thú ăn chơi.
Thường thường, ông chủ Chợ Lớn mang theo đoàn hộ tống lăm lăm súng tiểu liên
Thompson và lựu đạn. Dường như hắn muốn tỏ ra chỉ tin cậy chính mình và thủ hạ
của hắn để giữ an toàn cho hắn. Cũng là cách để chứng tỏ tính ngang tàng chẳng
lệ thuộc vào một thế lực nào.
Dần dần Bảy Viễn gia nhập nhóm thân cận của cựu hoàng và chẳng bao lâu kế hoạch
nắm Đại Thế giới trở thành hiện thực.
Lực lượng Bình Xuyên cũng như Quốc trưởng đều cần tiền để bành trướng thế lực.
Từ một nhúm người khi mới quay về hợp tác với Pháp, Bảy Viễn dần dần nắm trong
tay ba nghìn lính, không kể bọn thân binh, mật vụ, tình báo, chỉ điểm... Các thứ
"thuế má" thu được của các thương gia trong thành phố không đủ để nuôi đội quân
ô hợp của hắn, mặc dù từ khi trở về với "chính nghĩa quốc gia" của Quốc trưởng
Bảo Đại, lực lượng Bình Xuyên được trả lương nhưng là một khoản tiền ít ỏi. Về
phần cựu hoàng có lẽ ông không chê nhận một phần nguồn lợi trên. Ông làm mọi
cách để tạo thuận lợi cho Bảy Viễn được trúng thầu khai thác "sới bạc" Đại
Thế giới, năm 1950.
Ngay lập tức, cuộc thương lượng kết thúc nhanh chóng nhờ tiếng tăm hung hãn của
lực lượng Bình Xuyên. Giới kinh doanh sòng bạc dù đó là những người Hoa sừng sỏ,
làm sao có thể bàn cãi dây dưa với đại diện của ba nghìn tên anh chị chỉ quen
giết người, được vũ trang đầy đủ...
Bảy Viễn lại khôn ngoan khéo dàn xếp với những nhóm người Hoa khác ở Chợ Lớn
cũng như với đại diện người Corse ở Nam Kỳ. Điều lạ lùng là năm 1950, người
Corse còn thao túng một phần mafia ở Sài Gòn. Sau đó họ rút dần vai trò của họ
trong các trò cò quay, tứ sắc và tiếp theo là bài baccara.
Bảy Viễn bằng lòng "cống nộp" hàng ngày cho chính phủ "quốc gia" năm trăm nghìn
đồng Đông Dương. Thế là nhiều hơn Hoa thương Macao đến một trăm nghìn đồng rồi.
Từ Đà Lạt, Bảo Đại gửi thư can thiệp với chính phủ Nam Kỳ tự trị yêu cầu để Bảy
Viễn trúng thầu. Ngày 1 tháng Giêng năm 1951, mọi việc xong xuôi Từ nay lực
lượng Bình Xuyên đã hoàn toàn thao túng Đại Thế giới. Về phần mình, cựu hoàng
được nhận riêng một khoản tiền hàng tháng là hai trăm bốn mươi nghìn đồng (tương
đương hai mươi bốn triệu franc theo tỷ giá hối đoái năm 1950). Tài sản của cựu
hoàng tích cóp được trong những năm đó chủ yếu là từ các khoản đóng góp của Đại
Thế giới.
Tình bạn giữa cựu hoàng và viên thủ lĩnh Bình Xuyên ngày càng thắt chặt thêm
nữa. Hai người cùng đi săn, cùng câu cá, những con cá ngừ xanh nặng hàng trăm
cân. Bảo Đại ban tặng cho Bảy Viễn một chiếc ôtô, chiếc Jaguar to tướng. Chiếc
Jaguar Mark II của ông, chiếc xe độc nhất ở Việt Nam trước đây ông đã hứa
tặng con trai để kỷ niệm ngày sinh của anh.
Bảy Viễn lúc mới quay về với Pháp chỉ được phong đại tá. Không lâu sau đó, Bảo
Đại can thiệp với Bộ chỉ huy quân đội viễn chinh để phong tướng cho hắn. Từ đó
hắn mang một tên mới có vẻ dân sự hơn: Tướng Lê Văn Viễn. Chính Quốc trưởng Bảo
Đại tự tay gắn lon tướng cho hắn trước sự chứng kiến của bộ trưởng Quốc phòng và
nhiều quan khách. Vào lúc nầy tên tù vượt ngục Côn Đảo, Bảy Viễn, còn "nợ" tám
năm tù phải trả theo công lý Pháp!
Vị tướng mới được vinh thăng, ra dáng con nhà võ, với thân hình lực lưỡng, nhưng
tính cách tàn bạo ra mặt. Nhưng cứ nhìn bộ quân phục chững chạc, với vẻ đầy thán
phục một con người siêu phàm, hàng nghìn con người đứng xung quanh chứng kiến lễ
phong quân hàm dường như quên đi gốc gác không lấy gì trong sạch của hắn. Từ
nay, hắn được mọi người khoản đãi, tâng bốc. Một thế lực ngang tàng, tàn nhẫn.
Tướng Lê Văn Viễn luôn có mặt trong các cuộc duyệt binh, các buổi tiệc tùng.
Viên tướng lục lâm gốc rừng Sác, được đề nghị một vai trò chính trị. Hắn được
giao quyền thống lĩnh các đội quân Cao Đài, Hoà Hảo, cầm đầu một tập hợp các
đảng phái "quốc gia". Từ nay lực lượng bảo vệ Quốc trưởng chính là phe đảng Bình
Xuyên vì Quốc trưởng sống dưới sự đe doạ thường xuyên của những "ban ám sát"
Việt Minh nổi tiếng.
Thành viên của các "ban ám sát" có mặt trên khắp đất nước, thủ tiêu các đối thủ
chính trị, đóng vai bảo vệ đức hạnh và là những thành trì luân lý chống lại việc
chạy theo lợi nhuận đang thịnh hành. Cơ quan lưu trữ còn giữ lại một bức thư vắn
tắt có tiêu đề Trần Văn Ngà, trưởng ban ám sát Sài Gòn - Chợ Lớn gửi cho một chủ
sòng bạc ở Chợ Lớn: "Rõ ràng là những hoạt động của ông xúc phạm đến phong
hoá của dân chúng vì ông đã làm giàu một cách quá dễ dàng. Ông đã dựa vào bọn
Pháp đế tổ chức một sòng bạc gây tan vỡ cho nhiều cặp vợ chồng và nhiều vụ tự
tử. Vì vậy Ban ám sát cảnh cáo ông và cho ông một thời hạn là 45 ngày đế thu xếp
công việc của ông. Sau đó người của chúng tôi sẽ xử ông theo hình phạt nặng nhất
vì những tội lỗi của ông. Họ sẽ dùng ba vũ khí sau đây đê giết ông: 1. Dao găm,
2. Lựu đạn, 3. Súng lục. Chúng tôi rất tiếc phải trừng trị ông như thế. Chúng
tôi nghiêng mình trước thi hài ông"(7).
Trong các thông báo cảnh cáo chống cựu hoàng, có một bức của cơ quan điều tra
phản gián Pháp (SDECE) gửi ngày 30 tháng 5 năm 1949, cho biết có một phụ nữ tên
là Lý Lệ Hà được cơ quan an ninh Việt Minh giao nhiệm vụ bắt cóc Bảo Đại.
Ngày hôm sau, cuộc điều tra kết thúc, sở Liêm phóng cho biết thêm: Lý Lệ Hà
nguyên là người tình của Bảo Đại đã rời Hà Nội đi Côn Minh tháng 6 năm 1946 rồi
sau đó đi Thượng Hải để gặp Bảo Đại. Một tuẩn sau, sở mật thám gửi báo cáo bổ
sung: Lý Lệ Hà khai cô ta có quen Bảo Đại ở Sài Gòn, cô đã sống một thời gian
với Bảo Đại ở Hà Nội năm 1945. Cô đi du lịch Trung Quốc qua Hongkong, sống với
Bảo Đại được mấy tháng nhờ tiền và vàng dành dụm được trong những năm buôn phấn
bán son. Cuối 1946, cô về sống ở Hà Nội. Việt Minh bắt liên lạc với cô. Năm
1949, cô bị Pháp bắt. Người ta tìm thấy trong người cô một chiếc huy hiệu mang
hình Bảo Đại. Nhân chứng khẳng định cô làm việc cho Việt Minh từ 1946. Cô được
Việt Minh giao nhiệm vụ quan hệ với Bảo Đại, rồi sang Hongkong tìm gặp Bảo Đại.
Về Việt Nam cô mở tiệm cà phê gần Nam Định. Có nhiều cán bộ Việt Minh lui tới
nhà hàng của cô. Sau đó, cô đã bị các lực lượng Pháp bắt trong một trận càn ở
gần Nam Định.
Cô bị giữ lại mười lăm ngày tại sở mật thám ở Hà Nội. Sau đó được Bảo Đại bảo
lãnh, cho người đem xe đến đón cô ra khỏi phòng giam. Trong cuộc thẩm vấn cô
luôn luôn không nhận mình là người của Việt Minh, mà trái lại, từ bốn năm nay,
cô bị Việt Minh giám sát chặt chẽ. Nhưng trong vùng kháng chiến không ai không
biết mối quan hệ của cô với Bảo Đại. Cô luôn luôn bị tình nghi: Pháp, Việt Minh
rồi sau nầy là cả Ngô Đình Diệm, ai cũng nghi cô, đến mức Bảo Đại khi gặp lại đã
nói giọng giễu cợt: "Liệu bây giờ em còn có ý định giết anh không?".
Người phụ nữ xinh đẹp sau đó trở thành người đưa tin đều đặn cho cơ quan tình
báo Pháp.
***
Còn một nhân vật nữa xuất hiện bên cạnh cựu hoàng ở Hongkong và đã được tình báo
Pháp theo dõi chặt chẽ. Đó là Bùi Mộng Điệp cũng là nhân tình của Bảo Đại.
Sinh năm 1924 ở Hà Nội, cô gái gốc Kinh Bắc (Bắc Ninh) họ Bùi nổi tiếng về sắc
đẹp và tài quyến rũ cánh mày râu. Đã có một đời chồng là thầy thuốc - bác sĩ
Phạm Văn Phán nổi tiếng ở Hà Nội - và một đứa con riêng(8). Sau nầy dan díu với
Bảo Đại bà còn sinh thêm được một con gái đặt tên là Phương Thảo (1946) (9) và
hai con trai Bảo Hoàng (1954-1955) và Bảo Sơn (1955-1987).
Mộng Điệp đã quan hệ với cựu hoàng tháng 9 năm 1945, chỉ mấy ngày sau khi ông ra
thủ đô nhận chức cố vấn tối cao cho chính phủ Hồ Chí Minh. Không khí cách mạng
sục sôi trong những ngày đầu của chế độ mới không gây ấn tượng gì lắm cho Bảo
Đại đến mức ông phải lãng quên thú chơi quần vợt. Chính trong câu chuyện trên
sân quần, các đối thủ trẻ của ông đã kể chuyện với ông về cô bạn gái tuyệt thế
giai nhân của họ. Thế là ông đi gặp nàng ngay buổi tối hôm đó tại nhà nàng và ở
lại đây. Cũng trong thời gian nầy, một cuộc dan díu khác với người đẹp Lý Lệ Hà
cũng bắt đầu và diễn ra song song. Trong lúc đó, tại Huế, bà Nam Phương lặng lẽ
sống nép mình trong căn phòng u tịch ở cung An Định tối tăm.
Khác với Lệ Hà, Mộng Điệp không đi Thanh Hoá với cựu hoàng nhưng sau đó cũng lặn
lội sang Hongkong mang thêm tiền cho ông tiêu xài. Sau năm 1949, Bảo Đại về
nước, bà luôn luôn được gần gũi cựu hoàng. Tại Đà Lạt, Bảo Đại tậu cho bà một
toà nhà riêng gần biệt điện của Bảo Đại. Sau đó lại theo Bảo Đại lên Buôn Ma
Thuột. Khi tháp tùng cựu hoàng sang Pháp về sống ở Cannes, bà cũng tậu một biệt
thự riêng gần lâu đài Thorenc của hoàng gia. Thời gian ở Buôn Ma Thuột, Mộng
Điệp giúp Bảo Đại trông nom văn phòng Hoàng triều cương thổ tức miền đất Tây
Nguyên Pháp giao trả cho Bảo Đại trực tiếp cai trị. Ở đây Bảo Đại cũng sống
thanh thản hơn giữa cảnh vật thiên nhiên của rừng núi Tây Nguyên, đỡ bị căn bệnh
mất ngủ hành hạ ông như khi sống ở nơi khác. Chính Bùi Mộng Điệp cũng thấy thời
gian sống ở Buôn Ma Thuột thoải mái hơn cả.
Bùi Mộng Điệp cũng hay về Huế thăm bà Từ Cung, thân mẫu Bảo Đại. Nàng khéo cư
xử, tranh thủ được cảm tình của bà Hoàng thái hậu. Dường như bà già không mấy dễ
tính nầy quý trọng cô con dâu tuy không phải là chính thức nhưng cũng xuất thân
bình dân như bà, sùng đạo Phật, biết chăm lo thờ phụng tổ tiên, khác hẳn Nam
Phương, theo công giáo, tính tình lạnh lùng, thỉnh thoảng lại hay xung khắc với
bà. Bà đã nghĩ đến việc "chính thức hoá" quan hệ của người thiếu phụ với con
trai bà. Tại sao lại không trở lại tập quán xưa của triều đình An Nam? Trong lúc
bà Nam Phương và các con bỏ sang Pháp ở, con trai bà cũng cần có người chăm sóc.
Những điều kiện cho cuộc hôn nhân chính thức của con trai bà cách đây gần hai
mươi năm phỏng còn mấy giá trị? Mộng Điệp sẽ là vợ thứ hai của con trai bà, là
"thứ phi", được bà Hoàng thái hậu "ban mũ áo" sau khi làm lễ trước bàn thờ tổ
tiên trong Đại Nội. Cũng chẳng cần phải khai báo với hộ tịch viên hay làm phép
thánh trước linh mục vì Mộng Điệp không phải là con chiên. Tuy "thiên diễm tình"
được hoàng tộc và quan chức của Quốc trưởng mặc nhiên nhìn nhận, các con đều
được đưa vào tôn phổ, nhưng Bùi Mộng Điệp và các con bà không được phong tước
hiệu nào.
***
Hai báu vật thiêng liêng, biểu tượng của một triều đại đã đi theo một hành trình
quanh co đến kỳ lạ. Sau khi được long trọng trao cho đại biểu Chính phủ lâm thời
chiếc ấn vàng và thanh kiếm nạm ngọc tượng trưng cho quân quyền đã được đưa ra
Hà Nội, báo cáo với Chính phủ và quốc dân trong lễ Tuyên ngôn Độc lập tại quảng
trường Ba Đình. Chiến tranh nổ ra, không biết làm sao hai báu vật ấy đã được cất
giấu trong một chiếc thùng dầu hoả bằng sắt tây, lại lọt vào tay quân đội viễn
chinh Pháp. Theo nguồn tin của quân đội viễn chinh thì năm 1951 trong khi đào
móng sửa chữa một ngôi nhà ở thị xã Hà Đông, lính Pháp đã tình cờ phát hiện được
hai báu vật nầy(10). Người ta không rõ tại sao không chờ Bảo Đại về nước để làm
lễ nhận lại ấn kiếm cho long trọng. Có thể chính Bảo Đại cũng không cho việc
nhận lại hai báu vật đó có một ý nghĩa quan trọng nào. Theo yêu cầu của ông, hai
báu vật được người Pháp trao lại cho người thay mặt ông là "thứ phi" Bùi Mộng
Điệp đang có mặt ở Buôn Ma Thuột trước sự chứng kiến của bà Hoàng thái hậu Từ
Cung. Năm 1953, sang Paris, Bùi Mộng Điệp không trao lại cho Bảo Đại mà lại trao
cho bà Nam Phương và thái tử Bảo Long hai báu vật đó cùng một số kỷ vật khác do
bà Thái hậu Từ Cung gửi.
***
Một người tình thứ ba của cựu hoàng, một thiếu nữ con nhà lành, giàu có và nguồn
gốc danh giá. Lại chính là Phan Văn Giáo - sau nầy là Thủ hiến Trung phần - đã
giới thiệu với Bảo Đại khi ông vừa đặt chân xuống sân bay Đà Lạt. Tên nàng là
Phi Ánh, em vợ Phan Văn Giáo. Nàng cũng là một trang nhan sắc, một trong những
cô gái đẹp nhất thành phố. Bảo Đại cũng rất yêu nàng, mua cho nàng một biệt thự,
có với nàng hai đứa con, một trai một gái. Tên con gái đặt tên đệm là Phương còn
con trai có tên đệm là Bảo coi như dòng dõi chính thức của Bảo Đại. Suốt thời
gian ở Đà Lạt, Phi Ánh rất được cựu hoàng Quốc trưởng ưu ái. Nhưng khác với Bùi
Mộng Điệp, Phi Ánh không dự những buổi tiếp tân, không được gần gũi với bà Thái
hậu, không lên Buôn Ma Thuột để cùng đi săn thú với Bảo Đại như Mộng Điệp. Sau
nầy khi chiến tranh kết thúc, Phi Ánh ở lại Việt Nam sống cô đơn và chết tại
thành phố Hồ Chí Minh, còn con gái là Phương Minh sống với chồng là người Pháp
lập nghiệp tại Hoa Kỳ...
Nhờ ân huệ của cựu hoàng, Đà Lạt trở thành thủ đô của Quốc gia Việt Nam, nơi đặt
trụ sở của các cơ quan trung ương của chính quyền Bảo Đại. Đà Lạt có khí hậu
tuyệt vời, nhiều nhà cửa dinh thự theo kiến trúc Pháp lại thuộc Hoàng triều
cương thổ được Pháp giao cho Bảo Đại trực tiếp quản lý hành chính. Ông không
muốn về Sài Gòn sợ bị lép vế bên cạnh các cơ quan của Cao uỷ Đông Dương còn
chiếm dinh Norodom tức Dinh Toàn quyền Đông Dương cũ, tượng trưng cho quyền lực
của chính quyền thuộc địa. Dĩ nhiên ông không dám đặt trụ sở Chính phủ Quốc gia
tại Hà Nội quá gần khu vực chiến sự, không đảm bảo an toàn, càng không muốn về
cố đô Huế bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Tại Đà Lạt, cơ quan chính phủ đặt
trong một toà nhà kiểu cách và sang trọng trên đỉnh một ngọn đồi cao hơn hẳn
xung quanh, được che khuất giữa hàng thông, được các đơn vị vũ trang quân phục
chỉnh tề bảo vệ vòng trong vòng ngoài. Nhưng không một ai khi ngắm nhìn cánh
cổng sắt nặng nề lại có thể tưởng tượng rằng bên trong lại là nơi hoạch định
chính sách quan trọng nhất của chính phủ của cái gọi là "quốc gia Việt Nam".
Nhưng theo các nhà biên niên sử thuộc địa thì đây là một địa điểm đẹp, khá hấp
dẫn vào loại nhất nhì của thành phố cao nguyên Đà Lạt.
Toà nhà có dáng vẻ thôn dã và êm ả. Chỉ có khách khứa vào ra, các thành viên nội
các đi đi về về, khuấy động bầu không khí tĩnh lặng bao quanh. Các cố vấn thân
cận của Bảo Đại lúc nào cũng quây quần quanh ông như người thân trong gia đình.
Họ được sử dụng một căn nhà nhỏ gần toà thị chính thành phố. Đây mới là trụ sở
đích thực của chính phủ. Làm việc bên trong là ba nhân vật: Hoàng thân Bửu Lộc,
luật sư; Nguyễn Đệ, một tỷ phú, con của cựu khâm sai - phó vương Bắc Kỳ và Phan
Văn Giáo có lẽ là người thân cận nhất của Bảo Đại trong những ngày lận đận ở
Hongkong. Ba nhà trí thức nầy vắt óc nghĩ ra các chiến lược hoặc các đề án cải
cách rồi đệ trình lên Quốc trưởng. Có thể coi đây là một chính phủ thực thụ làm
việc nghiêm ngặt và mẫn cán. Cả ba người từ lâu nay vẫn luôn luôn là những đệ tử
trung thành với cựu hoàng.
***
Trong lúc bà Nam Phương còn ở Cannes bên Pháp thì bà Hoàng thái hậu Từ Cung vẫn
còn phát huy ảnh hưởng của mình.
Khi đặt vấn đề phải lập một đội cận vệ để đảm bảo an toàn cho quốc trưởng, chính
tay bà đã lựa chọn mười đội gác(11).
Mỗi năm 6 tháng hè bà về Đà Lạt giúp Quốc trưởng tổ chức các buổi tiếp tân, lựa
chọn gia nhân đầy tớ, mời mọc bạn bè, nhất là bà con thân thuộc. Cố nhiên tiệc
tàn là bắt đầu các ván bài mạt chược cùng những trò chơi lành mạnh khác. Ít
rượu, ít ma tuý, nhưng vài điếu xì-gà hay đơn giản chỉ thuốc lá Bastos thông
thường.
Nhiều hôm đêm đã về khuya cựu hoàng xách súng lên xe Jeep vào rừng săn cọp. Chỉ
có hầu cận đi theo, hiếm hoi mới có một bạn gái đi cùng. Ông là một tay săn tẩm
cỡ. Trong dinh thự của ông, nền nhà phủ da thú làm thảm. Đôi khi ông vào rừng
chỉ để thả bộ và suy tưởng, một mình thưởng thức sự thanh vắng trong rừng khuya.
Tối nào mờ trăng hay trong người thấm mệt thì ông cáo từ trước khi khách ra về.
Ông không bao giờ ngủ một mình. Nếu không Mộng Điệp thì Phi Ánh hoặc một cô gái
khác nằm bên. Bản liệt kê các nhân tình của ông khá dài. Ít ai ngủ với ông quá
một hay hai đêm. Người ta nói đó còn là quy tắc nữa do Thái hậu Từ Cung đặt
ra(12). Các cô gái ra khỏi dinh qua một cầu thang nhỏ bên cửa ngách, tránh cửa
chính.
Báo chí, nhất là của cánh tả phê phán Bảo Đại không chút nương tay: Tờ
Libération (Giải phóng) số tháng 12 năm 1949 viết: "Không nên kéo dài hơn nữa
cuộc thí nghiệm về giải pháp Bảo Đại. Hỏng hẳn rồi". Tờ báo còn tố cáo Bảo
Đại đến Paris là để lao vào các "chuyện lẳng lơ".
Như thường lệ, tên tuổi Bảo Long lại được mọi người nhắc đến, được coi như một
vai phụ, một chiếc bánh xe dự phòng sẵn sàng đưa ra làm vai chính một khi người
cha thất bại hoàn toàn. Hồi đầu năm, có tin đồn Bảo Long sẽ thay thế cha anh và
trong trường hợp đó Phan Văn Giáo trở thành phụ chính(13).
Còn Bảo Đại từ bây giờ trở nên sung túc, hơn thế nữa, rất giàu có. Chắc hẳn hàng
tháng ông được cấp một khoản phụ cấp riêng với cương vị quốc trưởng. Ngoài ra
ông còn được sử dụng một ngân khoản để chi cho hoạt động tác động tinh thần nhân
dân Việt Nam, được ăn chia lợi nhuận từ sòng bạc Đại Thế giới và các bổng lộc
linh tinh khác. Sở thích của ông vẫn như trước chiến tranh, đến mức không cần
phải mưu mẹo với cơ quan mật vụ, ông tự mình đặt mua từ Anh một chiếc máy bay
DC-3, rồi lại một chiếc máy bay Viscount 700 để dùng riêng. Theo một báo
cáo gửi đại uý Pháp tên là Jullerot phụ trách việc ghi chép những phương tiện có
thể dùng được sau khi Chiến tranh thế giới kết thúc thì các kiểu máy bay nói
trên được lắp đặt một cabin làm phòng ngủ (như máy bay Viking của Hoàng
đế Anh Georges VI), một phòng ăn có thể chiêu đãi đông người. Đoàn tuỳ tùng
nhiều nhất không quá 15 người, như thế để bảo đảm một đường kính hoạt động với
những bình chứa nhiên liệu cho sáu nghìn killômét. Và còn một chiếc thuỷ phi cơ
nữa kiểu Sealand, chiếc đầu tiên của một loạt sản phẩm có số lượng lớn nếu chất
lượng được bảo đảm. Rồi vẫn là những chiếc máy bay Sea Oters và phụ tùng
thay thế và có lẽ thêm một máy bay DC-3 thứ hai, thậm chí thứ ba nữa và chắc hẳn
những máy bay thể thao Tiger Moth. Tác giả bức thư được cơ quan mật vụ
giấu tên, kết thúc bản báo cáo, có vẻ sốt ruột:
"Lúc nầy có những cơ hội đặc biệt để làm việc và làm nhanh. Tôi hy vọng chúng
ta sẽ được thấy chúng xuất hiện rất sớm".(14)
Ít lâu sau, gia nhân của bà Hoàng thái hậu ở Đà Lạt nhẩm tính: "Cựu hoàng có tất
cả bốn máy bay DC-3, một máy bay B.24 sáu chỗ, một máy bay B.29 được chính cựu
hoàng cho sửa lại, và một máy bay để thi nhào lộn".
Rồi sau lại một đơn đặt hàng khác: một du thuyền y-át, đúng ra là hai chiếc y-át
(ông Jullerot được yêu cầu gửi ngay bảng giá và mẫu mã). Về hai du thuyền nầy,
thêm một đòi hỏi cấp bách: phải là loại thật sang trọng.
Còn thái độ của cựu hoàng ra sao trước những lời tố cáo về những món chi tiêu
hoang phí của ông? Ông vẫn tỏ ra phớt lờ, không thèm để ý đến. Tháng 6 năm 1949,
tờ Le Soir (Buổi chiều) tiết lộ: "Thủ tướng Queuille tặng quốc trưởng Bảo
Đại một du thuyền y-át giá một trăm triệu franc. Người dân đóng thuế ở Pháp chắc
sẽ sung sướng thấy rằng tình hình tài chính nước nhà không đến nỗi bi đát nên
chính phủ mới ăn tiêu rộng rãi như thế. Qua trung gian của tuỳ viên hải quân của
chúng ta ở London, chúng tôi được biết chúng ta vừa mua của một nhà công nghiệp
Anh một du thuyền y-át Jajusy có động cơ, với sức chứa trọng tải 50 ton (1 ton =
2,83m3), để làm quà biếu".
Tháng 7 năm 1950, Cựu hoàng Bảo Đại, vốn chỉ thích những xe tốc độ cao, lại đặt
mua một chiếc Mercedes lớn, nặng bốn tấn, có kính dày trên 3cm, vỏ thép chống
được đạn 8 ly của tiểu liên và súng máy.
Nhưng ông cũng có những ôtô "bình thường" khá ấn tượng với khách đến thăm: Bốn
chiếc limousine Mỹ to, một chiếc Citroen dẫn động bánh trước, chiếc nầy hình như
ông đã được bạc ở Biarritz, năm 1939. Ngoài ra còn những xe thể thao, những
chiếc Ferrari hay Bentley để ở Pháp. Như vua Louis XVI mê các ổ khoá, Bảo Đại
thích hí hoáy với các động cơ ôtô. Ông mê mải chuyện nầy đến hàng giờ.
Du thuyền y-at, máy bay, ôtô. Nhưng vẫn mải mê săn bắn hơn bao giờ hết, trong
khu dành riêng cho ông ở Buôn Ma Thuột rộng mênh mông. Mọi việc tưởng như suôn
sẻ. Nhưng hiểm hoạ Việt Minh treo lơ lửng trên đầu ông. Thoạt đầu là những lời
chửi bới, rồi những câu vè đồng dao vang trên đường phố.
Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về
Nguyễn về để đóng vai hề tay sai...
Gái đẹp cùng với rượu Tây
Quốc trưởng mê gái liếm giầy thực dân
Khi nào súng nổ đâu đây
Bù nhìn Bảo Đại tan thây có ngày... (15)
Sau khi bị Toà án quân sự Liên khu III tuyên án tử hình về tội bán nước, chiếc
đầu Bảo Đại được Việt Minh đặt giá một trăm nghìn đồng theo thời giá tháng 8 năm
1949, một năm sau, không biết có phải do đồng tiền mất giá hay thân phận bù nhìn
lên giá mà số tiền thưởng lên tới ba trăm nghìn đồng. Tuy nhiên Bảo Đại không
đối xử với địch thủ của mình như kẻ thù. Ông vẫn gọi họ là phe "kháng chiến".
Dịp đi thăm chính thức Hà Nội, ông đến đặt vòng hoa trên mồ những nạn nhân trong
cuộc chiến tối 19 tháng Chạp năm 1946.
Không ai không biết nơi đây chôn cất các thi thể nhặt nhạnh trên các đường phố
Hà Nội sau cái đêm lịch sử đó mà phần lớn là của các tự vệ chiến đấu và bộ đội
Việt Minh. Ông còn dự định dành cho Việt Minh - những người "chiêu hồi" trở về
với chính nghĩa quốc gia bảy ghế trong quốc hội sẽ được thành lập theo hiệp ước
Auriol, nhưng sáng kiến nầy đã bị dư luận ở Pháp la ó phản đối. Sau nầy ông
chống lại việc ném bom ồ ạt những vùng do quân đội của Hồ Chí Minh kiểm soát như
đề nghị của người Mỹ(16).
Chiến tranh mở rộng và có một tầm vóc mới. Đằng sau nước Pháp và Bảo Đại, là cả
phương Tây tập họp trong một thập tự chinh chống cộng sản. Paris, Washington và
London chống lại Bắc Kinh và Mátxcơva. Tháng 9 năm 1951, De Lattre hò hét trước
đám nhà báo: "Hà Nội hôm nay là tiền đồn của cả thế giới tự do ở Đông Nam Á,
giống như Bastogne tháng 12 năm 1944 và Berlin tháng 6 năm 1947".
Tiền và vũ khí Mỹ đổ vào cuộc chiến ngày một nhiều. Các chính khách bên kia Đại
Tây dương sang thăm chiến trường Đông Dương ngày càng đông.
Richard Nixon khi đó là Phó Tổng thống Mỹ lúc ra khỏi biệt điện của Bảo Đại đã
phát biểu một câu bênh vực Pháp đến mức ngạc nhiên: "Những gì nước Pháp ngày nay
đang làm cho Việt Nam giống như xưa kia họ đã làm cho Hoa Kỳ trong buổi bình
minh của lịch sử Hợp chủng quốc".
Ngày tháng trôi qua giả thuyết Hoa Kỳ dần dần trở thành có thể chấp nhận được.
Nhiều nhân vật thân cận của cựu hoàng đã được Washington bí mật cho ăn bẫm.
Một báo cáo của Sở mật thám liên bang thậm chí khẳng định rằng: "Bảo Đại thân Mỹ
từ tâm can. Ông ta không dám công khai tỏ rõ thái độ ấy vì sợ Pháp phát hiện".
Dưới sự thúc đẩy của De Lattre, vũ khí được tăng thêm đem lại lợi thế cho quân
đội Pháp - Bảo Đại - Việt. Nhưng năm sau, Việt Minh xoay chuyển cục diện, ngăn
chặn các cuộc hành quân của quân đội viễn chinh, giải phóng nhiều vùng rộng lớn
ở Tây Bắc Bắc bộ, uy hiếp kinh đô Lào. Trong tình hình ấy, đại tướng Navarre,
tổng chỉ huy quân đội Liên hiệp Pháp quyết định chặn đứng cuộc tiến công của
Việt Minh lại bằng cách tập trung quân ở Điện Biên Phủ, một vị trí chiến lược
thuộc xứ Thái. Các tướng lĩnh Pháp hy vọng thu hút quân đội của tướng Giáp vào
một địa điểm thuận lợi để đánh một đòn quyết định.
Ở miền Nam, Bảy Viễn vẫn nắm Chợ Lớn và thao túng Đại Thế giới. Quan hệ giữa hắn
với quốc trưởng Bảo Đại vẫn chặt chẽ. Những cuộc thăm viếng Đà Lạt của Bảy Viễn
ngày càng nhiều. Nhân một lần gặp, Bảo Đại đòi năm trăm nghìn đôla bằng tiền
mệnh giá lớn trong vòng bảy mươi hai giờ. Tất cả bọn tay chân ở Sài Gòn nháo
nhào huy động đóng góp. Lực lượng Bình Xuyên chỉ có tiền Đông Dương. Cần phải
mua đôla với giá cao. Ý của Bảo Đại là muốn cho Sài Gòn cạn sạch tiền Mỹ. Ông ta
đã thắng cuộc. Trước khi thời hạn kết thúc, một tay chân thân cận với Bảy Viễn
bay đi Đà Lạt với một valy đầy giấy bạc.
Phần thưởng của cựu hoàng ngang với số tiền phải nộp. Trước tiên là một lá thư
Bảo Đại thông báo cho Bảy Viễn biết ông nhận hắn làm em nuôi - bào đệ. Sau nầy
khi Quốc trưởng sang lưu trú ở Cannes, một bức điện báo xác nhận Lại Văn Sang,
phụ tá của Bảy Viễn nay thay thế Bảy Viễn cầm đầu lực lượng Bình Xuyên, được bổ
nhiệm tổng giám đốc Nha cảnh sát và an ninh toàn Việt Nam.
Việc bổ nhiệm gây xôn xao dư luận, nhưng một số biện pháp của ông chủ mới đã dẹp
yên: thanh trừng những công chức quá hủ hoá, thu gom gái điếm, vây bắt những
phần tử Việt Minh... rồi tin tức xấu về chiến cuộc đã che lấp việc thăng chức kỳ
cục nầy.
Bảo Đại về nước được năm năm. Thời gian đủ để cho phép tổng kết những việc đã
làm được, xấu tốt đến đâu. Mặc dù những đam mê săn bắn, những món lợi nhuận
khổng lồ nhận được từ Đại Thế giới, những việc đã làm trong năm năm cầm quyền
cũng không phải hoàn toàn tiêu cực như ghi nhận của đa số các sử gia.
Cuối năm 1953, Lucien Bodard nhà báo kiêm nhà viết sử viết:
"Bảo Đại đã thiết lập được một chế độ của riêng ông, đã tổ chức ra một hội nghị
đại biểu nhân dân toàn quốc, vừa giữ được vẻ ngoài của một nền dân chủ mà không
gây nguy hiểm cho mình. Khôi phục hoàn toàn đế chế Annam cũ với tư cách một nước
tự do, có chủ quyền giở đây là mục đích trước mắt của ông.
Nhưng ông đã hành động đơn độc, mới thưc hiện được ở đỉnh chóp của quyền lực và
cũng chỉ với một số nhân vật ông không tin những người bình thường. Chế độ của
ông trụ được là nhờ những công cụ kinh điển: quân đội, cảnh sát, viên chức,
nhưng ông không có "đà". Tuy nhiên nếu người ta chấp nhận những tiêu chí của
chính ông ta thì phải nói Bảo Đại đã làm được nhiều việc tốt".
Ngày 9 tháng 4 năm 1954, một bữa tiệc được tổ chức để tiễn Quốc trưởng trở lại
Paris. Từ Đà Lạt, ông dừng chân một ngày ở Sài Gòn. Trời đẹp. Một làn gió nhẹ
lướt qua đường băng Tân Sơn Nhất. Ban sáng trời vừa mới mưa trên diện rộng khắp
lưu vực sông Cửu Long.
Phía dưới khoang cửa máy bay có Hoàng thân tân thủ tướng Bửu Lộc, đại tướng
Henri Navarre, vài tuần tới sẽ chỉ huy trận Điện Biên Phủ đối mặt với tướng
Giáp, đông đủ ngoại giao đoàn và đứng hàng đầu là đại sứ Mỹ Donald Heath.
Bảo Đại vẫn trẻ trung, dáng lực sĩ, vượt lên các quan khách, đi qua đường băng
để chào quốc kỳ rồi đi duyệt đội quân danh dự, như lâu nay đã thành lệ từ khi
ông trở về nước năm 1949. Chỉ là một nghi thức không giống lễ thức trong triều
đình Huế, đã lùi xa về quá khứ. Cũng không phải như nghi thức ở Hà Nội, năm
1945, khi ông còn là cố vấn tối cao cho chính phủ Hồ Chí Minh. Một thói quen
vương giả mới mà điện ảnh đã muốn lưu danh muôn thuở trong hàng chục cuốn phim
thời sự trong đó người ta thấy ông đứng sững, dáng vẻ hơi nặng nề, gần như thô
kệch. Trang phục lúc nào cũng chỉnh tề không chê vào đâu được, với cặp kính đen
không rời từ chuyến du ngoạn Poole, cặp kính đen khiến ông không gây được mấy
cảm tình của dân chúng ở Pháp, Mỹ hay cả ở Việt Nam.
Buổi tối, buổi chiêu đãi bắt đầu. Việc đi lại tại trung tâm Sài Gòn bị cấm. Các
xe ôtô Citroen, Peugeot sẫm màu nườm mượp thay cho đoàn xe tay lộn xộn, chiếc
Mercedes to tướng kềnh càng chở Quốc trưởng đỗ trước dinh Thủ tướng. Buổi
chiêu đãi ngắn gọn. Quốc trưởng đã cho biết sáng sớm mai ông sẽ bay từ 5 giờ,
nên cần phải đi ngủ sớm.
Hôm sau ông và đoàn tuỳ tùng đi trên một máy bay riêng, chiếc Liberator.
Cùng đi với ông có hoàng đệ Vĩnh Cẩn, người em họ luôn tháp tùng ông trong các
chuyến đi xa và Nguyễn Duy Quang, phụ trách lễ tân, nguyên đại nội đại thần khi
còn ở Huế, từ 12 năm nay không rời ông nửa bước chân.
Máy bay lên tầng cao rồi bất ngờ quay lại, phải hạ cánh cấp tốc do trục trặc về
máy liên lạc vô tuyến. Lần nầy không có ban đón tiếp, không có đội danh dự,
không cờ trống. Sự cố bất trắc nầy không phải đợi lâu. Bảo Đại ra khỏi máy bay,
thả bộ trên đường băng. Ông không dám đi quá xa vì lực lượng an ninh đã ra về.
Mặc dù vậy ông hít không khí ẩm ướt của đất nước. Ngày vừa rạng, ông đi thêm vài
bước nữa rồi quay về chỗ trên máy bay, lần nầy ra đi để không bao giờ trở về
nữa.
Chú thích:
(1) Báo cáo của Lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn, ngày 5 tháng 7 năm 1949 cho biết: Việt
Nam không có một chút quyền hạn gì nếu không được Pháp thoả thuận hoặc được tham
khảo ý kiến trước. Trích dẫn của Jacques de Folin trong sách Indochine
1946-1954, Nhà xuất bản Perrin.
(2) CAOM, Hồ sơ Lưu trữ bộ Pháp quốc Hải ngoại, SPCE (Vụ Báo chí quân đội
viễn chinh) 376, năm 1950.
(3) Theo Yves Gras, tác giả cuốn Histoire de la guerre d Indochine, Nhà xuất
bản Denoel, 1992, Bộ trưởng các quốc gia liên kết (nay là Bộ Pháp quốc Hải ngoại
tương đương với Bộ Thuộc địa xưa kia) đã chỉ thị cho tướng De Lattre: Phải đem
lại cho các quốc gia liên kết những phương tiện và ý chí đảm nhận lấy trách
nhiệm chiến đấu chống Việt Minh, đòi hỏi chính phủ của họ cầm quyền và dẫn dắt
họ theo một chương trình hành động cho phép ngay tức khắc thành lập ngay những
đội quân quốc gia...
(4) Thời Bảo Đại trở lại cầm quyền đã năm lần thay đổi thủ tướng: Đó là
Nguyễn Phan Long, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Hoàng thân Bửu Lộc và sau cùng
là Ngô Đình Diệm.
(5) Đại tá Leroy, Fils de la rizière (Những đứa con của đồng ruộng) Nhà xuất
bản Robert Laffont, 1977.
(6) Piere Darcourt, Bay Vien, le Maitre de Cho Lon, (Bảy Viễn, ông chủ Chợ
Lớn), Nhà xuất bản Hachette.
(7) CAOM. SPCE-376, Lưu trữ bộ Pháp quốc Hải ngoại Phòng báo chí quân đội
viễn chinh, năm 1949.
(8) Có tên là Phạm Văn Hưng tức Jean Bùi, sinh năm 1944, được Bảo Đại đỡ đầu
và gần gũi, quý mến từ nhỏ. Cuối năm 1953, theo mẹ sang Pháp, đỗ tiến sĩ Luật
năm 1969, được Bảo Đại gửi gắm vào học trường ENA (trường Quốc gia hành chính
chuyên đào tạo công chức cao cấp về nội trị và ngoại giao Pháp). Làm việc cho
Ngân hàng của Pháp hỗ trợ cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt
Nam.
(9) Phương Thảo lấy chồng là một người Pháp dòng dõi quý tộc giàu có. Bà
thường vận động các tổ chức quốc tế giúp đỡ trùng tu Văn Thánh và nhà Minh Lâu
trong quần thể lăng Minh Mạng ở Huế. Năm 1996, bà cùng với mẹ là bà Mộng Điệp về
thăm Huế.
(10) Jacques Massu - Jean Julien Fonde, Láventure Viet Minh, Nhà xuất bản
Plon, 1980, tr.83.
(11) CAOM, Lưu trữ bộ Pháp quốc Hải ngoại - SPCE (Phòng báo chí quân đội viễn
chinh) 376, năm 1949.
(12) Hỏi chuyện Nguyễn Đức Hoá, một gia nhân của bà Hoàng thái hậu Từ Cung
còn sống ở Đà Lạt (tháng 2 năm 1995).
(13) CAOM, Hồ sơ Lưu trữ bộ Pháp quốc Hải ngoại, SPCE 376 (Phòng báo chí Quân
đội viễn chinh) 376, năm 1949.
(14) CAOM, Hồ sơ Lưu trữ bộ Pháp quốc Hải ngoại - SPCE 376 (Phòng báo chí
Quân đội viễn chinh), năm 1950, báo cáo đề ngày 7 tháng 1 năm 1950.
(15) CAOM, Lưu trữ bộ Pháp quốc Hải ngoại, SPCE, (Phòng báo chí Quân đội viễn
chinh), năm 1949.
(16) CAOM. Hồ sơ Lưu trữ bộ Pháp quốc Hải ngoại – SPCE (Phòng báo chí Quân
đội viễn chinh), năm 1949.
Chương 27
Bảo Đại dán mắt nhìn vào con quay màu đen. Con người nhỏ thó trước mặt ông cũng
không dám nhìn ông. Gã lặng lẽ trải các con bài trên thảm xanh. Không ai nói với
ai một lời. Đột nhiên những chi tiết mang một tầm quan trọng hiếm có. Chiếc nhẫn
mắt đá to tướng hay chiếc đồng hồ bẹt bằng bạc gần như trắng mà người Mỹ vuốt ve
giữa hai lần chia bài, hay chiếc cổ áo mở rộng. Anh ta không đeo cà-vạt, bất
chấp kỷ luật của nơi nầy. Anh ta giàu có và nổi tiếng nên những người phụ trách
sòng bạc không bắt buộc anh ta phải tuân theo quy tắc áp đặt cho những con bạc
khác. Quanh chiếu bạc những kẻ tò mò nín thở theo dõi ván bài. Phần lớn trong số
họ cũng là những nhân vật tên tuổi. Điều đó cắt nghĩa sự có mặt của họ ở cái nơi
gọi là đất thánh của các đất thánh Palm Beach nầy. Bên ngoài rộ lên tiếng cười
của những người đang tắm hay tiếng lao xuống nước của những người nhào lộn. Bể
bơi liền kề, khá rộng, nhìn ra biển. Bảo Đại không đến đấy bao giờ.
Ông đi thẳng vào phòng đánh bạc. Ra dáng lịch sự, theo thói quen ông mặc bộ đồ
trắng, nhưng không đeo kính đen như mọi lần. Mặc dù mặt trời cuối buổi trưa còn
hắt ánh nắng chói chang, bên trong phòng đánh bạc tuy rộng nhưng vẫn hơi tối.
Nhưng lần nầy, rủi thay cựu hoàng thua, mà thua đậm! Ba trăm năm mươi triệu
franc vào túi đối thủ là Jack Warner, trùm điện ảnh Hollywood. Thua đậm khiến
sáng hôm sau các báo, ít nhất là các báo vùng Cannes đều đưa tin thất thiệt nầy
với những hàng tít lớn.
Tin đó không làm ai ngạc nhiên. Cựu hoàng Bảo Đại là một trong những tay cự phú
mà dân chơi đều quen mặt. Trong những năm 50, thành phố đông, vui như vào hội.
Đã thành mốt. Những buổi dạ hội nối tiếp nhau, y phục lấp lánh trang kim. Gái
đẹp nô nức. Tiền lại chảy vào các vụ làm ăn. Kể cả việc buôn bán tiền Đông
Dương.
Theo mốt thời thượng, Palm Beach trở thành sòng bạc mùa hè ở Cannes, nơi đặc
biệt hấp dẫn đối với cựu hoàng. Một kiệt tác kiến trúc quái gở với những khía
răng khế chạy xung quanh, khiến nó có phong cách Hồi giáo. Từ xa người ta đã
nhận ra nó như một cây đèn biển trên mỏm Croisette khép lại vịnh Cannes về phía
đông.
Những cái đầu từng mang vương miện chen chúc đến đây. Một tối mà có đến ba Hoàng
đế và một chục hoàng tử đến góp mặt cùng nhau nốc sâm banh và lả lướt trên sàn
nhảy rộng. Farouk, quốc vương Ai Cập, Hoàng đế Hailé Sélassié, quốc vương Iran,
hoàng thân Umberto của Italie, các quốc vương Zogu của Albanie, Faycal của Ả-rập
Xê-út và nhiều người khác. Bảo Đại chỉ là cựu quốc vương giữa những người khác.
Không có gì nổi bật nhưng duy nhất có ông là Quốc trưởng một nước đang có chiến
tranh.
Ông là một khách quen, một cột trụ trung thành của các dạ hội. Không phải chỉ
bây giờ. Thời rất trẻ, ông đã tham gia Uỷ ban danh dự của Motor Yacht Club (Câu
lạc bộ du thuyền y-at có động cơ).
Lâu đài Thorenc từ một biệt thự bình thường trở thành dinh chính phủ. Hình như
không ai ngạc nhiên thấy 6 tháng một lần trụ sở thực sự của chính quyền Việt Nam
một nước đang có chiến tranh, lại đặt trên Côte d Azur. Một cơ hội làm ăn béo bở
của các khách sạn lớn nhờ có vũ hội của các nhân vật quan trọng, các bộ trưởng,
các quan chức từ khắp nơi đến Cannes để yết kiến Quốc trưởng. Họ đông đảo và
giàu có. Giáo chủ đạo Cao đài Việt Nam cũng như các đại diện chính phủ Pháp
thường có mặt định kỳ tại Carlton.
Trong toà nhà bằng đá cẩm thạch, chung quanh Bảo Đại khoảng hai chục người cộng
tác: tổng lý văn phòng, thư ký, cố vấn, sĩ quan hầu cận, lái xe. Cựu Hoàng hậu
Nam Phương cũng có một văn phòng riêng trong đó luôn luôn có Nguyễn Tiến Lãng và
vợ, kể cả Bảo Long mỗi khi đi đâu đều có thư ký riêng đi theo.
Bảo Đại vẫn ở Cannes khi phòng tuyến trên con đường số 4 sụp đổ và quân đội Việt
Minh làm chủ chiến trường miền Bắc. Ông vẫn ở đó trong khi Điện Biên Phủ bị bao
vây và vào lúc cuộc tiến công của tướng Giáp diễn ra trong những giờ phút cuối
cùng của cuộc chiến tranh Đông Dương...
Thất bại của quân đội Liên hiệp Pháp ngày càng dồn dập báo hiệu kết cục bi thảm
của cuộc chiến khó bề tránh khỏi lan rộng nhưng ông vẫn giữ nguyên các thói quen
của mình. Bao giờ ông cũng muốn có những nguồn cảm xúc mạnh. Ở Đà Lạt, trong
rừng đêm ông liều lĩnh xông pha vào rừng để chạm trán với hổ. Ở Cannes ông nhảy
lên môtô lao sâu vào những con đường nhỏ phía sau thành phố.
Bảo Đại vốn ưa liều lĩnh, tốc độ, vực thẳm, tiếng gẩm rú của chiếc môtô Norton.
Luôn luôn phải tạo hứng thú như trước đây ông đã có lần ngồi sau tay lái bứt xa
các cảnh binh bở hơi tai theo sát ông.
Vào các buổi chiều hay tối, ông chơi trò liều lĩnh trong các canh bạc. Những năm
đó Cannes là thành phố đứng đầu nước Pháp về sòng bạc. Bảo Đại tự tay lái những
chiếc xe limousine lộng lẫy dừng trước thềm các sới bạc. Có ai tin được
không? Tin đồn đại thời đó cho biết ông là con bạc khát nước ham đánh to để rồi
thua đậm như lần đánh bạc với ông trùm điện ảnh Mỹ Jack Warner. Những hồ lỳ
trong Casino thành phố còn nhớ mãi về ván bạc đông người chơi mà không ồn ào.
Tối đó cựu hoàng thết đãi khoảng chục bạn bè, có những phụ nữ trẻ và vài người
châu Á, trong đó có hoàng đệ Vĩnh Cẩn. Ông nầy vừa đến nơi là bước luôn vào
phòng đánh bạc, rồi ở lỳ trong đó cho đến khi mọi người ra về. Họ còn nói Quốc
trưởng Bảo Đại, một con bạc trầm tĩnh, uể oải dặt tiền rất thận trọng và dè sẻn.
Ông uống ít, chỉ nước trà thôi, hiếm khi uống rượu. Thời gian như dài ra, những
cái bóng người xúm xít bận rộn ba bốn giờ liền quanh các bàn đồ sộ để đánh bạc.
Thường như thế. Nhiều buổi chiều trong tuần. Còn những ngày khác? Cũng như thế
trong các sòng bạc khác, Nice, Monaco hay trong một số câu lạc bộ bài bạc khác.
Họ phung phí ở đó những gì kiếm được ở một sòng bạc khác, chẳng hạn như Đại Thế
giới đang làm mưa làm gió ở Sài Gòn. Rồi tiền lãi từ các vụ chuyển tiền từ đồng
bạc Đông Dương sang tiền franc, chảy không ngớt vào một nhúm xun xoe nầy.
Cựu hoàng Bảo Đại sống như đế vương nhưng ông vẫn giữ nguyên phong cách quen
thuộc của ông. Gặp ai ông cũng làm cho người đó hài lòng, mến phục ông bất kể
địa vị xã hội như thế nào dù là hoàng thân công chúa hay nhân viên bình thường.
Thời gian ông ở Sài Gòn không lâu, nhưng cũng để lại nhiều tình bạn và lòng tôn
kính. Ai cũng cảm nhận ông là con người kín đáo, lịch sự, lễ độ và thông minh.
Ông kết bạn cả với một anh hồ lỳ sòng bạc và mời anh ta đến ăn với ông tại lâu
đài Thorenc. Paul Paccim, tay tổ chức có tài trong các buổi liên hoan dạ hội ở
Cannes kể lại: một lần hắn cùng ông đi máy bay từ Nice đi Paris. Dọc đường máy
bay trục trặc động cơ nên phải quay lại Nice. Paccini tổ chức một bữa ăn tạm tại
quán ăn trong lúc chờ xe lửa chạy suốt đến thủ đô. Được tin báo, tất cả cộng
đồng người Việt quanh vùng kéo đến hoan hô.
Nhiều phụ nữ đến với ông. Đủ loại. Thường là những gái làng chơi chuyên nghiệp,
hay vợ các gia nhân đầy tớ, những người tình quen thuộc trong đó có "thứ phi"
Bùi Mộng Điệp, được ông tậu cho một biệt thự ở Antibes. Ông có nhu cầu đối với
đàn bà, một thứ nhu cầu thường xuyên không thể dập tắt được như đồ ăn thức uống.
Một cựu bộ trưởng trong chính phủ Hồ Chí Minh đã tiết lộ: ông Bảo Đại khoe, từ
khi đến tuổi lớn, đêm nào cũng phải có một người đàn bà nằm bên, mỗi đêm một
người khác.
Người ta xì xào về những cuộc phiêu lưu tình ái của ông. Lucien Bodard kể lại:
"Cựu hoàng mang về Việt Nam một cô nhân tình ở Cannes. Khi mọi người báo trước
rằng cô ta sẽ lừa dối ông. Ông gạt đi: Tôi biết thế, nhưng anh muốn gì, cô gái
ấy có nụ hôn như một thiên thần. Cô ấy hành nghề của cô ấy. Nhưng chính tôi mới
là một con điếm đích thực"(1).
Một người thân thiết với ông bình phẩm chính xác hơn về nét đặc trưng của Bảo
Đại là "một phần mười của Farouk, hai phần mười của Machiavel và bảy phần mười
của Hamlet"(2).
Nếu người dân thành phố Cannes còn giữ những kỷ niệm về một ông hoàng ham thích
hưởng lạc với những thú vui trần thế thì Nam Phương để lại kỷ niệm về một bà
hoàng buồn bã. Đôi khi bà cũng tham dự những cuộc vui ở Palm Beach, nhưng không
để lại ấn tượng gì và không bao giờ bà theo chồng vào các phòng đánh bạc. Bà ghê
tởm cuộc sống ở Cannes. Bà không ưa những con người bà gặp ở đây, căm ghét những
thói hư tật xấu của chồng, không chịu được lối sống buông thả của ông, không thể
quen được với các thủ đoạn lừa dối trâng tráo, những hành vi bội bạc của ông.
Tuy nhiên sắc đẹp của bà cũng làm xao xuyến tâm can nhiều vương công hoàng tử
nhất là Giáo chủ Agha Khan, xứ Ấn Độ, đã liên tiếp mời mọc và nhiều lần được đón
tiếp bà và các con trong dinh thự rộng mênh mông của ông. Nhưng tin đồn đại ở
Cannes cũng không cho biết gì thêm. Chắc chắn bà Nam Phương vẫn là một người vợ
chung tình.
***
Bọn trẻ rất mê thành phố Cannes. Chúng được đến thăm cả những phòng đánh bạc
nữa, nhờ có phép đặc biệt của bộ trưởng Nội vụ. Mỗi ngày có những thú vui, những
môn thể thao riêng cho ngày đó. Cả những chuyến đi chơi xa không dứt. Các bản
tin của sở tình báo ghi nhận những chuyến đi Vitell, Paris, Evian, đảo Corse
bằng chiếc Libérator, máy bay riêng của cựu hoàng.
Ông rất hài lòng và cám ơn chính quyền địa phương đã đón tiếp ông. Ông viết cho
thị trưởng Maurice Cornut Gentille: "Tôi sẽ không quên sự chu đáo, kín đáo và ân
cần mà các ngài đã dành cho tôi, nhờ đó không lúc nào tôi cảm thấy mình là người
nước ngoài mà luôn luôn thấy mình được đùm bọc như là một đồng bào của các
ngài"(3).
Một cuộc sống quả là vui vẻ, đẹp đẽ, thú vị và nhẹ nhàng, nếu ở quê hương xa xôi
của ông không có chiến tranh - cuộc chiến tranh bẩn thỉu với những đau thương
khôn lường: 460 nghìn người Việt Nam, 60 nghìn người Pháp chết từ năm 1949.
Một tháng sau chuyến viếng thăm Sài Gòn lần cuối cùng những cuộc thương thuyết
hoà bình bắt đầu. Cuộc xung đột giữa hai bên Pháp-Việt đã trở thành vấn đề quốc
tế. Các cuộc thương lượng để đem lại hoà bình cho Đông Dương đã diễn ra ở
Genève, tại trụ sở của Liên hợp quốc, có năm nước tham dự: Hoa Kỳ, Anh, Liên Xô,
Trung Quốc và Pháp. Chính giữa gian phòng lớn, hai đoàn đại biểu của hai bên
Việt Nam ngồi đối diện nhau: đoàn đại biểu của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đoàn
đại biểu của chính quyền Bảo Đại.
Cùng thời gian đó, Thủ tướng Joseph Laniel ký tại điện Matignon - dinh thủ
tướng, một hiệp ước chẳng biết thứ mấy dành cho Việt Nam quyền độc lập hoàn
toàn. Rõ ràng là quá muộn.
Vào giờ hội nghị lập lại hoà bình ở Đông Dương khai mạc tại Genève, Bảo Đại đang
ở Cannes. Những nhà thương thuyết đi lại như con thoi giữa lâu đài Thorenc và
thành phố Thuỵ Sĩ để thông báo với Bảo Đại - Tất cả những người đứng đầu chính
phủ Pháp đều trịnh trọng thề tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam - không có
chuyện trở lại vấn đề thống nhất đã phải trả giá đắt mới giành được. Bảo Đại
không tin. Lúc đầu chính phủ của ông từ chối không ngồi chung bàn với đại diện
Việt Minh. Georges Bidault, lúc đó là bộ trưởng Ngoại giao phải bảo đảm bằng văn
bản do chính ông ta viết, rằng: "Chính phủ Pháp không tìm cách lập ra hai quốc
gia riêng biệt, mỗi nước có khuynh hướng quốc tế riêng, có hại đến sự thống nhất
của Việt Nam", đến lúc đó chính quyền Bảo Đại mới chịu cử đại biểu đến Genève.
Đúng ngày hội nghị khai mạc, Điện Biên Phủ thất thủ, cùng với nó là sự sụp đổ
tinh thần của quân đội Pháp - Việt. Sự tan rã hoàn toàn của lực lượng đồn trú
trong tập đoàn cứ điểm đã gây choáng váng tai hại hơn bất kỳ một thất bại quân
sự quan trọng nào dù nặng nề đến đâu. Chính là ở đây, trong cuộc đối đầu tổng
lực, quân Pháp đã tin chắc là phải đánh bại quân Việt Minh. Lần đầu tiên có lẽ
từ khi chiến tranh bắt đầu, công luận Pháp thể hiện sự quan tâm đến nỗi thống
khổ ở xứ thuộc địa cũ châu Á. Dư luận chăm chú theo dõi những cực nhọc khốn khó,
những biểu hiện của chủ nghĩa anh hùng của quân đội Pháp trong năm mươi bảy ngày
bị bao vây. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mang giá trị biểu tượng: hình ảnh
những xác chết phủ kín chiến hào, những đoàn dài tù binh Pháp đi diễu dưới sự áp
tải của những người lính Việt Minh thấp bé đã khiến dư luận ở chính quốc ngao
ngán. Còn quân đội quốc gia Việt Nam, đội quân đã được Bảo Đại tô vẽ cho đẹp mỗi
khi duyệt binh đang tan rã tơi tả. Chỉ vài tuần sau Điện Biên Phủ đã có hai mươi
nhăm nghìn lính quốc gia bỏ ngũ(4).
Cùng với sự thất bại Điện Biên Phủ, các chính phủ Pháp và Việt theo nhau đổ. Tại
Paris, Pierre Mendès France thay Joseph Laniel. Ở Sài Gòn, hoàng thân Bửu Lộc
xin từ chức. Ngô Đình Diệm nhận lời mời của quốc trưởng Bảo Đại đứng ra lập
chính phủ mới...
Mendès France cam kết đem lại hoà bình bằng thương lượng trong vòng một tháng.
Trái với những lời bảo đảm của người tiền nhiệm, ngay lúc đầu ông đề nghị chia
cắt Việt Nam thành hai miền riêng biệt.
Ngày 20 tháng 7 năm 1954, các nhà thương thuyết đồng ý rạch một vạch ngang trên
vĩ tuyến 17 phía trên Huế một chút. Huế nằm trong vùng không Cộng sản. Các bên
thoả thuận sau hai năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước và quyết
định chế độ chính trị của Việt Nam.
Hai bên đình chiến tại chỗ. Chiến tranh chấm dứt.
Việt Minh tuy là người thắng trận, chỉ chấp nhận chấm dứt xung đột dưới áp lực
của các đồng minh Liên Xô và Trung Quốc.
Nhưng với Bảo Đại, đó là sự phá sản. Ông không được đếm xỉa tới. Không ai buồn
nghe những lời phản kháng của ông. Những đại biểu của ông chỉ đóng vai phụ. Ông
hạ lệnh cho họ rời khỏi hội nghị. Hiệp định Genève về Đông Dương được ký kết
không mang chữ ký của đại biểu chính quyền Bảo Đại. Phe ông không chỉ thất bại
mà Việt Nam lại bị chia cắt làm đôi.
Thống nhất của Việt Nam, đó là mục tiêu đấu tranh của ông. Độc lập, thống nhất
là trên hết. Vì nền thống nhất ông đã làm điên đầu người Pháp từ nhiều năm, đã
thoái thác, lần lữa mãi trước khi chấp nhận "giải pháp" của họ. Kết cục của hội
nghị Genève đối với ông còn hơn là một thất bại, nó còn là một cú đá sau lưng.
Dường như định mệnh và các cường quốc lúc đó đã quét ông như quét một hạt bụi vô
giá trị, không hề tôn trọng hàng chục nghìn binh lính đã bỏ xác trên chiến địa
chết vì những ý tưởng của ông. Khác nào một tên đầy tớ bị người ta tống cổ đi mà
không thèm cho biết là nó bị đuổi.
Chú thích:
(1) Lucien Bodard. La Guerre d Indochine, L humiliation (Chiến tranh Đông Dương
- Sự nhục nhã) - Nhà xuấtt bản Gallimard, 1973.
(2) Jean Bresson, La Fabuleuse Histoire de Cannes (Huyền thoại về thành phố
Cannes) - Nhà xuất bản Le Rocher, 1981.
(3) Cannes: Hồ sơ Lưu trữ thành phố.
(4) Georges Chaffard, Carnets secrets de la Décolonisation (Tài liệu mật về phi
thực dân hoá) Nhà xuất bản Calmann-Lévy, Alain Ruscio trích dẫn trong La guerre
française d Indochine (Chiến tranh Đông Dương của Pháp).
Chương 28
Bảo Long kéo cao chiếc mũ ca-lô, cứ mỗi bước lại tụt dần xuống trán. Phân đội
anh còn lại 28 người. Những người lính xung kích đi bộ, khẩu Mas 36 bên hông. Lá
rừng được tô điểm thêm dưới ánh chiều tà xứ Bretagne. Họ đang ở cây số thứ 38.
Không một ai trong đám lính trẻ nầy tỏ ra mệt nhọc, bước chân ngắn hơn lúc khởi
hành, nhưng cũng cứng cỏi hơn. Bảo Long đi ở hàng cuối phân đội, không nói năng
gì. Ngoài ra cũng rất ít ai nói chuyện từ lúc khởi hành, tiếng động cũng ít,
ngoài tiếng lạo xạo chân bước trên đường. Viên sĩ quan tung tăng trên hàng đầu,
gáy cạo nhẵn, người cao lớn bệ vệ. Thân hình hắn vượt trội hẳn lên so với binh
sĩ trong hàng quân. Hắn bắt những người lính bé nhỏ gần như phải chạy cho kịp
bước chân hắn. Mặc dù mệt nhọc và đường xa, cuộc hành quân xem như một trò chơi.
Một thành tích thể lực thực hiện trong một không khí gần như vui vẻ. Họ đều còn
trẻ, khỏe mạnh, rắn rỏi, gắn bó với nhau trong nỗ lực chung. Chiến tranh và
những nỗi khổ cực đã lùi xa cũng như thời đi học Đại học, cũng như cuộc sống ở
Việt Nam...
Từ nhiều tháng nay, Bảo Long đã tòng quân như lời khuyên của cựu hoàng, cha anh.
Từ ngày 6 tháng 10 năm 1954, không phải thi tuyển sinh, anh đặc cách được vào
học trường võ bị Saint-Cyr.
Hôm đó, bà Nam Phương đi cùng con trai vào sân trường võ bị liên quân ở
Coetquidan, thiếu tướng chỉ huy trưởng nhà trường đón tiếp họ, mời họ ăn trưa.
Ban sáng theo lệ, bà và con trai đến thăm nghị viện Bretagne ở Rennes.
Buổi chiều bà ra về một mình. Chàng thanh niên từ nay trở thành học sinh quân,
trường võ bị, thành viên của cái mà tiếng lóng ở Saint-Cyr gọi là "bazar" tức là
người của baz tiếng lóng có nghĩa là trường học. Bazar còn có
nghĩa là cửa hàng tạp hoá bán các loại hàng thập cẩm rẻ tiền ở các chợ phương
đông.
Chẳng bao lâu, Bảo Long trở thành một học sinh gương mẫu và xuất sắc. Như những
người khác, anh lặn lội trong rừng Brocéliande, lưng đeo một ba lô đầy sỏi. Như
những người khác, anh thu dọn chỗ nằm vuông vức, lăn lê bò toài trong bùn lầy,
hò hét các mệnh lệnh. Khi đến lượt, cũng như những người khác, anh cũng phải cọ
rửa nhà xí. Anh không như một số thanh niên khác, quá mảnh mai yếu đuối, quá mệt
mỏi, đã tuyên bố bỏ cuộc sau ba tháng đầu tiên của khoá tân binh. Chủ yếu trong
các ngày qua là tập đi đều bước, là những buổi diễn tập linh tinh, nhằm mục đích
dạy cho những thanh niên tân binh biết chỉ huy người khác. Đều đặn, một đại diện
chính thức của chính phủ Việt Nam đến trường tìm hiểu một cách tôn kính những gì
xảy ra với người lính mới..
Bảo Long bình thản chịu đựng cuộc sống khắc khổ trong quân ngũ, chan hoà với hai
mươi bảy bạn đồng ngũ chung chạ trong một phòng. Suốt thời gian thử thách đó mỗi
đêm chỉ ngủ ba hoặc bốn giờ. Trong trường không được nói chuyện chính trị. Không
nói gì về Việt Nam, vào thời điểm nầy cuộc xung đột giữa các giáo phái bùng lên
dữ dội ở Sài Gòn. Bảo Long không muốn biết điều gì đang xảy ra trên đất nước
anh. Quá nhiều đau khổ, quá nhiều luyến tiếc khiến anh muốn xa hẳn, không muốn
dính dáng gì với đất nước khiến anh nghĩ về quê hương. Anh không đọc báo, thưa
dần những cuộc tiếp xúc với đồng hương. Tuy cuộc sống quân ngũ tạo thuận lợi cho
tình bạn phát triển, anh không kết bạn với ai, lúc nào cũng lặng lẽ, xa lánh,
giữ gìn ý tứ dù tình đoàn kết quân ngũ dễ làm cho mọi người gắn bó với nhau hơn.
Bảo Long vào học trường võ bị với tư cách sinh viên của một nước trong Liên hiệp
Pháp. Anh có thể rời bỏ trường bất kỳ lúc nào anh muốn. Nhưng anh ở lại. Kiêu
hãnh trong bộ quân phục áo đỏ, mũ chùm lông, đặc trưng của học sinh quân
Saint-Cyr, anh tham gia cuộc diễu binh ngày Quốc khánh Pháp 14 tháng 7 năm 1955,
đi qua quảng trường Champs-Elysées, anh đi ở hàng cuối của tiểu đoàn vì vóc dáng
bé nhỏ. Nhưng cha và mẹ anh đều không tới xem cuộc diễu binh đó.
Tuy nhiên, dù có những biểu hiện bề ngoài đó, trong những năm đầu tập luyện, Bảo
Long bắt đầu nhận ra có lẽ tốt hơn là nên chú tâm vào việc học triết học. Lòng
say mê binh nghiệp giảm dần.
Cuối năm 1956, sau hai năm học anh phải chọn một trường thực hành. Gần như toàn
bộ học sinh quân trong khoá của anh nhanh chóng đi thẳng sang Algérie tham gia
chiến đấu. Cuộc chiến tranh thuộc địa mới của Pháp đang cần người, nhất là cán
bộ khung. Chỉ còn lại "những người nước ngoài". Tất cả có sáu người: một hoàng
tử Cao Miên, một thiếu uý Lào, hai người Nam Mỹ, một thiếu tá ngự lâm quân của
Quốc vương Iran và anh. Anh vẫn còn chính thức thuộc biên chế quân đội quốc gia
Việt Nam nên không thể đi chiến đấu được. Vị thế của anh rất kỳ lạ. Anh không có
một thứ giấy tờ nào xác nhận nhân thân ngoài một hộ chiếu ngoại giao. Với người
Pháp, anh là người Việt Nam, nhưng với đồng bào mình, anh không sống chung cùng
họ với tư cách công dân.
Vậy làm gì đây? Ở lại quân đội Pháp chăng? Nhưng anh chán ngắt một đội quân đã
tiến hành chiến tranh thuộc địa với đất nước anh, đã bại trận ở Điện Biên Phủ.
May sao các cấp chỉ huy thấy anh thích cưỡi ngựa bèn đề nghị anh sang học trường
kỵ binh - thiết giáp ở Saumur.
Lần nầy tại biệt thự Bentley Continental của cha, anh đi về như con thoi giữa
thành phố nhỏ Touraine và thủ đô Paris. Anh được phong thiếu uý. Bạn hữu cho đây
là một thắng lợi thực sự. Anh sống một mình xa doanh trại trong một gian phòng
trong thành phố. Vẫn ý tứ giữ gìn, ít đàn bà, ít những cuộc phiêu lưu tình ái
trong cái năm anh bị hiểu lầm là dân ăn chơi. Mỗi thứ bảy hay chủ nhật, trong
căn hộ gia đình ở Neuilly, anh đóng cửa dùng phần lớn thời gian để đọc sách.
Chẳng phải là binh pháp của Clausewitz, cũng chẳng phải những tiểu luận về chiến
lược mà là những nhà siêu thực quý hiếm đã thu hút anh như Lise Dcharme hay
Marcel Béalu. Lạ lùng là ở Saumur anh đã gặp những sĩ quan khác có cùng sở
thích.
Rõ ràng Bảo Long rất ít giống cha. Trong khi vẫn nói anh quyến luyến và khâm
phục cha nhưng anh hết sức cố gắng để không giống cha. Tất cả những gì là kiêu
căng, hợm hĩnh và tự mãn đều xa lạ đối với anh. Tính tình Bảo Long hướng về cái
bi thảm còn cha anh, ngược lại, ham chơi, thích hưởng lạc.
Năm học thực hành kết thúc, xa Saumur, xa bầy ngựa, anh nghĩ đến... cái chết.
Một cái chết nhanh chóng, nếu có thể, phải là cái chết vẻ vang. Anh không vượt
qua được nỗi đau mất nước và quên đi thất bại thảm hại của cha anh. Trong căn
phòng nhỏ ở trường ky binh - thiết giáp Saumur, chàng thanh niên kế vị triều
Nguyễn quyết định dứt khoát, tìm đến cái chết để khỏi phải đau khổ, chấm dứt
chuỗi thất bại, và bơ vơ trong thời niên thiếu của mình.
Thay vì tự tử anh xin chuyển sang đội quân lê dương để đi chiến đấu ở Algérie.
Anh nghĩ đó là cách chắc chắn nhất để không bao giờ phải nghĩ lại nữa và tự kết
liễu đời mình nhanh nhất. Có lúc anh đã tính lái một trong những chiếc xe sang
trọng của anh đâm thẳng vào gốc cây để được chết nhanh hơn nữa nhưng rồi anh lại
quyết định viết một lá đơn xin thuyên chuyển.
Là người nước ngoài, nếu muốn gặp lại các bạn ở Saint-Cyr, chỉ có cách là sung
vào đội quân lê dương gồm lính nước ngoài. Sau khi gửi đơn vào mùa xuân anh trở
về nhà và sống trong khung cảnh của lâu đài Thorenc uy nghi để chờ đợi trả lời.
Phải gần ba tháng sau anh mới nhận được công văn chấp thuận của Bộ chiến tranh,
trong khi ở Sài Gòn người ta đem hình nộm và ảnh chân dung của cha anh ra đốt và
làm nhục. Mẹ anh cực chẳng đã phải cố tìm mọi cách dàn xếp và cuối cùng mới tìm
ra giải pháp với Ngô Đình Diệm để được yên thân.
Anh không hỏi ý kiến ai, chìm đắm trong cô đơn, trong nỗi tuyệt vọng mất nước,
cũng không báo cho cha mẹ biết. Khi biết quyết định của con, Bảo Đại cũng như
Nam Phương "tôn trọng ý nguyện của con" không tìm cách làm thay đổi sự lựa chọn
của con, tránh không gợi vấn đề và giữ im lặng không bộc lộ cơn xúc động trước
mặt con. Chắc hẳn Bảo Đại cảm thấy tổn thương vì con không nói thẳng với mình mà
chỉ được vợ cho biết.
***
Hàng rào dây kẽm gai kéo dài mãi, rất xa. Đó là phòng tuyến "cái bừa" dài 320km
đầy chướng ngại bằng dây kẽm và mìn. Bốn mét chiều ngang, hai mét chiều cao.
Giữa các hàng rào là bức tường gồm mười một hàng dây dẫn điện cao thế từ 5 đến 7
nghìn vôn.
Phía sau xa xa là xứ Tunisie, đất khô cằn hoặc đôi khi có những cây ôliu. Phòng
tuyến "La Herse (Cái bừa)" hay còn gọi là phòng tuyến Morice - lấy tên của vị bộ
trưởng Chiến tranh có nhiệm kỳ ngắn ngủi, người đã đề xướng và chỉ đạo việc xây
dựng nó. Phòng tuyến nầy khoá chặt Algérie theo dọc chiều dài biên giới. Phòng
tuyến nầy kéo dài đến sa mạc. Nơi nầy không có chỗ ẩn nấp, những vết chân đi
trên cát ngăn cản không cho quân đội bí mật đi qua. Đó là một sự khám phá, lúc
đầu chỉ được coi là một vật lạ mắt, đơn giản nhưng sau nầy tỏ ra là một bộ máy
đáng sợ. Nó sẽ làm thay đổi số phận của các vũ khí.
***
Những xe trinh sát bọc thép (EBR) của trung đội tiến thẳng về phía nam. Chúng
chạy nhanh, tốc độ trên 60 km một giờ. Tám bánh xe nhả bụi. Từng quãng một dọc
theo hàng rào thép lại có những hầm tác chiến.
Đêm qua tín hiệu báo động đã phát ra từ những hầm nầy. Lực lượng du kích
fellagha của Algérie đã nhổ bức tường thép, mang đầy súng đạn trong người,
bất chấp radar, mìn sát thương, nhất là dây thép mang điện thế hàng nghìn vôn,
tìm cách vượt qua phòng tuyến. Lần nầy họ dùng những dụng cụ đơn giản và thô sơ
nhất. Đó là kìm cắt bằng thép, những chiếc kéo cắt nặng nề sản xuất tại Đức. Họ
dũng mãnh xông lên, chọc thủng phòng tuyến, hoặc phủ những nệm cao su cách điện
lên trên dây thép gai có điện hoặc còn chui vào các cống ngầm luồn dưới hàng rào
dây kẽm gai - công trình cổ của người La Mã xưa kia và chỉ có người dân địa
phương mới biết. Lần nầy, họ đã coi thường thuốc nổ để đi qua phòng tuyến một
cách cổ điển nhất vì vậy các đồn bốt Pháp đã phát tín hiệu báo động.
Bảo Long vươn nửa người ra khỏi tháp xe bọc thép. Mặt trời vừa lên. Theo một
kịch bản đã hiệu chỉnh kỹ, đơn vị tuẩn tiễu lê dương đã xác định một cách chính
xác vị trí cửa mở và chuyển dịch vị trí ước định của quân du kích. Sáng ra, tiểu
đoàn xe bọc thép được lệnh bịt chặt những nơi nghi có địch đi qua. Bảo Long chỉ
huy trung đội xe bọc thép thi hành nhiệm vụ nầy.
Động cơ gầm rú, những khối thép đồ sộ lúc lắc di chuyển trong đống đá vụn câm
lặng. Anh nói: "Quanh đây 10 km người ta nghe được tiếng động cơ của chúng ta
đang di chuyển". Chàng thanh niên mảnh dẻ, kế vị ngôi báu An Nam đã đi được một
quãng xa. Trong đoàn quân không ai là không biết anh là ai, từ đâu đến. Đầu đội
chiếc mũ sắt nặng sụp gần ngang tầm mắt, anh hô khẩu lệnh. Ngắn gọn và đanh
thép. Để binh sĩ dưới quyền phải tuân lệnh, không trù trừ, do dự. Như đã thành
quen. Như một công việc thông thạo. Ở Saint-Cyr trong một cuộc diễn tập người ta
đã dạy anh biết cách chỉ huy một đơn vị di chuyển ở cự ly 50 hoặc 60 m. Trung
đội lao lên theo anh. Bảo Long biết đọc bản đồ. Những tấm bản đồ rộng, in trên
giấy kẻ millimét của Viện Địa lý quốc gia (IGN). Nhiều chỉ huy đơn vị không đọc
được, nhất là các hạ sĩ quan thường bị lạc giữa sa mạc đầy sỏi đá xung quanh
Batna hoặc Tebessa. Anh đọc thạo hơn những người khác, đây là chuyên môn của
anh. Như có khiếu trời ban. Anh nổi tiếng vì thế, như một thánh nhân hay thầy
bói. Đi với anh thì đoàn xe bọc thép không bao giờ bị lạc. Phía trước đơn vị
tiên phong đã gặp địch. Cuộc chạm súng bắt đẩu. Chỉ thấy bụi mù hất lên từng
quãng, ánh chớp của đạn pháo. Trên cao, những chiếc máy bay bắn phá xối xả vào
đối phương bị bao vây. Gần như một việc đã thành nếp. Từ nhiều năm nay cuộc sống
của anh ở đây là như thế. Hành quân trên đường, lần theo dấu vết, săn đuổi du
kích. Trong năm ngày thì bốn ngày như vậy. Một cuộc sống rượt đuổi dưới ánh nắng
mặt trời và bụi bám đầy mặt. Nhưng ít ra anh cũng được tự do hít thở không khí
ngoài trời. Các bạn anh cùng đi trong xe, hai người lái, một thợ máy, mình đẫm
mồ hôi. Chiến tranh là như vậy. Không hề có tiếp xúc với dân chúng, ít được nghỉ
ngơi, chỉ có rượt đuổi theo dấu chân, lại còn bụi bặm và xa xa là hình ảnh các
cuộc giao chiến. Dễ dàng, nhanh chóng hay gay go, ác liệt như trận Aurès. Cả một
đại đội của trung đoàn 4 khinh binh lê dương bị quân kháng chiến Algérie phản
công và dồn xuống vực sâu.
Lần nầy quân đổ bộ đường không đã chạm súng với địch. Du kích chọc thủng phòng
tuyến bao giờ cũng nhằm mục đích tiếp tế vũ khí đạn được cho lực lượng wilayas ở
nội địa. Chính vì thế mà họ xuất phát từ các căn cứ đặt ở Tunisie, đương đầu với
dây thép gai dẫn điện 5.000 vôn, những trái mìn, những trung đoàn lê dương, bộ
binh và xe bọc thép truy đuổi họ. Được trang bị tốt và khi tập hợp lại, họ tiến
hành các trận đánh ác liệt. Bao nhiêu người chết, bao nhiêu xác người bị phanh
thây dưới ánh mặt trời chói chang? Hàng nghìn. Tháng 4 năm 1958, quân giải phóng
dân tộc Algérie (FNL) ỷ vào quân số đông 900 người, liều lĩnh chọc thủng phòng
tuyến điện qua hai điểm khác nhau. 300, chỉ có 300 người vượt qua an toàn. Và
cuộc truy kích bắt đầu. Cuối cùng chỉ còn 30 người sống sót. 30 trên 900, phòng
tuyến điện giết người quả là hiệu nghiệm. Hơn là một bước tường ngăn, chỉ như
một vạch thẳng lạnh lùng, phòng tuyến điện đem lại hy vọng cho các nhà chiến
lược Pháp. Cuộc kháng chiến Algérie thu hẹp dần, tàn lụi rồi tắt ngấm vì không
có lương thực, không có chỗ dựa về các nguồn dự trữ đặt ở Tunisie. Những điều đó
quân lê dương biết cả. Trong nhiều năm sau đó họ xông vào các đơn vị du kích bị
bao vây và tiêu diệt hết.
Chiến xa của Bảo Long bắn đầu tiên. Chính anh đã tọng viên đạn dài vào cơ bẩm
của pháo. Đó là vai trò của anh. Anh hạ lệnh khai hoả. Tuy nhiên còn xa mới đến
chỗ hai bên giao chiến. Anh thoáng thấy tiền quân của quân đội Pháp đã xung
trận, đồng đội của anh trong xe hét lên. Bằng tiếng Đức. Họ đều là người Đức,
phần đông biết vài tiếng Pháp. Trong trận chiến họ không cần tìm hiểu tiếng của
nhau.
Một hoàng tử người Việt làm gì đây trên một chiến xa do người Đức lái, một chiến
xa chạy hết tốc độ để đi giết những người yêu nước Algérie?
Trong khi hành quân, Bảo Long không đặt ra câu hỏi nầy nhưng khi tiếng va chạm
của vũ khí lắng xuống anh lại bị ám ảnh về điều phi lý của tình cảnh.
Mấy tháng sau, chiếc xe của Bảo Long nổ tung do đè phải quả mìn khi trung đội xe
bọc thép vượt qua một "khu trắng" phân cách hàng rào dây thép gai và biên giới.
Dây thép gai dẫn điện lẫn vào đất ở những chỗ thuận tiện nhất và đôi khi đi xa
khỏi đường phân cách. Các chiến xa đến bờ một con sông phải vượt qua, ở đó có
một trái mìn chôn dưới đất. Một trái mìn - một cỗ máy giết người cổ xưa - quân
du kích đã đoạt lại của người Ai Cập trước đây do quân Anh gài xung quanh kênh
đào Suez. Rất may là trái mìn nổ dưới gầm xe nên sức ép hình chữ V chỉ lật nhào
chiếc xe bọc thép và hất anh ra khỏi xe. Bất tỉnh... Anh không nhớ sau đó thế
nào. Mọi người kể lại họ đã tưởng anh hoá điên, loạn trí, hét lên những mệnh
lệnh rời rạc, làm tê liệt mọi liên lạc vô tuyến. Những người khác đã chết trong
những trường hợp tương tự. Trong những năm anh phục vụ ở Algérie ba mươi xe bọc
thép đã nổ tung như vậy, gần chiến luỹ Herse. Một chuẩn uý trong đại đội anh đã
chết, xác tan từng mảnh trong hoàn cảnh tương tự. Anh ta nhảy ra khỏi xe và đã
bị những mảnh sắt của chiếc xe trúng mìn phạt cụt đầu. Thế nghĩa là cái chết rút
cục cũng chỉ là cái chết! Bảo Long chẳng đến đây vì thế sao? Để gặp cái chết
nhanh gọn và vinh quang. Nhưng không. Anh không chết, cũng không điên. Anh tỉnh
lại sau sáu tiếng đồng hồ sau, hoàn toàn không ý thức được cái gì đã xảy ra. Hai
ngày nằm viện, xét nghiệm đủ thứ... Chẳng làm sao cả. Anh trở về doanh trại. Gặp
lại tháp xe của mình. Lại những công việc đã thành nếp trong thời chiến. Cũng
như trước đây anh quyết định đăng lính lê dương mà không hỏi ý kiến ai, lần nầy,
đánh trận bị thương trở về anh không hé răng nửa lời. Khi được về phép gặp lại
cha mẹ những ngày sau đó, anh cũng không nói gì về chuyện trái mìn.
Mãi sáu tháng sau, cha mẹ anh mới biết tin. Qua báo chí. Một nhóm phóng viên đến
thăm tiểu đoàn của anh biết chuyện đã loan tin đó. Khi tin được công bố, trung
uý Bảo Long đang nghỉ ở Cannes.
Đó là một sĩ quan lê dương kỳ quặc, trầm lặng, luôn luôn dè dặt, ý tứ. Ham thích
đánh cờ, anh làm cho các bạn đồng ngũ cũng say mê không kém. Anh thắng họ dễ
dàng. Để làm cho ván cờ thêm thú vị, anh làm như người khiếm thị đánh cờ. Không
nhìn vào bàn cờ, anh chỉ báo trước nước đi bằng các con số. Anh đều đặn nhận
được sách từ một cửa hàng sách cực tả ở Paris. Cửa hàng nầy gửi cho anh những ấn
phẩm khoa học viễn tưởng hoặc những tác phẩm siêu thực bằng tiếng Anh.
Anh làm gì trong bộ quân phục nầy? Trong cuộc chiến tranh nầy? Chắc chắn là anh
đã tự đặt cho mình câu hỏi nầy và chắc đã trao đổi với duy nhất một người có thể
gọi là chỗ thân tình. Tên anh ta là Morillon, cũng là học sinh quân Saint-Cyr
như anh, sau nầy trở thành người chỉ huy nổi tiếng của lực lượng can thiệp quốc
tế làm nhiệm vụ ngăn cách hai phe đối lập ở Bosnie, thuộc Liên bang Nam Tư
(cũ)...
Anh chán chường, ghê tởm mọi thứ, trong suốt cuộc chiến tranh Algérie, một cuộc
chiến tranh thuộc địa, đối xứng với cuộc chiến tranh Đông Dương đã đày đoạ đất
nước anh..
Trong trung đội do anh chỉ huy, phần lớn binh sĩ dưới quyền là người Đức. Đó là
những con người dễ chỉ huy, biết vâng lời, biết kính trọng. Nhưng đó là những
lính đánh thuê không cùng chia sẻ những lo toan của đội quân họ đang phục vụ.
Nước Algérie thuộc Pháp không phải là mục đích chiến đấu của họ. Họ thường phát
biểu: Đó là những vấn đề của người Pháp. Bảo Long nhất trí với họ: "Điều
khủng khiếp không phải là nhìn thấy máu đổ ra hay biết có bao nhiêu người chết
mà là tâm trạng thảm hại, tinh thần suy sụp của quân đội, là tính phi nghĩa của
cuộc chiến, đã nhìn thấy trước là sẽ thất bại... Trường hợp của đất nước tôi
trước đây cũng thế"(1).
Chung quanh anh, vầng hào quang đế chế vẫn chưa tắt. Là sĩ quan trong quân đội
lê dương, vẫn được hưởng đặc quyền có một phòng riêng, có sĩ quan hầu cận người
Việt nguyên là sĩ quan cũ ngự lâm quân trong khi Bảo Long mới mang quân hàm đại
tá. Một hôm nhìn thấy một con bọ cạp bò lại gần Bảo Long anh ta liền thò tay
chộp ngay lấy. Bảo Long hỏi tại sao phải làm như thế, anh ta đáp, tự nhiên: "Tôi
làm thế vì đất nước tôi, ngài là Hoàng tử kế vị...". Một lần khác, một chiến xa
sắp nổ vì chập điện, Bảo Long lao vào xe để ngắt điện. Nhưng một người lính Việt
Nam lao lên trước, xô bật anh ra, đẩy anh ra xa và tự mình nhảy vào xe.
Hình ảnh đế chế còn trỗi đậy khi Bảo Long gặp người cháu của Hàm Nghi, vị Hoàng
dế trẻ tuổi bị phế truất cuối thế kỷ trước vì hoạt động chống Pháp. Anh ta cũng
là sĩ quan lê dương. Hai người làm quen với nhau và trò chuyện. Cũng là một việc
éo le: Cả hai hậu duệ của các ông vua triều Nguyễn nay cùng chiến đấu chung dưới
một bóng cờ để giữ một thuộc địa lớn, cuối cùng cho nước Pháp.
Tại phòng ăn của sĩ quan - Bảo Long ít khi tới đó - bỗng nhiên anh nhận ra bộ
mặt được che giấu của cuộc chiến tranh bẩn thỉu nầy. Nhưng người của phía đối
phương bị bắt đều bị tra tấn một cách hệ thống. Viên đại tá cùng ăn không hiểu
tại sao anh ngồi im lặng và xin cáo biệt, viện cớ khó ở.
Sự phát hiện nầy sau ba năm trong quân ngũ, thoạt tiên là trong trận chiến
Aurès, rồi trên phòng tuyến La Herse, khiến anh xin chuyển khỏi đơn vị về một
lớp tu nghiệp của kỵ binh - thiết giáp.
Thời gian phục vụ ở Algérie đã để lại trong anh một dư vị cay đắng. Một cảm giác
ghê tởm. Đạo quân anh đã lầm lạc phục vụ suốt mười năm, không để lại cho anh một
kỷ niệm nào tốt đẹp. Anh đã mất thăng bằng về tinh thần và không tìm được chút
hơi ấm tình người anh vẫn đòi hỏi một cách tuyệt vọng (2).
Chú thích:
(1) Hỏi chuyện Thái tử Bảo Long, Paris, tháng 9 năm 1994.
(2) Kết thúc chiến dịch, Bảo Long được tặng thưởng huân chương "Quân công
(valeur militaire)" với nhiều ngôi sao: đỏ, bạc, đồng.