Trang

Thứ Ba, 14 tháng 1, 2014

Hải chiến Hoàng Sa qua hồi ức một cựu quân nhân

Hải chiến Hoàng Sa qua hồi ức một cựu quân nhân - Kỳ 1
Cựu quân nhân Lữ Công Bảy kể về con tàu HQ-4 mà ông từng là một thành viên và từng tham gia Hải chiến Hoàng Sa 1974 - Ảnh: Lê Thanh Hải
Ngày 1: Tức tốc lên đường
Khi tôi ghi lại những dòng hồi ký này thì sự việc đã xảy ra cách đây 35 năm (19.1.1974 - 19.1.2009). Đã 35 năm trôi qua, những gì mà tận mắt tôi chứng kiến, những gì mà tôi đã trực tiếp tham gia trong trận hải chiến với Hải quân Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa ngày 19.1.1974 vẫn không phai mờ trong tâm trí tôi.
Lúc bấy giờ, tôi là thượng sĩ giám lộ (giám sát lộ trình hàng hải) trên khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4 (chiến hạm tối tân nhất của Hải quân Sài Gòn thời bấy giờ) với chức danh hạ sĩ quan phụ tá trưởng ngành Giám lộ, kiêm hạ sĩ quan phụ tá trưởng khối Hành quân. Với chức danh đó, trong sở tác chiến cũng như trong nhiệm sở hành quân, lúc nào tôi cũng phải có mặt thường xuyên trên đài chỉ huy, bên Hạm trưởng Vũ Hữu San (Hải quân trung tá) và Hải quân đại úy Diên - Trưởng khối Hành quân, Hải quân trung úy Roa - Trưởng ngành Hàng hải cùng một số đồng nghiệp giám lộ như thượng sĩ 1 Giám lộ Ry, trung sĩ 1 Giám lộ Khiết. Nhiệm vụ của anh em chúng tôi là ghi lại nhật ký tác chiến, nhật ký hàng hải, xác định vị trí của chiến hạm, đồng thời nhận và chuyển những quang hiệu bằng đèn và tín hiệu bằng cờ.
Trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã ngang nhiên tuyên bố Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Trung Quốc. Gần đây, Quốc vụ viện Trung Quốc đã ngang ngược thông qua cái gọi là chuẩn bị thành lập thành phố Tam Sa nhằm trực tiếp quản lý các quần đảo trên biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Hôm nay, tôi ghi lại hồi ký này để tưởng niệm các chiến sĩ hải quân đã anh dũng hy sinh vì nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ phần đất mà tổ tiên ta đã khai phá và giữ gìn dù không thể bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ vì đó là một trận đánh không cân sức.
 
**
 “Hôm ấy, gió mùa Đông Bắc thổi mạnh trên biển Đông, biển động mạnh. Chiến hạm đang tuần tiễu vùng biển Quảng Ngãi, từ Sa Huỳnh đến cù lao Ré (đảo Lý Sơn), đã là ngày thứ 14 lênh đênh trên biển, chỉ còn một ngày nữa là chiến hạm sẽ được về Đà Nẵng nghỉ bến.
Anh em thủy thủ đoàn rộn ràng nghĩ đến ngày được vào đất liền gặp lại bạn bè và người thân đang trông chờ ngóng đợi. Chưa kịp dùng cơm trưa thì từ Trung tâm truyền tin đưa lên Đài Chỉ huy một công điện thượng khẩn lệnh cho tàu về ngay Đà Nẵng.
Khoảng 17 giờ tàu về đến Quân cảng Đà Nẵng (cảng Tiên Sa). Vừa cập cầu tàu thì được lệnh tháo dây ra ngoài neo. Hạm trưởng San được lệnh lên họp khẩn cấp ở Trung tâm hành quân Bộ Tư lệnh Hải quân vùng I Duyên Hải (BTL/HQ/V1DH).
Từ Bộ chỉ huy Vùng I Duyên hải, Hạm trưởng điện về tàu lệnh cho Hạm phó (Hải quân thiếu tá Nguyễn Thành Sắc) cho ban ẩm thực lên bờ đi chợ (tiếp tế lương thực, thực phẩm). Lúc 20 giờ, Hạm trưởng về đưa tàu vào cập cảng Tiên Sa. Lệnh cấm trại 100% được ban ra, không ai được rời tàu.
Ban cơ khí chuẩn bị bắt ống để nhận dầu và ngước ngọt. Đến 21 giờ, hai xe GMC chở một trung đội với đầy đủ vũ khí đạn dược. Lần đầu tiên trước mắt tôi được chứng kiến một toán quân lạ lùng, họ không mặc quân phục của quân đội Sài Gòn mà là quân phục của bộ đội miền Bắc, đủ kiểu áo: áo đen và áo màu ô liu, súng AK-47, B-40, B-41, giày bố, dép râu, nón tai bèo, nón cối…
Sau một hồi dọ hỏi, tôi mới biết đây là lực lượng Biệt hải (lực lượng đặc biệt tinh nhuệ, chuyên xâm nhập lên bờ biển phía Bắc vĩ tuyến 17, hoạt động trong chiến tranh). Tôi được lệnh từ Đại úy Diên chuẩn bị hải đồ đi Hoàng Sa trình cho Hạm trưởng.
Lúc 23 giờ, tàu rời cảng Tiên Sa, trực chỉ Hoàng Sa. Tôi có cảm giác có một cái gì lớn lao sắp xảy ra. 
 

Ngày N+1: Chạm trán ở Hoàng Sa

Lúc 11 giờ 30 ngày 17.1.1974, khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) đã có mặt tại quần đảo Hoàng Sa. Trước đó, ngày 16.1.1974, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16) do Hải quân trung tá Lê Văn Thự làm hạm trưởng đã có mặt tại quần đảo Hoàng Sa. HQ-4 tiến gần đảo Quang Ảnh (Money Island), còi tác chiến vang lên. Tất cả thủy thủ đoàn đã sẵn sàng ở vị trí chiến đấu.  


Hải chiến Hoàng Sa qua hồi ức một cựu quân nhân - Kỳ 2
Tàu HQ-4 mà ông Lữ Công Bảy từng làm hạ sĩ quan giám lộ
- Ảnh: Tư liệu

Lúc 14 giờ, trung đội Biệt hải đã đổ bộ lên rìa đảo an toàn và lệnh tiến sâu vào đảo lục soát. Báo cáo từ toán quân gửi về không phát hiện được gì ngoài vài nấm mộ hình như mới đắp. Đầu mộ không có bia đá, chỉ có cọc gỗ và bảng gỗ có bằng chữ Tàu ghi ngày sinh và ngày chết từ rất lâu, hàng mấy chục năm trước.
Các chiến sĩ Biệt hải được lệnh đào bới các nấm mộ lên thì bất ngờ vì dưới mộ chẳng thấy xương cốt gì cả. Giả thiết cho rằng đây là mộ ngụy tạo mà ai đó đã cố ý dựng lên để chứng tỏ người Trung Quốc đã từng sống trên đảo này. Lúc 16 giờ 30 phút, trung đội Biệt hải được lệnh rút về tàu. Đến xế chiều, từ phòng tác chiến báo cáo lên Đài chỉ huy, qua hệ thống ra đa tầm xa đã phát hiện hai mục tiêu trên biển đang di chuyển đến quần đảo Hoàng Sa. Từ nóc đài chỉ huy, các bộ phận quan sát bằng ống nhòm đã nhìn thấy hai tàu chiến lạ. Trung tâm tác chiến được lệnh theo dõi và báo cáo thường xuyên mọi hoạt động, hướng đi và khoảng cách của hai tàu trên.
Đêm 17 rạng ngày 18.1 là một đêm cực kỳ căng thẳng. Còi nhiệm sở tác chiến báo động suốt đêm. Tàu chiến và tàu đánh cá Trung Quốc cố tình khiêu khích tiến sâu vào lãnh hải Hoàng Sa. HQ-4 và HQ-16 dùng tín hiệu cảnh báo, tàu chiến Trung Quốc dùng tín hiệu đèn đáp trả nội dung bằng tiếng Anh được dịch như sau:
HQ-4: Đây là lãnh hải của Việt Nam Cộng Hòa yêu cầu các anh hãy rời khỏi đây ngay!
Trung Quốc: Từ ngàn xưa mọi người đều biết đây là lãnh hải của Cộng hòa Nhân dân Trung hoa, yêu cầu các anh hãy rời khỏi đây!
HQ-4: Từ 1802, vua Gia Long đã xác nhận chủ quyền quần đảo là của Việt Nam, yêu cầu các anh phải rời khỏi đây ngay!
Phía Trung Quốc vẫn đáp trả như câu trước. Trước thái độ ngoan cố và khiêu khích, anh em ngành giám lộ chúng tôi phải căng mắt suốt đêm nhận tín hiệu và đáp trả với tàu chiến Trung Quốc vì đó là nhiệm vụ của ngành chúng tôi. Cuối cùng tàu chiến và tàu đánh cá Trung Quốc cũng rút lui.

Ngày N+2: Chuẩn bị nổ súng
Sáng 18.1, HQ-4 tiến về đảo Robert (Hữu Nhật). Lúc 8 giờ, Trung đội Biệt hải được lệnh đổ bộ lên đảo. Sau khi đổ bộ và lục soát chỉ phát hiện được những nấm mộ mới đắp không hài cốt như ở đảo Quang Ảnh. 

Hải chiến Hoàng Sa qua hồi ức một cựu quân nhân - Kỳ 3
Trong một hành động có tính khiêu khích, tàu cá vũ trang của Trung Quốc chắn ngang mũi tàu chiến của Việt Nam Cộng Hòa - Ảnh: Tư liệu
Đến 11 giờ, đài khí tượng đồn trú tại đảo Hoàng Sa báo cáo có hai tàu đánh cá mang cờ Trung Quốc xâm nhập và tiến gần đến đảo Hoàng Sa (Pattle).
HQ-4 và HQ-16 được lệnh tiến về đảo Hoàng Sa. Khi tiến đến gần 2 tàu đánh cá vũ trang của Trung Quốc, HQ-4 dùng tín hiệu cảnh báo và đuổi đi nhưng cả hai tàu đánh cá cố tình khiêu khích đi sâu vào bãi san hô. Từ đài chỉ huy, bộ phận quan sát phát hiện san hô lấp lánh dưới đáy tàu và từ trung tâm tác chiến báo liên tục báo cáo độ sâu đáy tàu.
HQ-4 tiến đến gần, một tàu đánh cá Trung Quốc có ký hiệu 407, trên tàu có khoảng 30 thuyền viên mặc đồng phục màu xanh dương đậm, tàu được trang bị 2 thượng liên (một đằng trước mũi và một đằng xa lái tàu) ngoài ra còn có rất nhiều AK-47. HQ-4 áp sát mạn tàu đánh cá, xua đuổi. Hai bên đánh nhau bằng võ mồm.
Thấy không tác dụng, HQ-4 dùng mũi tàu ủi thẳng vào phòng lái tàu đánh cá. Mũi HQ-4 và neo mũi vướng vào cửa và hành lang phòng lái làm gãy hành lang và cong cửa phòng lái. Trước thái độ cương quyết của ta, địch vội vàng tháo lui. HQ-16 cũng quyết liệt săn đuổi tàu đánh cá còn lại.
Lúc 11 giờ 30 ngày 18.1, tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) do Hải quân trung tá Phạm Trọng Quỳnh làm hạm trưởng. Cùng ra theo tàu có Hải quân đại tá Hà Văn Ngạc, chỉ huy truởng Hải đội 1 Tuần dương và hộ tống ra thay mặt Tư lênh Hạm đội chỉ huy lực lượng bảo vệ Hoàng Sa. Cùng ra theo tàu có một trung đội người nhái (lực lượng đặc biệt của Hải quân).
Chiều 18.1, lúc 15 giờ 30, theo lệnh đại tá Ngạc, 3 chiến hạm sắp đội hình hàng dọc tiến thẳng về đảo Drummond (Duy Mộng).
Lúc 16 giờ, hai tàu Trung Quốc mang ký hiệu 271 và 274 cố tình khiêu khích cắt đường ngang mũi HQ-4 và HQ-16. Đội hình bị chia cắt không thể tiến lên được, vị trí các tàu rất gần nhau, các khẩu đại bác sẵn sàng nhả đạn nhưng không ai được lệnh nổ súng. Không tiến lên được, tàu được lệnh quay về nhóm đảo Hoàng Sa.
Chiều 18.1, lúc 17 giờ 30, tiểu đội thủy thủ tàu HQ-4 và tiểu đội thủy thủ tàu HQ-16 được thành lập. Tiểu đội HQ-4 do trung úy Dũng chỉ huy được lệnh đổ bộ lên đảo Quang Ảnh, được trang bị một khẩu đại liên 30, 10 AR-15, một máy bộ đàm PRC-25, trong đó có trung sĩ giám lộ Lâm cầm la bàn và hải đồ cùng bản đồ UTM. Trung đội Biệt hải được lệnh rút về HQ-4.
Đêm 18.1 rạng ngày 19.1, vẫn tình trạng tàu chiến Trung Quốc và tàu đánh cá vũ trang khiêu khích tiến đến gần đảo Hoàng Sa tiếp tục xảy ra. Tín hiệu bằng đèn vẫn tiếp tục chuyển và nhận. Những tín hiệu vẫn lặp lại như đêm hôm trước, tình hình căng thẳng và kéo dài. HQ-4 phải dùng còi hơi thật to và đèn hồ quang trên nóc đài chỉ huy rọi thẳng vào đội hình tàu Trung Quốc. Khi tàu Trung Quốc rút lui về hướng bắc thì tình hình mới dịu đi.
Đêm Hoàng Sa, bầu trời không ánh trăng sao, trời tối đen như mực (nhằm 26 tháng chạp Quý Sửu). Tất cả 3 tàu đều được lệnh trong thư thế ZEBRA (không để lọt ánh sáng ra ngoài). Nửa đêm, hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10 do Hải quân thiếu tá Ngụy Văn Thà làm hạm trưởng ra đến đảo, tăng cường cho lực lượng bảo vệ Hoàng Sa.
Ngoài ra, trong một công điện hỏa tốc chuyển về Đề đốc tư lệnh Trần Văn Chơn, một lực lượng hùng hậu của Hải quân Việt Nam đang trên đường trực chỉ Hoàng Sa. Lúc 2 giờ sáng 19.1, HQ-4 và HQ-5 được lệnh quay về Đà Nẵng để đánh lạc hướng theo dõi của ra-đa tàu địch.
Cách Hoàng Sa 25 hải lý, hai tàu ngoặt về phía nam, vòng ra ngoài và hướng về phía đông nam đảo Duncan (Quang Hòa). Khoảng 5 giờ sáng, HQ-16 và HQ-10 được lệnh hướng về đảo Quang Hòa từ mặt tây bắc để thu hút tàu địch.
 

Ngày N+3: Những giây phút chưa từng có

Khoảng 3 giờ sáng 19.1, khi khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) và tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) được lệnh hành quân tiến về đảo Quang Hòa (Duncan), như đã tiên đoán việc xảy ra rất quan trọng nên Hạm trưởng San ra lệnh cho tôi kéo lên đỉnh cột cờ lá chiến kỳ (còn gọi là phương kỳ), lá chiến kỳ số 1 ngang 20 cm và dài 15 m; đồng thời ông cũng ra lệnh cho các vị trí chiến đấu sẵn sàng cho trận hải chiến chủ yếu như sau:

 

- Giày không được cột dây.
- Ống quần túm vào vớ.
- Mặc áo phao loại trùm vào cổ có bình nén khí + đèn pin để khi nhảy xuống biển thì giựt dây bình nén, khí sẽ tự bơm phao phồng lên, nâng đầu và ngực nổi lên mặt nước, đèn pin tự động sáng.
- Tất cả đều phải mặc áo giáp chống đạn.
Hạm phó Nguyễn Thành Sắc và thượng sĩ nhất Trần Dục (cựu Quản đội trưởng) và thượng sĩ nhất giám lộ Ry (Quản đội trưởng) được lệnh đi kiểm tra từng vị trí chiến đấu. Mờ sáng 5 giờ, tôi và trung sĩ nhất giám lộ Khiết đứng sau đài chỉ huy nơi sân cờ, nhìn lên đỉnh cột cờ ngoài lá quốc kỳ kèm theo lá chiến kỳ bay phập phồng trong gió sớm, phía sau là tuần dương hạm HQ-5 đang rẽ sóng, cả hai tàu đã chạy hết tốc lực để đến điểm đổ bộ theo lệnh hành quân.
Lúc 6 giờ sáng, HQ-4 đã tiến sát đảo Quang Hòa, khi gần đến đảo, bằng ống nhòm và mắt thường từ đài chỉ huy đã phát hiện doanh trại và cột cờ có cờ Trung Quốc. Trước đây hơn một tháng, HQ-4 trong một chuyến khảo sát quần đảo Hoàng Sa, đội khảo sát do đại úy Diên và trung sĩ nhất giám lộ Khiết đã lên đảo nhưng không phát hiện gì ngoài chai lọ trôi tấp lên bờ cát. Trên đài chỉ huy, Hạm trưởng San đến bàn hải đồ chấm tọa độ để đổ bộ và lệnh cho chúng tôi xác định vị trí chính xác nhất báo cáo cho Hạm trưởng.
Trung úy Roa xác định bằng ra đa, tôi và trung sĩ nhất giám lộ Khiết xác định chấm tọa độ bằng các đối vật trên biển, khi đến điểm đổ quân, chúng tôi báo cáo ngay cho Hạm trưởng. Ông ra lệnh ngưng máy và lùi máy hết tốc độ để giảm đà tiến của tàu, đồng thời ông khẩn cấp ra lệnh cho lực lượng Biệt hải rời tàu xuống 3 xuồng cao su có gắn máy 40 mã lực.
Khoảng 10 phút sau, lực lượng Biệt hải đã đổ lên đảo (mặt đông nam) rất nhanh, bên trong đảo rất im lìm, trên tàu mọi cặp mắt, mọi ống nhòm đều nhìn trên đảo, bất cứ chuyển động nào trên đảo đều được báo cáo cho Hạm trưởng. Cờ được cắm lên bờ cát và hốc đá, lực lượng tiếp tục tiến vào bên trong đảo.
Giữa lúc đó, lực lượng người nhái vẫn còn ngoài xa, chưa vào được vì HQ-5 không vào sát bờ. Ở rìa tây nam đảo, gió mùa đông bắc thổi khá mạnh, các xuồng cao su bị sóng gió giạt không vào bờ được. HQ-5 phải thả xuồng cứu hộ xuống để kéo các xuồng cao su vào bờ, lúc đó đã gần 8 giờ.
Từ đài chỉ huy, bộ phận quan sát đã phát hiện một lực lượng gồm 4 tàu địch (chủ yếu là tàu đánh cá và tàu công trình) tiến nhanh và đã đổ bộ một đội quân đông đảo lên phía bắc đảo. Hàng trăm quân đổ bộ vào đảo rất nhanh vì xuôi gió, những báo cáo bất lợi dồn dập gởi về đài chỉ huy HQ-4. Lực lượng Biệt hải khẩn trương báo cáo đang đối mặt với lực lượng địch. Cả hai phía dùng tay xua đuổi nhau, một số đông đối phương đang núp sau các tảng đá, chĩa mũi súng vào đội hình Biệt hải.
Trên mặt biển đã thấy HQ-16 và HQ-10 đang tiến về rìa tây nam đảo, theo sau là hai tàu chiến Trung Quốc đang tiến vào đội hình ta. Phía bắc, tàu đánh cá ngụy trang đang tiếp tục đổ người lên đảo. Tình hình hết sức căng thẳng khi từ đông bắc đảo Quang Hòa, hai tàu địch rẽ sóng tiến thẳng về phía khu trục hạm Trần Khánh Dư. Lúc bấy giờ lực lượng người nhái đã vào được rìa tây nam đảo, nhưng từ đó muốn vào bên trong đảo phải lội qua đầm nước cạn hoặc phải đi vòng qua hướng đông nam nơi lực lượng Biệt hải đã đổ lên.
Từ đài chỉ huy HQ-4, tôi thấy lực lượng người nhái phải lội qua đầm nước; có nơi nước đến tận thắt lưng nên lực lượng người nhái tiến vào rất chậm chạp mà phía bắc đảo địch đã đổ quân lên đông như kiến. Lúc bấy giờ, thời tiết cuối năm rất lạnh, chúng tôi bị bí tiểu mà không dám rời vị trí chiến đấu. Đến khi chịu hết xiết thì mới chạy xuống phòng vệ sinh; mà đi cũng rất khó khăn vì trên người lỉnh kỉnh nào áo phao, áo lạnh, áo giáp, nón sắt, giày không cột dây. Đi ngang qua các phòng trông rất vắng lặng, mọi người phải giải quyết thật nhanh rồi ba chân bốn cẳng chạy lên đài chỉ huy.
Tình hình trên đảo lúc bấy giờ đang rất căng thẳng, lực lượng Biệt hải đang đối mặt với địch, chỉ huy Biệt hải xin lệnh nổ súng. Hạm trưởng San (chỉ huy trưởng phân đội 1 gồm HQ-4 và HQ-5) hỏi lực lượng Biệt hải nếu nổ súng thì sao? Lực lượng Biệt hải báo cáo: “Nếu nổ súng thì cả trung đội Biệt hải sẽ bị tiêu diệt vì lực lượng ta quá ít mà địch thì rất đông lại núp sau các công sự phòng thủ và các phiến đá; còn ta thì đang ở ngoài trời, sử dụng súng cá nhân không giải quyết được chiến trường, chỉ có thể sử dụng lựu đạn để công phá các ổ kháng cự. Sau một hồi cân nhắc, Hạm trưởng San quyết định rút toàn bộ lực lượng Biệt hải và lực lượng người nhái về tàu.
Khi Biệt hải đã về HQ-4 an toàn thì lực lượng người nhái vẫn còn lội bì bõm trong đầm nước cạn. Đến 8 giờ 30 sáng, một loạt đạn thượng liên và cối 82 bắn vào đội hình người nhái, một sĩ quan tử thương và ba bị thương. Tình hình hết sức căng thẳng. Ban chỉ huy mặt trận không thể ra lệnh nổ súng vì lực lượng người nhái đang ở vị trí cực kỳ nguy hiểm.
Chúng tôi chứng kiến đội hình người nhái thấy hết sức đau lòng. Lệnh rút nhanh ra rìa đảo nhưng họ không thể bỏ lại các đồng đội, một số chiến sĩ quay lại tìm xác đồng đội kéo lên và dìu ra rìa đảo.
Đến 9 giờ 15, lực lượng người nhái mới ra được HQ-4 (vì HQ-4 đang ở rất gần đảo) và một số về được HQ-5.
Giờ đây, sát bên HQ-4 là hai tàu chiến Trung Quốc mang số hiệu 274 và 271 sơn màu xám đen trang bị đại bác 85 ly và nhiều súng 37 ly. Các khẩu súng đang chĩa thẳng vào HQ-4. Các tín hiệu bằng đèn hiệu được liên tục chuyển đến HQ-4. Chúng tôi được lệnh từ Hạm trưởng San nhận những tín hiệu từ tàu Trung Quốc.
Sau khi nhận xong bằng tiếng Anh, chúng tôi trình cho Hạm trưởng San, Hạm trưởng San đưa sang trung úy Minh dịch. Trung úy Minh rất giỏi Anh ngữ, vừa thực tập trên Hạm đội 7 về, xuống tàu với chức danh trưởng ngành hải pháo. Trung úy Minh xem xong trình với Hạm trưởng San, nói là địch khiêu khích ta bằng câu: "Chúng ta hãy làm những gì mà người quân nhân chúng ta phải làm". Hạm trưởng San nghe xong ông tức tối, đỏ mặt quát tháo ầm ĩ và đưa nắm đấm sang hướng tàu địch tỏ vẻ căm giận. Ông ra lệnh cho chúng tôi không nhận tín hiệu nữa và thốt lên: "Bọn bố láo".
Hai tàu của địch lúc nào cũng bám sát khu trục hạm Trần Khánh Dư vì đó là mục tiêu tiêu diệt hàng đầu của địch. Về mặt lý thuyết, HQ-4 là chiến hạm rất tối tân, ngoài vũ khí thông thường chiến hạm còn được trang bị:
- Một giàn ra đa không thám có khả năng phát hiện phi cơ địch từ khoảng cách 100 km.
- Hai giàn torpedo (phóng ngư lôi) chống tàu mặt nước.
- Một hệ thống sonar dò tàu ngầm.
- Một giàn depth charge sau lái thả những thùng thuốc nổ để tiêu diệt tàu ngầm.
- Hai dàn hedgehog (phóng thủy lựu đạn) chống tàu ngầm.
Tuy nhiên, thực tế thì các hệ thống này đều không có đạn. Tàu có ưu điểm chạy rất nhanh (vận tốc có thể lên đến 42 km/giờ). Các khẩu đại bác 76 ly 2 đều bắn bằng hệ thống viễn khiển, một xạ thủ chỉ cần nhìn vào màn hình chỉnh mục tiêu và bóp cò. Hệ thống tiếp đạn dây chuyền bằng điện rất nhanh và liên tục. Các khẩu BKP (bích kích pháo 81 ly bắn trực xạ); các đại bác 20 ly đạn dây để chống phi cơ.
Trong thời gian này, những thông tin liên lạc giữa Hoàng Sa và Đà Nẵng dù rất gần (170 hải lý) nhưng không thể thực hiện được. Tần số liên lạc bị phá rối, trên hệ thống máy bộ đàm chỉ nghe toàn tiếng Hoa. Trong khi đó, Tư lệnh Hải quân đang ở Đà Nẵng, tất cả lệnh từ Đà Nẵng đều phải chuyển vào Sài Gòn, từ Sài Gòn mới chuyển ra Hoàng Sa.
Tư lệnh Hải quân Vùng I Duyên hải - Phó đề đốc Hải quân Hồ Văn Kỳ Thoại - quyết định giao quyền cho Đại tá Ngạc. Khoảng 9 giờ 50, tàu địch 271 tiến đến rất gần HQ-4. Thình lình một loạt đạn đại liên trên nóc đài chỉ huy nổ vang. Toàn bộ đài chỉ huy không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Hạm trưởng San từ đài chỉ huy chạy ra hành lang bên trái hét to: "Im ngay, ngưng ngay, bọn chúng nổ súng thì chết hết!".
Có lẽ địch nghĩ loạt đạn này chỉ nhằm cảnh báo không cho tàu đến gần (vì không có tiếng đại bác nên tàu địch vọt ra xa mà không bắn trả). Sau đó Đại tá Ngạc ra lệnh chuyển bốn tàu theo đội hình hàng dọc (Formation-one) theo tín hiệu cờ của khối Minh ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) để giữ bí mật. Đến khi tín hiệu cờ chuyển sang đội hình hàng ngang (Formation-two) thì tất cả các khẩu đại bác đều hướng lên đảo. Khi nhận lệnh bắn thì tất cả khai hỏa lên đảo dọn đường lập đầu cầu để Biệt hải và người nhái đổ bộ lên đảo chiếm lại đảo.
Hạm trưởng San tức tối liệng tổ hợp nghe xuống sàn đài chỉ huy chiến hạm. Ông phân bua với thuộc cấp trên đài chỉ huy: "Mấy thằng kia nó để cho mình yên à".
Trước khi chuẩn bị nổ súng, Đại tá Ngạc hỏi ý kiến từng hạm trưởng. Đến khi hỏi ý kiến Hạm trưởng San, ông San gằn từng tiếng trong bộ đàm: "Báo cáo, tôi là quân nhân, tôi chấp hành quân lệnh nhưng hiện nước cờ đã bị lộ, không còn yếu tố bất ngờ. Muốn đổ bộ lên chiếm đảo trước mắt phải tiêu diệt lực lượng trên biển rồi sau đó mới tính đến việc đổ quân. Hiện nay tàu địch gấp đôi tàu ta, quân địch đã đổ bộ từ sáng tới giờ đầy trên đảo, ta chỉ có hai trung đội thì làm sao thành công được”.
Ông nói tiếp: "Tôi là quân nhân, tôi chấp nhận hy sinh vì Tổ quốc nhưng chuyện này hết sức vô lý". Rồi ông cúp máy và ra lệnh: "Tất cả các khẩu súng nhắm thẳng vào tàu địch". Ông quyết định không chấp hành lệnh bắn vào bờ.
Thời gian từ 10 giờ 10 đến 10 giờ 20, các chiến hạm vận chuyển chiến thuật theo lệnh bằng hiệu kỳ phát ra từ soái hạm HQ-5. Phía Việt Nam Cộng Hòa không ra lệnh bằng bộ đàm để giữ bí mật mà dùng tín hiệu bằng cờ của khối NATO. Lúc bấy giờ các ống nhòm trên đài chỉ huy đều tập trung cho ngành giám lộ. Tôi và thượng sĩ nhất giám lộ Ry cùng trung sĩ nhất giám lộ Khiết mỗi người một ống nhòm nhìn chăm chú vào soái hạm HQ-5.
Khi thấy tại cột cờ HQ-5 hai lá cờ Formation-one (đội hình số 1 - hàng dọc) được kéo lên chúng tôi báo cáo cho Hạm trưởng San để ông điều động tàu đúng đội hình, đồng thời chúng tôi cũng lệnh cho nhân viên giám lộ kéo lên hai lá cờ formation-one để xác nhận đã nhận được tín hiệu và đang thi hành mệnh lệnh. Đến khoảng 10 giờ 18, từ HQ-5 hai lá cờ Formation-one được kéo xuống, lập tức chúng tôi cũng kéo xuống.
Ngay khi ấy, từ bên soái hạm, hai lá cờ Formation-two được kéo lên. Chúng tôi báo cho Hạm trưởng và kéo lên hai lá cờ Formation-two để xác nhận đã nhận được tín hiệu và đang thi hành mệnh lệnh. Lập tức các chiến hạm chuyển sang đội hình số 2 (đội hình hàng ngang). 
 

Tử chiến

Đúng 10 giờ 20, bốn chiến hạm được lệnh đồng loạt khai hỏa. Như đã chuẩn bị trước, Hạm trưởng San ra lệnh "bắn", đồng thời ông cũng ra lệnh (lúc đó máy tàu đang ở vị trí stop) hai máy tiến full (bỏ qua thông lệ tiến 1, tiến 2, tiến 3); hết tay lái sang phải. Chiến hạm chồm lên phía trước và nghiêng mình sang phải nên đã tránh được loạt đại bác đầu tiên của địch.  

Chiến hạm di chuyển với tốc độ cực nhanh, khói đen bốc lên ngùn ngụt, thân tàu rung lên bần bật vì tiếng dội của các khẩu đại bác vừa khai hỏa. Hạm trưởng San ra lệnh hai máy tiến blanch hết tay lái sang trái, chiến hạm chạy uốn lượn như con rắn, hết phải rồi hết trái tránh được đạn đại bác của địch. Đạn nổ, âm thanh hỗn độn, các cột nước bốc lên chung quanh tàu, tiếng đạn rít lên sau thân tàu, trước mũi tàu, mạn trái, mạn phải ù... vèo vèo... ầm.
Một viên đại bác 85 ly trúng ống khói sát sàn tàu. Khói đen mù mịt bao phủ sàn tàu và thân tàu, hệ thống quạt hút và quạt thổi hư hỏng hoàn toàn. Trên đài chỉ huy, Hạm trưởng San vừa chạy nhìn bên trái rồi chạy vào bên trong đài chỉ huy để ra lệnh cho tổ lái. Lúc đó tàu ta và tàu địch đan xen nhau. Vì tàu quay hết sang phải rồi sang trái nên có khi thấy tàu địch bên mạn trái lại có khi thấy tàu địch bên mạn phải. Hạm trưởng San chạy đi đâu thì thượng sĩ nhất giám lộ Ry chạy theo đó để ghi nhật ký tác chiến.

 Chúng tôi cũng di chuyển liên tục. Một mảnh đạn văng trúng đài chỉ huy. Mảnh đạn văng ra trúng chân trung úy Roa đang cố gắng theo dõi tàu địch qua màn hình ra đa. Chân màn hình ra đa cũng bị trúng đạn nên ra đa bị sụp (hư hỏng). Sĩ quan hải pháo - trung úy Long - đang liên lạc với các khẩu đội pháo thì dây nghe bị mảnh đạn cắt đứt nên không liên lạc được. Thượng sĩ nhất Ry trúng mảnh đạn nơi cánh tay trái, hạ sĩ giám lộ Phấn, xạ thủ đại liên 30 trên nóc đài chỉ huy bị thương nơi ngực, máu thấm đỏ áo. Tiếng la ơi ới của các nơi bị thương vong dồn dập báo lên đài chỉ huy qua hệ thống bộ đàm.
Chiến hạm vẫn vững vàng trong chiến đấu. Đài quan sát trên nóc đài chỉ huy báo cáo có 2 tàu địch đang bám theo. Tôi nhìn ra sau thì mạn phải HQ-5 cắt đuôi HQ-4 phóng thẳng vào 2 tàu địch. Những khối cầu lửa từ mũi HQ-5 bắn ra (đại bác 127 ly) những viên đạn đen thui bay thẳng vào tàu  địch. Lập tức HQ-4 vòng lại để cùng HQ-5 đối đầu trực diện với địch. Tàu địch bên trái bị trúng đạn nổ tung. Chiếc phải trúng nhiều loạt đạn đổi hướng quay ngang lủi vào bờ và trúng hàng loạt đạn từ HQ-4 bắn ra.
Lúc này không thấy một tàu địch nào bám theo, cũng không thấy HQ-16 và HQ-10. HQ-5 cho biết ụ tháp đại bác 127 ly trúng đạn, có 3 quân nhân tử thương, 2 bị thương nặng. HQ-5 đang quay đầu về hướng nam. HQ-4 liên lạc mãi với HQ-10 và HQ-16 không được.
Thật ra, ngay từ loạt đạn đầu tiên HQ-10 đã bị loại khỏi vòng chiến vì HQ-10 nhỏ, cũ kỹ, chỉ còn lại một máy, các khẩu đại bác xoay trở bằng tay nên bị trúng liền 2 quả 85 ly từ tàu địch. Trong bộ đàm tôi đã nghe thấy tiếng bạn tôi là trung sĩ nhất giám lộ Vương Thương báo cáo tàu đã bị trúng đạn, Hạm trưởng Thà đứt đầu, Hạm phó Trí bị thương nơi bụng. Sĩ quan, hạ sĩ quan và thủy thủ trên đài chỉ huy đều tử thương và bị thương. Riêng anh thì bị mảnh đạn cắt ngang hông trái vùng thắt lưng, máu ra nhiều nhưng vẫn còn tỉnh táo báo về soái hạm HQ-5.
HQ-10 phải đào thoát (anh cùng 23 quân nhân xuống được bè cứu sinh) và sau 2 ngày đêm bè được một thương thuyền Hà Lan cứu đưa về Đà Nẵng nhưng anh đã chết trên bè vì máu ra nhiều, loang vào nước biển không phát hiện. Anh ra đi trước ngày tổ chức làm đám cưới. Lẽ ra anh đã được đi phép cưới vợ, giấy phép đã cầm trên tay nhưng Hạm trưởng Thà động viên anh ở lại do anh đã quá rành vùng quần đảo Hoàng Sa. Anh như sói biển 12 năm liên tục từ hộ tống hạm Kỳ Hòa (HQ-9) chung đơn vị với tôi 1968-1970, đi lãnh HQ-4 ở Honolulu (Hawail) rồi về HQ-10 với chức danh hạ sĩ quan phụ tá trưởng nghành giám lộ. Anh theo tàu ra Hoàng Sa như ăn cơm bữa. Dọc miền duyên hải Việt Nam, nơi nào cũng lưu dấu bước chân anh. Nay vì nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc anh sẵn sàng, giờ thì anh đã ra đi, bỏ lại người vợ chưa kịp cưới nơi cố đô Huế.
HQ-16 trúng đạn gãy cột an-ten, mất hẳn liên lạc và trúng nhiều đạn nơi hầm máy, đã cố gắng rời khỏi chiến trận. HQ-10 lẻ loi nằm lại một mình nơi biển đảo. Sau 30 phút chiến đấu kiên cường, HQ-4 nhờ sự chỉ huy sáng suốt của Hạm trưởng San tổn thất ba quân nhân: một sĩ quan, một hạ sĩ và một binh sĩ Biệt hải tên Vượng bị trúng đạn tử thương nơi sân giữa. Thiếu úy Xá là khẩu đội trưởng khẩu đội đại bác 20 ly nơi boong giữa. Viên đạn đại bác 85 ly bắn hụt đài chỉ huy nhằm trúng ống khói tàu, mảnh đạn văng cắt đứt cuống họng thiếu úy Xá. Hạ sĩ vận chuyển Danh lúc bấy giờ đang ở hầm đại bác 76 ly 2 phía sau, mảnh đạn xuyên vách hầm trúng ngực lủng phổi trái, bị thương. Trung úy Vân bị trúng đạn gãy chân và hơn 10 người bị thương nặng nhẹ.
HQ-5 quay đầu về hướng nam, các khẩu đội đều có vấn đề. Sau hơn 1 giờ không còn thấy HQ-5 ở đâu. Giờ đây trên biển chỉ còn HQ-4 lẻ loi một mình, lúc bấy giờ tôi cũng không xác định được vị trí tàu vì xung quanh là biển bao la, không có một đối vật nào làm điểm tựa để xác định vị trí. Sau một hồi hội ý, anh em ngành giám lộ chúng tôi phỏng đoán theo hướng chạy và vận tốc tàu từ lúc nổ súng đến giờ, rồi trình cho Hạm trưởng một vị trí phỏng định đó là vị trí tương đối gần đảo Tri Tôn phía tây nam quần đảo Hoàng Sa. Hạm trưởng San lệnh cho chúng tôi vẽ đường hướng thẳng về đảo Tri Tôn. Đúng như dự đoán, vào lúc 13 giờ 40, ra đa đã phát hiện đảo Tri Tôn. Ngay sau đó, vị trí tàu được xác định và từ vị trí đó Hạm trưởng San vẽ một đường trực chỉ về Đà Nẵng. 


Ngày về buồn bã

Bấy giờ nhiệm sở tác chiến đã giải tán từ lâu nhưng tới giờ tôi mới rời được đài chỉ huy. Trên hành lang xuống nơi nghỉ ngơi, tôi chứng kiến một sự nhớp nhúa kinh hoàng sau chiến trận. Do hệ thống quạt hút và quạt thổi bị trúng đạn hư hỏng hoàn toàn nên hành lang bên dưới tàu nóng hầm hập, tanh đến ngộp thở: mùi máu, mùi cồn, bông băng nhuộm máu…


Hải chiến Hoàng Sa qua hồi ức một cựu quân nhân - Kỳ 6
Tàu HQ-16 trong ngày trở về sau Hải chiến Hoàng Sa - Ảnh: Tư liệu 

Mấy ngày liền không có thời gian thu dọn, hơn 180 thủy thủ đoàn bám chặt nơi vị trí chiến đấu, giờ mọi người đều mệt mỏi, nằm đâu ngủ đó.
Không cơm, các chiến sĩ chỉ cầm hơi qua ngày với mì gói, lương khô và nước ngọt. Các chiến sĩ Biệt hải mệt mỏi nằm rải rác trên hành lang phòng ăn. Ở phòng y tế, các chiến sĩ người nhái nằm la liệt, một chiến sĩ bị đạn bắn thủng cằm từ trái qua phải, mặt sưng vù, ngồi bất động, máu không còn chảy ra nữa nhưng từ khóe miệng những vệt máu lẫn nước bọt vẫn rỉ ra. 
 Hạ sĩ Danh nằm thoi thóp trên băng ca, ngực anh đầy bông băng nhuốm máu, hơi thở khó khăn, tôi rờ lên trán anh nóng hổi, hỏi anh có khỏe không? Anh mở mắt ra rồi gật đầu, không có bác sĩ để phẫu thuật anh đành chịu lịm dần đến 4 giờ sáng ngày 20.1 thì tắt thở.
Xác thiếu úy Xá nằm trên băng ca ở trung tâm phòng tai. Cả người ông được đắp một tấm drap trắng toát. Tôi kéo tấm drap, buồn bã nhìn lần cuối cùng khuôn mặt người đồng đội mình.
Khoảng 16 giờ 30, tôi đang ở trong giấc ngủ sâu, mấy hôm rồi không chợp mắt, ngồi đâu ngủ đó thì còi tập hợp vang lên, tất cả thủy thủ đoàn tập trung đầy đủ nơi sân lái. Đại úy Diên và thượng sĩ 1 giám lộ Ry (quản nội trưởng) thông báo: “Tất cả chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, tàu sẽ quay lại Hoàng Sa, nếu cần sẽ ủi thẳng lên bờ đảo Hoàng Sa chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để giữ đảo”, rồi ông ra lệnh giải tán.
Nhìn sau lái tàu tôi thấy vệt nước đã quay sang phải 90 độ. Tôi biết tàu đang hướng thẳng về Hoàng Sa. Tất cả không ai nói với ai một lời nào và đâu đó trong thủy thủ đoàn một câu nói được thốt ra: “Dù sao đánh nhau với Trung Cộng nếu có chết cũng vinh quang hơn là đánh nhau với Việt Cộng.”
Trên đường lên đài chỉ huy, trên boong tàu, xạ thủ các khẩu đội pháo đều ráo riết thông nòng súng chuẩn bị đạn sẵn sàng cho một trận tử chiến.
Lên đến đài chỉ huy, vì quá mệt mỏi nên chẳng nghe đến lời báo cáo của Hạm trưởng về Bộ tư lệnh Hải quân Vùng I Duyên hải, tôi vào phòng hải đồ phía sau đài chỉ huy mệt lả và thiếp đi. Đến khi thức dậy thì trời đã tối hẳn, trung sĩ nhất giám lộ Khiết cho tôi biết mình đang quay đầu về Đà Nẵng. Anh nói Hạm trưởng San đã báo cáo thẳng với Tư lệnh Hải quân về việc HQ-4 không còn khả năng chiến đấu, lương thực cạn, cơ số đạn không đủ để tác chiến, các khẩu đại bác đều trở ngại tác xạ.
Lúc bấy giờ, còi báo động lại vang lên, tin tức từ trung tâm hành quân (hệ thống ra đa, hệ thống tác chiến báo sau khi được sửa chữa đã trở lại hoạt động bình thường) cho biết địch đang triển khai đội hình với sự yểm trợ của phi cơ và các tàu cao tốc được trang bị hỏa tiễn Styx (tức P-15 Termit - TNO). Trung tâm tác chiến báo được lệnh làm việc tích cực hơn, ra đa hoạt động với tần suất cao, tất cả các khẩu súng đều chĩa hẳn lên bầu trời. Chúng tôi được gấp rút trang bị mỗi người một khẩu M16, các chiến sĩ Biệt hải và người nhái đều lên boong tàu sẵn sàng chiến đấu. Thời gian lặng lẽ trôi qua.
Hải chiến Hoàng Sa qua hồi ức một cựu quân nhân - Kỳ 61
Hạm trưởng Ngụy Văn Thà cùng con tàu HQ-10 đã nằm lại giữa biển khơi - Ảnh: Tư liệu
Trong tập hồ sơ tối mật mà ngành giám lộ lưu giữ, có hình ảnh rõ ràng do hải quân Mỹ cung cấp về lực lượng hải quân Trung Quốc. Một số chiến hạm hiện đại của hải quân Trung Quốc được Liên Xô trang bị, trong đó có Komar là tàu cao tốc hạng nhẹ có tốc độ 35 hải lý/giờ, được trang bị hai giàn hỏa tiễn Styx.
Trong cuộc chiến Sáu ngày ở Trung Đông 1967, trong một trận hải chiến giữa hải quân Do Thái và hải quân Ai Cập tại vùng biển Địa Trung Hải, hai tàu Komar đã đánh chìm khu trục hạm INS Eilat tối tân của Do Thái. Ngoài ra, hải quân Trung Quốc còn có một số xuồng cao tốc tên lửa tối tân hơn là Osa (trang bị 4 gàn tên lửa hải đối hải Styx, có căn cứ tại Hải Nam và đảo Phú Lâm (thuộc cụm An Vĩnh của quần đảo Hoàng Sa).
Lúc 5 giờ 30 sáng 20.1, HQ-4 về đến cảng Tiên Sa. Hạm trưởng San lệnh cho tôi chuẩn bị đem máy thu âm kết nối vào các loa phóng thanh trên tàu. Khi cập cảng xong, loa phát ra bài “Chiến thắng Vân Đồn”. Bài hùng ca ca ngợi danh tướng Trần Khánh Dư trong trận hải chiến với quân Nguyên Mông, đập tan đoàn tàu tiếp tế lương thảo của đạo thủy quân do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy trong trận Vân Đồn. Anh em chúng tôi sau mấy ngày chiến đấu chịu lạnh giá bởi thời tiết mùa đông (hôm đó đã là ngày 28 tháng Chạp âm lịch), đói khát, mệt mỏi nhưng khi nghe bản hùng ca vang lên từ hệ thống loa phóng thanh thì cũng cảm thấy tâm hồn lâng lâng một niềm vui khó tả, một niềm tự hào dân tộc: “Đây Vân Đồn ngày xưa với tiếng reo oai hùng của đoàn quân bách chiến Việt Nam. Bao quân thù gục chết máu nhuộm hồng dòng nước, tiếng reo hò mừng chiến thắng về ta. Đây Vân Đồn ngập sóng, gương anh hùng liệt oanh, nhắc chúng ta chiến công ngày trước, nhớ gương Trần Khánh Dư, quyết noi theo anh hùng năm xưa”. Đây là bản hùng ca được Hạm trưởng San chọn làm nhạc hiệu cho HQ-4, được phát thanh hằng ngày sau khi chào cờ xong.
Trên cầu tàu, các xe cứu thương đã chờ sẵn. Cầu thang được bắc xuống, các bác sĩ quân y và y tá nhanh nhẹn chạy lên tàu để chuyển xác tử sĩ và thương bệnh binh đi viện. Tiếp theo, nhiều đoàn xe quân sự của Tư lệnh vùng I chiến thuật - Trung tướng Ngô Quang Trưởng - xuống tàu thăm viếng. Đến hơn 9 giờ, HQ-5 tiến vào vịnh Đà Nẵng. Trên vịnh Đà Nẵng, một số chiến hạm được lệnh ra Hoàng Sa nhưng đang trên đường đi thì trận đánh đã nổ ra nên được lệnh vào vịnh Đà Nẵng nằm chờ lệnh.
Lúc 12 giờ 30, HQ-16 đang bị thương nặng từ từ tiến vào vịnh với sự trợ giúp của hai tàu lai dắt biển. Chiến hạm nghiêng hẳn về bên phải, hông tàu nơi hầm máy bị thủng một lỗ thật lớn, cột cờ an-ten gãy sụp xuống boong tàu.
Tiểu đội thủy thủ tàu HQ-16 đổ bộ ngay trong đêm 19.1 đã lặng lẽ lên phao bè rời đảo Hữu Nhật (Robert). Lênh đênh trên biển tới 15 ngày, họ mới được ngư dân vùng Bình Định cứu đưa vào bờ. Tất cả đều bị phỏng nắng và ngất lịm vì thiếu nước, lương thực, trong đó có một hạ sĩ quan chết vì kiệt sức.
Tiểu đội thủy thủ tàu HQ-4 nằm lại đảo Quang Ảnh, sang hôm sau bị đông đảo lực lượng Trung Quốc đổ bộ lên đảo, với sự yểm trợ của tàu chiến và phi cơ MiG-21, bắt sống.
Quân đồn trú trên đảo Hoàng Sa và nhân viên đài khí tượng bị bắt làm tù binh, mấy tháng sau được Trung Quốc trao trả qua địa giới Trung Quốc - Hồng Kông.
Hộ tống hạm HQ-10 bị đánh chìm với thủy thủ đoàn còn lại hơn 40 người đã anh dũng hy sinh.
Trận hải chiến chấm dứt để lại bản hùng ca bi thương; 74 quân nhân tử trận, một số bị thương và bị bắt.
Giờ đây ghi lại những dòng hồi ký này để tưởng nhớ các chiến sĩ vị quốc vong thân, cầu mong linh hồn các anh được phiêu du nơi lạc cảnh và có một điều tôi muốn nói với các anh là: “Lịch sử bao giờ cũng công bằng cho tất cả mọi người; rồi một ngày nào đó các anh cũng được phục hồi danh dự”.
Cả ngày 20, 21 và 22.1.1974, tàu được sửa chữa khẩn cấp, đạn dược, nhiên liệu, lương thực được bổ sung đầy đủ chuẩn bị cho một trận tái chiếm Hoàng Sa.
Tối 22.1 (đêm 30 Tết âm lịch), anh em thủy thủ đoàn cả ba tàu còn lại được dự buổi liên hoan văn nghệ cuối năm theo truyền thống trên cầu tàu. Giữa mâm cao cỗ đầy nhưng ai nấy đều buồn bã không thiết gì đến ăn uống. Mọi người vẫn hết sức lo lắng cho số phận đồng đội còn lại trên đảo hay đang trôi dạt trên sóng biển trong những ngày Tết. Ai cũng hồi tưởng lại trận hải chiến bảo vệ lãnh thổ vừa qua và đau xót trước một thực tế, dù đã cố gắng hết sức cũng không thể giữ được mảnh đất thiêng liêng mà tổ tiên để lại. Nỗi đau ấy vẫn làm quặn thắt trái tim chúng tôi dù đã 35 năm trôi qua.
Lữ Công Bảy
(Hoàn tất 15.1.2009 - bổ sung tháng 11.2011)


Tưởng niệm 40 năm sự kiện Hoàng Sa

(TNO) Hôm nay 11.1, tại Hà Nội, Trung tâm Minh Triết (thuộc Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam) tổ chức buổi gặp mặt tưởng niệm 40 năm sự kiện Hoàng Sa bị Trung Quốc đánh chiếm.

 Ông Nguyễn Khắc Mai trao tặng tấm phù điêu và những đóng góp bằng hiện vật cho bà Huỳnh Thị Sinh, quả phụ của Thiếu tá Ngụy Văn Thà, hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo của hải quân VNCH, người nằm trong số những binh lính hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974.
Quang cảnh buổi họp mặt tưởng niệm 40 năm sự kiện Hoàng Sa bị Trung Quốc đánh chiếm
Chuyên đề: 40 năm hải chiến Hoàng Sa

Tại cuộc gặp mặt, Trung tâm Minh Triết đã ra tuyên bố trong đó khẳng định việc chiếm đoạt một phần quần đảo Hoàng Sa (năm 1956) và đem quân cưỡng chiếm hoàn toàn Hoàng Sa năm 1974 của Trung Quốc là phi pháp, chà đạp lên luật pháp quốc tế.
Tuyên bố cũng lên án hành động xâm chiếm lãnh thổ của Việt Nam mà Trung Quốc vẫn rêu rao tuyên bố là mối quan hệ “láng giềng hữu nghị”.
Tuyên bố của Trung tâm Minh Triết cũng bày tỏ sự ủng hộ đối với lập trường của Chính phủ Việt Nam, khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, lên án và tố cáo trước dư luận quốc tế về hành động xâm lược của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa.
 Ông Nguyễn Khắc Mai trao tặng tấm phù điêu và những đóng góp bằng hiện vật cho bà Huỳnh Thị Sinh, quả phụ của Thiếu tá Ngụy Văn Thà, hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo của hải quân VNCH, người nằm trong số những binh lính hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974.
Ông Nguyễn Khắc Mai trao tặng tấm phù điêu và những đóng góp bằng hiện vật cho
bà Huỳnh Thị Sinh, quả phụ của thiếu tá Ngụy Văn Thà, Hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo
của Hải quân VNCH, người nằm trong số những binh lính hy sinh trong trận hải chiến
Hoàng Sa năm 1974
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai, Giám đốc Trung tâm Minh Triết, với chiến lược biển đầy tham vọng bành trướng, Trung Quốc vẫn đang tiếp tục gây hấn với các nước trong khu vực, ngang nhiên vạch ra “đường lưỡi bò” trên biển Đông, công bố vùng “nhận diện phòng không” (ADIZ) ở biển Hoa Đông, gây khó dễ cho các hoạt động bình thường của các nước trong khu vực.
Theo ông Nguyễn Khắc Mai, thế giới ngạc nhiên về một nước lớn như Trung Quốc, không những rất vô trách nhiệm đối với cộng đồng quốc tế, mà còn hành xử theo vết xe đổ của chủ nghĩa đế quốc đã lỗi thời.
Theo Giám đốc Trung tâm Minh Triết, hệ thống lại những sự kiện đã xảy ra 40 năm qua, mọi người đều thấy các hành động của Trung Quốc uy hiếp hòa bình và phát triển của khu vực và làm cho cả thế giới lo ngại.
Phát biểu tại cuộc gặp mặt, ông Nguyễn Trung, nguyên trợ lý cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, chia sẻ 40 năm Hoàng Sa bị Trung Quốc xâm lược là sự kiện đau buồn nhưng cũng nhân dịp này cần có sự thức tỉnh rõ hơn vấn đề hòa hợp dân tộc.
Theo ông Nguyễn Trung, việc nhìn nhận những binh lính VNCH đã hy sinh cho Hoàng Sa cũng là những người yêu nước đã ngã xuống cho Tổ quốc là vô cùng cần thiết để vượt lên những quá khứ đè nặng và để thực sự có sự hòa giải, hòa hợp dân tộc.
Ông Nguyễn Đăng Quang, một trong những thành viên tham dự Phái đoàn liên hiệp quân sự 4 bên sau Hiệp định Paris (năm 1973) kể lại chính các sĩ quan VNCH mà ông có dịp tiếp xúc đã có dự đoán về việc Trung Quốc sẽ tấn công ở Hoàng Sa và Trường Sa ngay từ năm 1973.
Cụ thể trong một buổi làm việc chính thức, một thiếu tá VNCH đã hỏi ông Quang: “Chúng ta đều là người Việt, hiện tại chúng ta đang là kẻ thù của nhau nhưng sau này có lẽ sẽ không là kẻ thù của nhau nữa, tôi xin hỏi liệu sau này có một cường quốc phương Bắc xâm chiếm một mảnh đất nào của chúng tôi hoặc của các ông thì các ông sẽ đối phó ra sao?”.
“Lúc đó tôi mới ngoài 30, nhiều vấn đề cũng chưa hiểu rõ để đủ sức để trả lời câu hỏi này. Chỉ một năm sau đó khi xảy ra sự kiện Hoàng Sa tôi mới thấy rằng chính những người ở phía đối địch hóa ra họ cũng có ý thức bảo vệ đất nước không hề kém chúng ta”, ông Quang nhớ lại.
Theo ông Quang, sau này khi chuyển sang làm công tác đối ngoại ông mới có dịp nghiên cứu kỹ về Trung Quốc và mới biết rằng Trung Quốc có xung đột biên giới với tất cả các nước láng giềng kể các quốc gia có cùng ý thức hệ như Liên Xô hay Việt Nam. Ông nói: “Điều này cho thấy Trung Quốc rõ ràng đặt lợi ích dân tộc của họ lên trên tất cả”.
Trường Sơn

Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

CỘI NGUỒN QUÊ HƯƠNG CỦA NGUYỄN HOÀNG

Ngày sinh, nơi sinh, ngày mất, nơi mất, nơi an táng, nơi cát táng là những mốc thời gian quan trọng, đáng nhớ của đời người và con cháu vì dân gian coi đó là thể hiện hiếu đạo đối với người đã mất, với tổ tiên, ông bà: Sống nhà thác mồ. Trong các giấy tờ tùy thân thì giấy khai sinh là văn bản gốc quan trọng nhất, trên giấy này ghi rõ họ và tên, ngày tháng năm sinh, quê quán... Con cháu nhiều thế hệ sau phải ghi cho rõ, cho đúng với quê quán của Tiền nhân đã khai sáng ra dòng tộc. Tuổi tác, ngày sinh, nơi sinh được ghi trong gia phả có khác với giấy khai sinh, sai chậy năm tháng với giấy khai sinh của nhiều người. Nhưng tuyệt nhiên giấy khai sinh là văn bản pháp qui, pháp định. Đối với tiền nhân thì người nghiên cứu tiểu sử và sự nghiệp đều dựa vào bản gốc gia phả hoặc sắc phong, văn bằng, học vị, văn bia.
I. NƠI SINH, NƠI MẤT CỦA NGUYỄN HOÀNG
          Nguyễn Hoàng sinh ngày 10 tháng 8 năm Ất Dậu (28/8/1525) tại Gia Miêu ngoại trang (không viết hoa hai chữ “ngoại trang”), huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hóa.[1] Chúa Nguyễn Hoàng mất ngày mồng 3 tháng 6 năm Quí Sửu (20/7/1613) tại Dinh Cát thuộc làng Ái Tử, huyện Võ Xương, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa, thọ 89 tuổi. An táng ở vùng núi Thạch Hãn gần sông Thạch Hãn thuộc địa phận làng cổ Thạch Hãn, làng này vào thời điểm lịch sử ấy thuộc huyện Hải Lăng, phủ Triệu Phong. Xin lưu ý đơn vị hành chính “phủ” Triệu Phong vào thời điểm năm 1613. Đời vua Duy Tân có phủ Triệu Phong (nhưng phủ lúc này tương đương với huyện dẫu rằng phủ lớn hơn huyện về đất đai và dân số cỡ bên 10, bên 8). Tiền thân của phủ Triệu Phong ngày nay là huyện Đăng Xương, cải đổi thành Thuận Xương vào năm Kiến Phúc nguyên niên, 1884.
          Với tài năng và đức độ của con người phi thường, Chúa Nguyễn Hoàng giữ chức Trấn thủ Thuận Hóa vào tháng 10 năm Mậu Ngọ, 1558, rồi Tổng Trấn hai xứ Thuận – Quảng từ tháng giêng năm Canh Ngọ, 1570 cho đến ngày 3 tháng 6 năm Quí Sửu, 1613. Trong 56 năm cai trị, nhà Chúa đã mất hơn 15 năm bình định vùng biên viễn của nước Đại Việt từ ác địa trở thành thiện địa. Công lao khai hóa của Chúa thật lớn lao như trời biển.
          II. GIA MIÊU NGOẠI TRANG (嘉苗外莊):
          Gia Miêu là danh từ riêng chỉ tên “trang” tức trang trại, thôn ấp ở miền bán sơn địa của huyện Tống Sơn. Huyện này có tên là Tống Giang vào triều nhà Trần. Đến đầu đời Hậu Lê được cải đổi tên gọi là Tống Sơn. Huyện này gồm 31 xã, 2 bãi, 9 trang, 1 trại. Đất Gia Miêu đã được phân chia thành 2 trang là Gia Miêu nội trang và Gia Miêu ngoại trang theo làn ranh của chân dãy núi Thiên chạy dài từ phía Tây sang phía Đông. Năm 1803, vua Gia Long đổi tên Gia Miêu ngoại trang thành Quí Hương, huyện Tống Sơn thành Quí Huyện.
          Theo tự điển Hán Việt của Thiều Chửu, chữ trang (莊) có đến 7 nghĩa; nghĩa thứ 6: lập riêng cơ sở ở ngoài thành thị cũng gọi là trang. Làng gốc thường lập thêm trang trại ở vùng núi hoặc biển. Cả hai trang nội và ngoại trước xưa được gọi tên là Bái Đáp[2]. Ở tỉnh Ninh Bình ngày nay như xưa kia Thanh Hoa ngoại trấn có địa danh Bái Đính nổi tiếng với nhiều danh lam thắng cảnh.
          Văn tế chiến sĩ trận vong của Tiền quân Nguyễn Văn Thành, người làng Bác Vọng, từng giữ Tống Trấn Bắc Thành dưới triều vua Gia Long có câu: “Ba nghìn họp con em đất Bái”. Đất Bái tức Bái Đáp. Ở Thừa Thiên có làng Bái Đáp thuộc tổng Hạ Lang, huyện Quảng Điền. Phép dùng điển trong văn học thật thâm sâu và thâm hậu, có dụng ý xa vời vợi mà ít người tra cứu cho tận ngọn nguồn lạch sông. Thật đúng như lời cụ Huỳnh Thúc Kháng đã nói: “Học Sử nghĩa là sống với người chết, học Địa là sống với non sông”.[3]
          Lê Quí Đôn viết xong sách Kiến Văn Tiểu Lục vào tháng 5 năm Đinh Dậu, niên hiệu Cảnh Hưng tức năm 1777.
          Sau 6 tháng ở Thuận Hóa giữ chức Hiệp Trấn năm 1776, Lê Quí Đôn trở về Thăng Long lãnh chức Cơ Mật sự vụ kiêm Chưởng Tài Phủ. Sách có đoạn viết:
          “Tôi [Lê Quí Đôn] đã được coi quyển gia phả của người cháu xa đời viên Chiêu Huân Công (昭勳公) xuất trình. Trong phả có chép việc về năm Thuận Thiên năm thứ 2 (1429), cấp ruộng lộc cho viên chỉ huy khai quốc công thần là Nguyễn Công Duẩn (阮公筍) như sau:
          “Chuẩn lấy Trang Xã ở huyện Tống Sơn là ruộng của nhà thế gia triều trước, nay tuyệt, không người thừa kế. Và ruộng đất bỏ hoang, cho Công Duẩn làm của riêng, cọng 470 mẫu”. [4]
          III. BÁI TRANG, BÁI ĐÁP
          Chiêu Huân Công là gọi tắt tước hiệu Vua Lê Trang Tôn ban tặng cho Nguyễn Kim (1468-1545) sau khi mất. Đúng ra đầy đủ 4 chữ Chiêu Huân Tĩnh Công. Vua Lê Trang Tôn (1533-1548) ban chiếu tặng Nguyễn Kim làm Chiêu Huân Tĩnh Công, thụy là Trung Hiến. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết:
          “[Vua Lê Trang Tôn] sai người rước Linh cữu về Bái Trang, huyện Tống Sơn làm lễ chôn rất hậu. Phong cho con trưởng là Uông làm Lãng Quận Công, con thứ là Nguyễn Hoàng làm Hà Khê Hầu, sai coi quân đánh giặc”.[5]
          Vậy thì tên gọi “Bái Trang” có trước Gia Miêu ngoại trang mà phần dẫn ở bên trên chúng tôi đã tìm ra địa danh “Bái Đáp”. Chưa biết rõ ràng địa danh Bái Trang có trước hoặc sau địa danh Bái Đáp. Chúng tôi có tư kiến riêng cho tên gọi Bái Trang phải có sau Bái Đáp; và tên gọi địa danh Bái Trang có trước tên gọi địa danh Gia Miêu ngoại trang mới thuận nghĩa lý. Thiết nghĩ đó những địa danh cần được tra cứu và giải thích rạch ròi.
          Năm 1545 tước của Nguyễn Hoàng là Hà Khê Hầu; năm Mậu Ngọ Nguyễn Hoàng lãnh tước vua ban Đoan Quốc Công, lúc này Nguyễn Hoàng tuổi đời 34 năm. Lúc Nguyễn Kim mất Nguyễn Hoàng đã 21 tuổi. Nguyễn Uông đã lãnh tước Lãng Quận Công – Trịnh Kiểm giữ chức Thái sư cho vua Lê và được ban tước Lạng Quốc Công.
          Cụ Tôn Thất Hân chấp bút viết PHỔ HỆ NHÀ NGUYỄN TRƯỚC GIA LONG bằng chữ Hán. Dịch ra tiếng Pháp là công của Thông ngôn Tây Âu Bùi Thanh Vân nhờ sự hỗ trợ của nhà Nho Trần Đình Nghi. Dịch ra tiếng Việt là hai dịch giả Bửu Ý và Phan Xưng. Nguồn sử liệu này rất quý giá. Cái đáng bàn là văn phong bản dịch từ không nhuần nhuyễn của bản tiếng Pháp sang tiếng Việt.
          Theo Phổ hệ nói trên thì từ Chúa Nguyễn Hoàng trở lên thêm được 14 đời:
          Đời thứ 1: Nguyễn Bặc sinh ra Nguyễn Đạt
          Đời thứ 2: Nguyễn Đạt là cha Nguyễn Phụng
          Đời thứ 3: Nguyễn Phụng là cha của Nguyễn Nộn
          Đời thứ 4: Nguyễn Nộn là cha của Nguyễn Thể Tứ
          Đời thứ 5: Nguyễn Thể Tú là cha của Nguyễn Điền
          Đời thứ 6: Nguyễn Điền  là cha của Nguyễn Luật
          Đời thứ 7: Nguyễn Luật  là cha của Nguyễn Minh Du
          Đời thứ 8: Nguyễn Minh Du là cha của Nguyễn Biện
          Đời thứ 9: Nguyễn Biện  là cha của Nguyễn Lữ
          Đời thứ 10: Nguyễn Lữ là cha của Nguyễn Sự
          Đời thứ 11: Nguyễn Sự là cha của Nguyễn Công Chuẩn
          Đời thứ 12: Nguyễn Công Chuẩn là cha của Nguyễn Như Trác
          Đời thứ 13: Nguyễn Như Trác là cha của Nguyễn Văn Hưu
          Đời thứ 14: Nguyễn Văn Hưu (Hựu) là cha của Triệu Tổ tức Nguyễn Kim

          Nhờ công trình biên khảo của cụ Tôn Thất Hân, mà phần Thủy Tổ Phả của sách NGUYỄN PHÚC TỘC THẾ PHẢ của các tác giả Vĩnh Cao, Vĩnh Dũng, Tôn Thất Hanh, Vĩnh Khánh, Tôn Thất Lôi, Vĩnh Quả, Vĩnh Thiều trở nên có giá trị hơn về mặt sử học và gia phả. Xin liệt kê các thế hệ gồm 15 đời.
         I.       Thủy tổ            NGUYỄN BẶC                 (924-979)
         II.      Đệ nhị tổ          NGUYỄN ĐÊ                    (? - ?)
         III.     Đệ tam tổ         NGUYỄN VIỄN                (? - ?)
         IV.    Đệ tứ tổ            NGUYỄN PHỤNG            (? – 1150)
         V.     Đệ ngũ tổ         NGUYỄN NỘN                 (? – 1229)
         VI.    Đệ lục tổ          NGUYỄN THẾ TỨ           (? - ?)
         VII.   Đệ thất tổ         NGUYỄN NẠP HÒA        (? – 1377)
         VIII. Đệ bát tổ          NGUYỄN CÔNG LUẬT   (? – 1388)
         IX.    Đệ cửu tổ         NGUYỄN MINH DU         (1340 – 1390)
         X.     Đệ thập tổ        NGUYỄN BIỆN                (? - ?)
         XI.    Đệ thập nhất tổ                                          NGUYỄN CHIẾM         (? - ?)
         XII.   Đệ thập nhị tổ NGUYỄN SỪ                    (? - ? )
         XIII. Đệ thập tam tổ                                           NGUYỄN CÔNG DUẨN        (? - ? )
         XIV. Đệ thập tứ tổ   NGUYỄN NHƯ TRÁC     (? - ? )
         XV.   Đệ thập ngũ tổ                                            NGUYỄN VĂN LỰU    (? - ? )            [6]
          Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả bằng tiếng Việt đời nay là một công trình biên soạn từ nhiều năm trong hoàn cảnh đầy khó khăn về tư liệu, về nhân sự... Các soạn giả đã làm sáng rõ thêm về nguồn gốc triều đại các Chúa Nguyễn, vua Nguyễn, làm xích lại khoảng cách giữa nhân gian với dòng tộc Nguyễn Phúc vì địa bạ và gia phả các làng xã, họ tộc một thời trong quá khứ đã có những bậc tiên hiền, quan lại, danh tướng, phò mã, phủ thiếp phụng sự quốc triều Nguyễn trong việc khai hóa quốc dân, mở mang bờ cõi đất nước bằng con đường hòa bình và nhân ái. Ngoài dân gian, dù cho là người bình dân đã kết tình thông nghị với hậu duệ dòng tộc Nguyễn Phúc đúng nghĩa với quan niệm: “thông gia là bà con tiên”.
          Đối chiếu hai bản của Tôn phả chép về các thế hệ trước Triệu Tổ Nguyễn Kim và Thái Tổ GIA DŨ HOÀNG ĐẾ húy Nguyễn Hoàng (1525-1613) thì dễ thấy những khuyết nghi mà đời sau đã bổ sung cho đời trước.
          Định Quốc Công húy Nguyễn Bặc (924-979) được xem như Thủy Tổ của dòng tộc Nguyễn Phúc. Chữ lót giữa họ và tên này còn được đọc là “Phước” ở ngoài dân gian. Ngày xưa, những ai là họ Nguyễn thuộc bách tánh đã nghiêm túc kiêng tránh chữ lót này. Phụ chính Đại thần Nguyễn Văn Tường, người làng An Cư, huyện Thuận Xương (Triệu Phong ngày nay) do nhầm lẫn lấy tên họ Nguyễn Phước Tường bị buộc phải cải đổi từ Nguyễn Phước Tường thành Nguyễn Văn Tường. Có rất nhiều sĩ phu, quan lại, danh tiếng, thí sinh được các vua Nguyễn cho đổi tên, đổi chữ lót. Cụ thể là Phụ chính Đại thần Trần Tiễn Thành lúc đi thi đỗ Tiến sĩ dưới triều vua Tự Đức được nhà vua cho đổi tên cũ Trần Thời Mẫn thành họ tên mới là Trần Tiễn Thành và họ Trần ở thôn Minh Thanh, huyện Hương Trà lấy tên “họ Trần Tiễn”. Người Nam Kỳ lục tỉnh rất biết ơn sâu của các chúa Nguyễn và vua Nguyễn nên đã nghiêm cẩn trong việc gọi tên làng, tên họ, tên người.
          Sách NGUYỄN PHÚC TỘC THẾ PHẢ đã dẫn ở bên trên đã chép và xếp NGUYỄN CÔNG DUẪN (? - ?), Đệ thập tam tổ (trước Nguyễn Kim 4 đời, trước Nguyễn Hoàng 5 đời). Ở trang 78 sách vừa nói trên có viết:
          Ngài [Nguyễn Công Duẫn] được thăng làm Phụng Trực Đại Phu Đô Đốc thiêm sự, Đô kiểm sự, lãnh việc quân dân ở huyện Tống Sơn và được vua ban cho gần 500 mẫu ruộng. Ngài được xếp vào làng Khai quốc Công thần bình Ngô và được ban quốc tính Lê”
          Nay chúng tôi tra lại sách ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ, Tập 2, Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, tr.102 viết:
          “Năm Kỷ Dậu thứ 2 niên hiệu Thuận Thiên [tức năm 1429]: Tháng 5, ngày mồng ba ban biển ngạch công thần cho 93 viên: Huyện thượng hầu 3 người là Lê Vấn, Lê Sát, Lê Văn Xảo, Thượng hầu 1 người là Lê Ngân; Hương thượng hầu 3 người là: Lê Lý, Lê Văn Linh, Lê Quốc Hưng; Đình thượng hầu 14 người là: Lê Chích, Lê Văn An, Lê Liệt, Lê Miễn, Lê Lễ, Lê Chiến, Lê Khôi, Lê Đính, Lê Chuyết, Lê Lỗi, Lê Nhữ Lâm, Lê Sao, Lê Kiệm, Lê Lật; Huyện hầu là 14 người là Lê Bi, Lê Bì, Lê Bĩ, Lê Náo, Lê Thu, Lê Lôi, Lê Khả, Lê Bôi, Lê Khả Lang, Lê Xí, Lê Khuyển, Lê Bí, Lê Quốc Trinh, Lê Bật; Á hầu 26 người là bọn Lê Bạn, Lê Trãi; Quan nội hầu 16 người là bọn Lê Cuống, Lê Dao. Thượng trí tước phục hầu 4 người là bạn Lê Khắc Phục, Lê Hài[7]
          Trong Quốc sử đời Hậu Lê, không ghi đầy đủ tên họ 93 viên được phong khai quốc công thần và ban quốc tính mà chỉ ghi tên 42 viên. Chúng tôi tin rằng tên của bậc tiền bối Nguyễn Công Duẫn còn đọc là Nguyễn Công Chuẩn (viết dấu hỏi).
          Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu cho biết:
          Chữ Duẫn (viết có dấu ngã (~):  (tr.560) và chữ duẩn (viết dấu hỏi (?) 筍 (tr.563) được dùng nghĩa như chữ 筍 (duẩn) có nghĩa là măng tre, cái xà ngang để treo chuông khánh. Chữ 筍 còn đọc là tấn: cái xe bằng trúc.
          Chữ chuẩn (tr. 56, 369, 425, 585, 924) viết dấu hỏi có đến 5 chữ đều có mặt chữ không giống với chữ của Lê Quí Đôn đã viết trong sách Kiến Văn Tiểu Lục. Lần lượt ghi lại 5 nghĩa: định đúng, gọt gỗ cho ngàm vào đúng mộng, bằng phẳng, thành thực, một loài chim cắt.
          Tôi chọn chữ Duẫn (viết dấu ngã) như Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả, không đồng tình với dịch giả Lê Mạnh Liệu bởi lẽ cụ Liệu không phải là “người trong cuộc” như hậu duệ nhà Nguyễn hôm nay đã thấm chữ nghĩa của tên húy tận máu thịt. Chỉ tiếc một điều là do hạn chế của nhà in sách năm 1995, đã viết giúp chữ Hán sai thiếu nét ngang dài. Tôi viết ra hai chữ: chữ đúng của chữ Duẫn () chữ Duẫn do in sai . Chữ vừa viết thiếu nét ngang dài 一 . Một việc nhỏ mà bỏ qua là có tội! Vua Lê đã phong cho Nguyễn Uông làm Lãng Quận Công, Nguyễn Hoàng làm Hà Khê Hầu vào năm 1545 (lúc này Nguyễn Hoàng đã hơn 20 tuổi) vào năm 1545 dưới thời vua Lê Trang Tôn mà sách Từ Điển Nhà Nguyễn của Võ Hương An xuất bản năm 2012 tại nước ngoài cụ thể là Mỹ Quốc cho rằng năm 1545 Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng “đang còn nhỏ”.[8]
          Tìm về quê hương nhà Nguyễn, trước tiên và cũng là bước đầu là tìm hiểu về tiểu sử của Nguyễn Công Duẫn được xem như Thủy tổ của Gia Miêu ngoại trang nay là thôn Gia Miêu thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Nhưng tiểu sử của Nguyễn Công Duẫn còn nhiều khuyết nghi, ngay cả năm sinh và năm mất vẫn còn là hai dấu hỏi.
          Lê Quí Đôn phanh phui ra cái chìa khóa là ruộng lộc của ông được nhà vua cấp 470 mẫu[9] là ruộng bỏ hoang do triều trước.
          Cụ Tôn Thất Hân đã tìm ra nguồn tư liệu gốc rất tôn quý là “Biên bổn Gia Miêu Ngoại Trang công tính chính chi khai trần phổ hệ”, để khẳng định:
          “Vị tổ đầu tiên là Nguyễn Công Chuẩn, phong hàm Thái Bảo Hoàng Quốc Công, con trai thứ tư của Chiêu Quang Hầu. Ông được phong Công Thần Khai Quốc và họ của ông được đổi thành Lê do Lê Thái Tổ (1428-1433).”
          Như trên đã nói trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cho biết trong 93 viên được phong Khai quốc Công thần thì chỉ ghi rõ họ và tên 42 viên, trong đó không có tên Nguyễn Công Chuẩn. Danh sách 42 vị được kê tên là Khai quốc Công thần và đổi họ gốc sang quốc tính họ Lê. Đó là một nghi án lịch sử. 51 vị còn lại trong tổng 93 viên không được nhà Lê cho đổi họ sang họ Lê không có tên ông Chuẩn. Khai quốc công thần có 2 loại: đổi họ, không đổi họ.
          Ở sách Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả, Sđd xuất bản năm 1995 lại hé lộ cho tôi một hướng đi tìm ở cho ra cái mà mình đang bí. Ở phần chú thích ở trang 78 có chú thích (1) như sau: “Trích chiếu tuyên dương công trạng năm Thuận Thiên thứ 2”. Trình độ của tôi hạn chế, tôi lại tìm đọc Đại Việt Sử Lý Toàn Thư, đặc biệt chú ý đến niên hiệu Thuận Thiên thứ 2 tức năm Kỷ Dậu 1429, cho nên mới phát hiện ra điều này. Tôi đọc biên niên sử 3 triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tôn, Lê Nhân Tông nhưng không tìm thấy danh xưng Thái Bảo Hoàng Quốc Công Nguyễn Công Chuẩn.
          Căn cứ vào sổ bộ của Gia Miêu Ngoại Trang thì từ Nguyễn Bặc cho đến Nguyễn Văn Lưu là cha của Triệu Tổ hay Nguyễn Kim là 14 đời. Còn theo Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả là 15 đời. Chúng tôi tin là có ông NGUYỄN CÔNG DUẪN (trước phiên âm là Chuẩn); đời vua Gia Long phiên âm là Chuẩn, như sổ bộ của Gia Miêu ngoại trang; còn chức tước và phẩm hàm Thái Bảo Hằng Quốc Công thì tra cứu chưa ra ở sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Có thể phẩm hàm ấy được chép từ một nguồn sử liệu nào thì chúng tôi chưa biết. Đó là một nghi án, cần rà soát lại để dễ thuyết phục người đọc thì càng quý giá.
          IV. QUÊ HƯƠNG VIỄN XỨ CỦA CHÚA NGUYỄN HOÀNG
          Tìm chữ chưa ra, tạm dùng chữ “Tiền thân” của Gia Miêu ngoại trang nghĩa là trước đời Nguyễn Công Chuẩn (đời thứ 13 theo Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả năm 1995; đời thứ 11 theo Sổ bộ của Gia Miêu ngoại trang) thì đời Nguyễn Sự ở sơn động như các vị đời trước. Sách này lấy Thủy Tổ của dòng họ Nguyễn Phúc là Quốc Công Nguyễn Bặc (阮匐), có quê hương Đại Hoàng, Gia Viễn, Ninh Bình. Về quê hương của Nguyễn Bặc vẫn chưa khẳng định, người thì bảo là Gia Miêu ngoại trang, người thì là làng Đại Hữu, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Đây lại thêm một khuyết nghi lịch sử nữa, cần được khai tỏ.
          Đến đây, chúng tôi phải tra cứu Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi:
          “Phủ Trường Yên (Tràng An) có 3 huyện, xưa phủ này có tên là Đại Hoàng, có 3 huyện, 263 xã. Huyện Gia Viễn có 73 xã, 4 trang, 1 trại, 2 phường, 1 tuần. Thời nhà Lý thì Gia Viễn, Trường Yên (Tràng An) thuộc phủ THANH HOA”.
          Năm 2008 chúng tôi gồm nhà báo Dương Phước Thu, thầy Châu Trọng Ngô, anh Trần Viết Điền đi Ninh Bình tham dự Hội thảo tại Văn Miếu, Hà Nội năm 2008 về chủ đề Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đến thăm mộ tổ của họ Châu, họ Lê ở Ninh Bình. Chúng tôi đã khảo cứu Tràng An (tức Trường Yên) đầy đủ, đăng trên Tập san Hội nhà báo Thừa Thiên - Huế, cuối năm 2008 nhân dịp Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Đó là cớ sự tôi đi ngược dòng lịch sử để tìm hiểu về Tây Đô, về Tràng An. Nay có duyên tôi viết tham luận này. Gia Viễn tức tên mới Đại Hoàng có từ đời nhà Lý. Đại Hoàng là tên huyện chứ không phải tên làng như một số người đã nhầm lẫn.
**
*

          Tìm về quê hương viễn xứ của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng thật là lý thú dẫu rằng rất mệt, tổn hao nhiều công sức. Nhưng lý thú là tìm ra được một cầu nối mà chúng tôi thường hay nói là “cầu không vận” giữa ÁI TỬ - TRÀ BÁT – DINH CÁT với THANH HÓA, NINH BÌNH.
          Khởi nguồn cho việc Chúa Nguyễn Hoàng mang gươm đi mở nước và giữ nước bằng đường lối hòa bình, ÁI TỬ (Quảng Trị) trở thành bệ phóng, mà nguồn gốc phát tích là TRÀNG AN – GIA MIÊU thuộc Thanh Hoa ngoại trấn và Thanh Hoa nội trấn.
          Thật là hưng phấn tinh thần khi tìm ra cội nguồn quê hương của Nhà Nguyễn. Xin trình lên Hội thảo khảo luận này với một số nghi án cần được cẩn án làm sáng tỏ thêm lên về quá trình giữ nước và mở nước của nước Việt oai hùng mà giặc ngoại bang không hiểu, không nghiên cứu sâu xa cho nên đành đầu hàng, cuốn cờ mà chạy thục mạng về nước./.

Lê Quang Thái Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán – Huế 

[1] Đời Lê Trung Hưng trở về trước chưa có đơn vị tổng (gồm làng). Thanh Hóa tên gốc ban đầu Thanh Hoa nội tức Thanh Hóa. Thanh Hóa ngoại tức Ninh Bình. Xem Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi.
[2] Bái Đáp là nơi an táng Nguyễn Kim như sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã chép, tr.626 và Thực Lục tr.26, Sđd, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2004, tr.26
[3] QUỐC SỬ TẠP LỤC, Nguyễn Thiệu Lân, Nxb Khai Trí, Sài Gòn, 1969, tr.51
[4] KIẾN VĂN TIỂU LỤC, Lê Quí Đôn, Lê Mạnh Liệu dịch, Sài Gòn, 1973, tr.217
[5] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập 2, Nxb Văn Hóa – Thông Tin, Hà Nội, 2004, tr.626
[6] Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả; Sđd tr. 17
[7] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Sđd, tr.102
[8] Từ điển Nhà Nguyễn, Võ Hương An, Nxb Nam Việt, Califonia, USA, 2012, tr.431
[9] Có một sai số khá lớn giữa 470 mẫu ruộng lộc cấp cho ông Nguyễn Công Chuẩn, với con số gần 500 mẫu đã ghi trong Nguyễn Phúc Thế Phả xuất bản năm 1995.

BA LẦN LẬP DINH TRẤN Ở QUẢNG TRỊ, BA SÁCH LƯỢC CỦA NGUYỄN HOÀNG

Tháng Mười năm Mậu Ngọ (1558) Nguyễn Hoàng được vua Lê Anh Tông cử vào trấn thủ xứ Thuận Hóa. Từ đây, ông bắt đầu đứng chân trên vùng đất Quảng Trị ngày nay để gầy dựng cơ nghiệp. Trải qua nhiều biến động, tháng Sáu năm Quý Sửu (1613) Nguyễn Hoàng đã qua đời tại đây. Trong 55 năm nầy, Nguyễn Hoàng đã ba lần lập dinh trấn ở Quảng Trị, lần lượt là: Dinh Ái Tử (1558 - 1570) Dinh Trà Bát (1570 - 1600) Dinh Cát (1600) Ba lần lập dinh trấn đã thể hiện ba sách lược của Nguyễn Hoàng, đặt nền tảng cho các chúa Nguyễn về sau xây dựng cơ nghiệp to lớn của mình ở Đàng Trong.
I. Dinh Ái Tử, vùng đất mới thời khởi nghiệp, nơi thu phục nhân tâm.
          Năm 1558, khi đề xuất vua Lê Trang Tông bổ nhiệm Nguyễn Hoàng làm Trấn thủ xứ Thuận Hóa, Thái sư Trịnh Kiểm đã đưa ra nhận định "Xứ Thuận Hóa là một kho tinh binh trong thiên hạ, buổi đầu, quốc triều ta bắt đầu gầy dựng cơ nghiệp, cũng đã dùng dân xứ ấy để dẹp giặc Ngô. Xứ ấy, địa thế hiểm trở, dân khí cương cường, lại có nhiều nguồn lợi trên rừng dưới biển, là vùng trọng yếu, không xứ nào hơn. Gần đây, quan quân kinh lược hàng mấy chục năm mới lấy được. Vậy nên hết sức bảo vệ, để làm một bức bình phong vững chắc… Hạ thần xét thấy con trai thứ của Chiêu Huân Tĩnh công (Nguyễn Kim) là Nguyễn Hoàng, là một người trầm tĩnh, cương nghị, lại có mưu lược, đối với quân sĩ có độ lượng, khoan dung giản dị. Vậy xin bổ ông làm trấn thủ, để trị an nơi biên thùy và chống giặc ở miền bắc kéo vào…" ([1])
          Đây đúng là vùng đất "mới lấy được" vì chỉ khoảng từ 3 đến 5 năm trước đó, Tiến sĩ Dương Văn An, Phó Đô ngự sử của triều Mạc, lúc về quê nhà (làng Tuy Lộc, huyện Lệ Thủy, nay thuộc tỉnh Quảng Bình) cư tang, đã nhuận sắc hai bản ghi chép (viết năm Quý Sửu 1553) về phủ Tân Bình và phủ Triệu Phong của hai nho sinh đồng hương để soạn thành sách Ô Châu Cận Lục, đề cập khá chi tiết về núi sông, thành thị, chùa quán, thuế khóa, phong tục, nhân vật; liệt kê tên 701 làng và 1 thôn của vùng Thuận Hóa. Về thành thị, Dương Văn An đã mô tả ba trọng điểm của Thuận Hóa, gồm:
"Hóa thành: tại địa phận huyện Đan Điền (nay là Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế), sông cái chảy qua phía tây, còn một nhánh sông con chảy vào trong thành. Bên hữu sông nầy là nơi đặt nha môn đô ty, thừa ty và học xá phủ Triệu Phong… Tòa thành trăm trĩ vươn cao, sừng sững như đám mây dài. Đó là địa hình tụ hội…"
          "Thuận thành: ở địa phận huyện Hải Lăng (nay thuộc tỉnh Quảng Trị), phía tây có nhánh sông dài, cầu ở phía đông cao ngất, chợ sớm đông đúc. Ngoài thành là huyện trị. Bên trong thành có kho thóc đầy đủ"
          "Chợ Thuận: tại địa phận hai huyện Vũ Xương, Hải Lăng. Từ phía tây nam, sông cái chảy vào, có dòng khe nhỏ. Trên khe gác cây cầu dài, phía nam cầu quán xá xếp hàng. Rồi huyện rồi thành ở hai bên đông tây đối diện. Nào đường thủy, đường bộ đều thông suốt. Là một nơi tấp nập của Thuận châu vậy" ([2])
          Có thể cuộc chiến tranh đánh đuổi quân Mạc của nhà Lê ở Thuận Hóa vừa xảy ra trước đó không lâu đã gây ra nhiều xáo trộn, nhưng có lẽ hình thái chiến tranh cổ điển thời bấy giờ cũng không phá vỡ hết kết cấu hạ tầng và xã hội của một số thành thị đã có như Hóa thành, Thuận thành và chợ Thuận. Nhưng vì sao vào thời điểm 1558 Nguyễn Hoàng không chọn thành Hóa Châu hoặc thành Thuận Châu để đặt dinh trấn như các triều trước?
          Quốc sử quán triều Nguyễn đã hé lộ một thông tin quan trọng "Bấy giờ xứ Thuận Hóa mới dẹp yên, tuy nhà Lê đã đặt tam ty (Đô ty, Thừa ty, Hiến ty) và phủ huyện để cai trị, nhưng nhân dân vẫn chưa một lòng" ([3]). Có thể vì điều nầy mà Nguyễn Hoàng không theo thông lệ để chọn những trung tâm chính trị - kinh tế vốn đã tồn tại hàng trăm năm dưới các triều đại trước để đặt làm trị sở.
          Chọn Ái Tử, vùng đất nằm bên bờ sông Thạch Hãn, nối liền với Cửa Việt, có những bãi cát trống trải, thuận lợi cho việc phòng thủ theo quan điểm quân sự cổ điển thời bấy giờ có lẽ chỉ là một phần. Phần quan trọng hơn, có thể Nguyễn Hoàng muốn chọn một vùng đất mới, vùng đất chưa chịu ảnh hưởng sâu đậm của triều đại trước để dễ thực hiện sách lược thu phục nhân tâm của riêng mình.
          Ái Tử chỉ là một ngôi làng bình thường của huyện Vũ Xương (nay thuộc xã Triệu Ái và thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị), ngôi làng mà trước đó mấy năm Dương Văn An chỉ nhắc tên ở mục đồ bản và có lời bình không mấy tốt ở phần tổng luận về phong tục "Tên làng Ái Tử, sao nỡ bán con cho người" ([4]). Tương truyền khi Nguyễn Hoàng và đoàn dân binh gồm những người đồng hương Tống Sơn và những nghĩa dũng xứ Thanh Hoa theo dòng sông Thạch Hãn để đổ bộ lên làng Ái Tử, quan sở tại là Tống Phước Trị đã ra nghênh đón. Dân chúng ở Ái Tử và các làng lân cận cũng nô nức chào đón. Họ đã dâng lên Nguyễn Hoàng bảy vò nước trong, mà về sau nhà Nguyễn đã diễn dịch theo nghĩa người dân đã dâng "Nước" để chúa Tiên (Nguyễn Hoàng) lập quốc.
          Chính từ vùng đất mới nầy, Nguyễn Hoàng hoàn toàn thuận lợi để thực hiện sách lược đầu tiên của mình: Vừa làm tốt chức trách của một vị quan trấn thủ, mở mang vùng đất mới, vừa bắt tay xây dựng trên bãi đất trống một căn cứ địa, làm vùng đất khởi nghiệp; đồng thời thực hiện chính sách thu phục nhân tâm, dựa vào lòng dân ở vùng đất mới đang hướng vọng vào vị quan trấn thủ để xây dựng thực lực, chuẩn bị cho một kế sách lâu dài.
          Suốt hơn 10 năm từ 1558 đến 1569, Nguyễn Hoàng vẫn đảm nhận vai trò một vị quan trấn thủ của nhà Lê, thực chất là dưới sự điều hành của Thái sư Trịnh Kiểm, vừa thực hiện chiến thuật thu phục số quan lại có sẵn của nhà Lê "Phàm quan lại tam ty do nhà Lê đặt đều theo lệnh của chúa", vừa "khuya sớm chăm lo, nghĩ việc củng cố căn bản", "vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến phục" ([5]).
          Có thể nói sách lược trong suốt thời kỳ đặt dinh trấn ở Ái Tử của Nguyễn Hoàng chưa phải là kế sách cát cứ, ngược lại, vị quan trấn thủ xứ Thuận Hóa vẫn thể hiện là một trọng thần của nhà Lê, hàng năm vẫn nộp đầy đủ thuế cho triều Lê ở Thanh Hoa, Nhưng thực chất việc chọn Ái Tử để lập dinh trấn là Nguyễn Hoàng đã chọn một vùng đất mới để làm đất khởi nghiệp, âm thầm xây dựng thực lực, thu phục nhân tâm để chuẩn bị cho một chiến lược lâu dài khi có thời cơ.
          Tình trạng hòa hiếu để xây dựng thực lực nầy kéo dài từ 1558 đến 1569, thời điểm mà Nguyễn Hoàng sau hơn 10 năm ở Quảng Trị đã trở ra Thanh Hoa yết kiến vua Lê và đến chào mừng Thượng tướng Thái quốc công Trịnh Kiểm.
          II. Dinh Trà Bát và thế phát triển mới của vùng đất Thuận - Quảng.
          Nguyễn Hoàng ra Thanh Hoa vào chầu vua Lê và "đến phủ Thượng tướng (phủ của Trịnh Kiểm) lạy mừng, tỏ ra tình anh em rất thân yêu" vào thời điểm tháng Chín năm Kỷ Tỵ (1559), lúc Trịnh Kiểm đã 66 tuổi và chỉ sau một tháng lại bị bệnh nặng "phải dâng biểu xin thôi binh quyền, lời ý khẩn thiết", vua Lê phải "đặc sai con trưởng của Trịnh Kiểm là Trịnh Cối đốc lĩnh các dinh thủy bộ". Sự có mặt của Nguyễn Hoàng lúc nầy trở thành một trở ngại cho quyền lực của cha con họ Trịnh. Có lẽ vì thế, đầu năm Canh Ngọ (1570) chính Trịnh Kiểm đã dâng biểu xin vua Lê cho gọi Tổng binh Quảng Nam là Nguyên quận công Nguyễn Bá Quýnh về (trấn thủ Nghệ An) và giao Nguyễn Hoàng kiêm quản cả hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam ([6]), tạo cớ để Nguyễn Hoàng phải rời khỏi Thanh Hoa,  nhằm củng cố quyền lực độc tôn của dòng họ Trịnh bên cạnh vua Lê.
          Với cương vị mới được bổ nhiệm, Nguyễn Hoàng đã rời Thanh Hoa để trở lại vùng đất Ái Tử, đảm nhận vai trò Tổng trấn tướng quân trấn giữ vùng Thuận Quảng, kéo dài từ Quảng Bình đến Phú Yên ngày nay. Chỉ chưa đầy một tháng sau, Trịnh Kiểm bị ốm nặng và mất tại Thanh Hoa, hai anh em con Trịnh Kiểm là Trịnh Cối và Trịnh Tùng tranh giành quyền lực, chống phá lẫn nhau, nhà Mạc lại tiến quân vào đánh tận Thanh Hoa, Trịnh Tùng được vua Lê trao quyền Tả tướng điều hành tướng sĩ, Trịnh Cối đem mẹ và vợ con về hàng nhà Mạc.
          Chính trong tình thế đó, Nguyễn Hoàng đã quyết định dời dinh trấn, nhưng thay vì chuyển về phương nam để dễ tiếp cận với xứ Quảng Nam vừa mới được tiếp nhận, Nguyễn Hoàng lại chọn giải pháp chuyển dịch dinh trấn sang làng Trà Bát, ngôi làng nằm gần Ái Tử, chếch về phía đông bắc (nay là hai làng Trà Liên Đông, Trà Liên Tây, xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong). Trà Bát là ngôi làng từng được Dương Văn An liệt kê vào mục đồ bản ở sách Ô Châu Cận Lục. Đặt dinh trấn mới ở Trà Bát thực chất là mở rộng quy mô của vùng đất khởi nghiệp ban đầu ở Ái Tử, tạo thế liên hoàn Ái Tử - Trà Bát để có điều kiện phát triển quy mô của dinh trấn. Vì thế chỉ mấy năm sau đó (1572), "thuyền buôn các nước đã đến nhiều. Trấn trở nên một nơi đô hội lớn" ([7]).
          Vượt qua những trở ngại của các cuộc chiến tranh nhỏ, có tính cục bộ do nhóm Mỹ Lương, Văn Lan và Nghĩa Sơn, người huyện Khang Lộc (nay là huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình) gây ra năm 1571, trận chiến của Lập Bạo, tướng nhà Mạc, đưa chiến thuyền vượt biển vào đánh phá Ái Tử năm 1572, trận hải chiến với đám giặc biển "Hiển Quý" ở Cửa Việt năm 1585, hai xứ Thuận Quảng dưới sự điều hành của Nguyễn Hoàng vào thời kỳ nầy đã tạo được thế phát triển mới. Từ năm 1573 vua Lê đã sai người vào dinh Trà Bát sắc phong Nguyễn Hoàng làm Thái phó.
          Lê Quý Đôn, một trọng thần của chúa Trịnh, trong Phủ Biên Tạp Lục cũng phải công nhận:
          "Đoan quận công (Nguyễn Hoàng) có uy lược, xét kỷ, nghiêm minh, không ai dám lừa dối. Cai trị hơn 10 năm, chính sự khoan hòa, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản bộ, cấm đoán kẻ hung dữ. Quân dân hai xứ thân yêu tín phục, cảm nhận mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc thường đến, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệp. Hằng năm nộp thuế má để giúp việc quân việc nước, triều đình (nhà Lê) cũng được nhờ" ([8]).
          Năm 1592 Trịnh Tùng tiến quân đánh chiếm lại Đông Đô. Năm sau vua Lê và đình thần trở về kinh đô, hoàn thành công cuộc trung hưng. Từ Trà Bát, Nguyễn Hoàng đích thân chỉ huy tướng sĩ, đem theo voi ngựa và binh thuyền ra Đông Đô, mang cả sổ sách về binh lương, tiền lụa, vàng bạc và châu báu ở kho tàng của hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam dâng nộp cho triều đình. Vua Lê tỏ lời khen ngợi. Trịnh Tùng dâng biểu tâu vua phong Nguyễn Hoàng làm Tướng quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Thái úy, tiến phong Đoan quốc công, vẫn tiếp tục kiêm lãnh chức vụ Tổng trấn tướng quân Thuận Quảng ([9]), nhưng vẫn ở lại kinh đô, thống lĩnh thủy binh đi dẹp giặc biển ở các xứ Sơn Nam, Hải Dương, rồi lần lượt tham gia các chiến trận đánh tàn quân nhà Mạc ở Thái Nguyên, Tuyên Quang; hộ giá rước vua Lê lên ải Nam Quan để điều đình với nhà Minh.
          Ròng rã trong 8 năm Nguyễn Hoàng bị kẹt lại ở kinh đô, công việc cai trị ở Thuận Hóa, Quảng Nam có lẽ đều do Nguyễn Phúc Nguyên, người con trai từng được Nguyễn Hoàng khen ngợi "Con ta thật là anh kiệt" trong lần chỉ huy đánh tan đám giặc "Hiển Quý" năm 1585 ở Cửa Việt đảm nhận.
          Có thể nói, khoảng thời gian từ 1570 đến 1600, với 30 năm hình thành và phát triển, dinh trấn Trà Bát gắn liền với mảnh đất Ái Tử thuở Nguyễn Hoàng mới dựng nghiệp đã giữ vai trò là trung tâm hành chính, quân sự và kinh tế của hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam, thực chất là của vùng Đàng Trong về sau. Ở đây hình như vẫn chưa có những công trình kiến trúc dinh phủ được xây dựng theo lối tòa ngang dãy dọc, nhưng bên cạnh dinh cơ của quan Tổng trấn và các thuộc viên, Nguyễn Hoàng đã phải tổ chức một đại bản doanh của quân Thuận Quảng, có lẽ vì thế đến nay quanh vùng Trà Bát - Ái Tử còn có các làng Tả Kiên, Trung Kiên, Tiền Kiên, Hậu Kiên và người dân ở đó còn cho rằng những tên gọi nầy là phát xuất từ tên các đạo quân theo tổ chức biên chế quân đội thời Nguyễn Hoàng là Tả quân, Hữu quân, Trung quân, Tiền quân, Hậu quân.
          Trà Bát cũng chính là nơi đầu não để Nguyễn Hoàng tiếp tục thực hiện sách lược xây dựng thực lực, thu phục nhân tâm của mình với quy mô mở rộng lãnh địa cai quản ở cả hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam, bằng các chính sách chính sự khoan hòa - quân lệnh nghiêm trang - làm ơn cho dân - dụng pháp công bằng - răn giữ bản bộ - cấm đoán kẻ dữ… để quân dân hai xứ thân yêu tín phục - cảm nhận mến đức, như nhận định của Lê Quý Đôn.
          III. Dinh Cát và ước mơ của vị "chân chúa".
          Từ chuyến ra Đông Đô yết kiến vua Lê năm 1592, Nguyễn Hoàng bị lâm vào thế phải ở lại kinh đô để giúp vua Lê, thực chất là phải ở lại đất bắc, hoạt động dưới quyền chỉ huy của Trịnh Tùng (qua danh nghĩa là vua Lê). Tháng Tư năm Kỷ Hợi (1599), Trịnh Tùng đã bắt ép vua Lê tấn phong mình làm Đô nguyên súy Tổng quốc chính Thượng phụ, tước Bình An Vương ; lời văn của sắc phong khẳng định công lao và vị thế đặc biệt của Bình An Vương Trịnh Tùng "đức vọng núi cao, gia đình văn võ; dựng đặt mưu kế cho yên xã tắc, công cao sáng tỏ giữa trời, giữ điều tín mục để thân láng giềng; hòa hiếu giữ êm ngoài cõi. Công đã nêu cao trong vũ trụ, vị phải đứng đầu các thần liêu". Từ đây, Trịnh Tùng bắt đầu chuyên quyền, lấn áp quyền vua. Chỉ 17 ngày sau đó, khi vua Lê Thế Tông băng hà, Trịnh Tùng đã "bàn với triều thần" là thái tử tính không thông minh và lập con thứ là Duy Tân lên làm vua ([10]).
Trước tình thế đó, tháng Năm năm Canh Tý (1600), Nguyễn Hoàng đã mượn cớ đem quân binh bản bộ (binh từ Thuận Quảng ra) đi đánh dẹp cuộc mưu phản của nhóm Phan Ngạn, Ngô Đình Nga, Bùi Văn Khuê, rồi thừa cơ theo đường biển trở về Thuận Hóa, thoát khỏi uy quyền ràng buộc của Trịnh Tùng.
          Tương tự như 30 năm trước, khi từ Thanh Hoa về lại Ái Tử năm 1570 Nguyễn Hoàng đã dời dinh trấn sang Trà Bát, lần nầy vừa từ kinh đô về lại Trà Bát năm 1600, Nguyễn Hoàng lại quyết định dời dinh trấn từ Trà Bát sang phía đông dinh Ái Tử trước đây, với tên gọi mới là Dinh Cát. Tựu trung, dù ba lần lập dinh trấn, nhưng Nguyễn Hoàng vẫn bám giữ trục Ái Tử làm căn cứ địa, giữ vững vùng đất dựng nghiệp mà mình đã chọn từ buổi đầu tiên, song với một tâm thế khác hơn trước, tâm thế muốn chuyển từ một vị Tổng trấn tướng quân trở thành một "chân chúa", độc lập với uy quyền của Trịnh Tùng vừa mới trở thành chúa Trịnh ở phương Bắc.
          Trịnh Tùng sau khi ổn định được tình hình ở kinh đô, đã cử Thiêm Đô ngự sử Lê Nghĩa Trạch đem thư cho Nguyễn Hoàng với lời lẽ nước đôi "Đại thần phải cùng với nước cùng vui buồn. Cậu đối với nước mà nói là bề tôi huân cự mấy đời; đối với nhà mà nói thì là tình nghĩa bà con rất thân… Cháu đang cùng với cậu trù tính việc binh, đuổi kịp bọn nghịch, không ngờ cậu không đợi mệnh lệnh, tự tiện bỏ về, làm giao động lòng dân địa phương, không biết đó là bản ý của cậu chăng, hay là nghe lầm gian kế của bọn phản nghịch… Việc đã đến như thế, nếu cậu tỉnh ngộ ra, hối lại lỗi trước, nghĩ đến công nghiệp của tiên tổ, nên sai người mang thư đến hành tại bái bẩm, rồi dốc nộp tiền thuế để cung việc chi tiêu của nước, thì lấy công trừ tội… Nếu không thế, thì lấy thuận đánh nghịch, triều đình đem quân đánh có cớ lắm rồi, danh tiết của cậu rồi sẽ ra sao?" ([11]).
          Nguyễn Hoàng cũng áp dụng một chiến thuật mềm dẻo, sai sứ đi tạ ơn vua Lê và gởi thư cho Trịnh Tùng hẹn kết nghĩa thông gia. Mùa thu năm đó, Nguyễn Hoàng đã gã con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng, con trai trưởng của Trịnh Tùng, nhưng sau đó, quan hệ giữa Thuận Quảng với triều đình cũng lơi dần, Trịnh Tùng cũng không có phản ứng.
          Từ đây, thế và lực của Nguyễn Hoàng đã khác trước, hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam không còn đặt mình dưới sự lệ thuộc của vua Lê chúa Trịnh. Nguyễn Hoàng bắt đầu thực hiện một sách lược mới: sách lược chuyển từ vị thế phụ thuộc triều đình Lê - Trịnh sang tư thế tự trị, tiến tới đối đầu, với mong ước biến mình trở thành vị "chân chúa" ở phương Nam.
          Tương truyền năm 1601, khi du ngoạn, khảo sát vùng đất Hà Khê bên bờ sông Hương, Nguyễn Hoàng đã tìm tới ngọn đồi đẹp bên sông để ngắm cảnh sơn thủy hữu tình, nhân tiện ông hỏi người dân về tên ngọn đồi nầy. Người dân địa phương cho biết đồi nầy rất thiêng, tục truyền từ xưa đã có người đàn bà thể sắc còn trẻ nhưng mày tóc bạc phơ, mình vận áo đỏ quần xanh, ngồi dưới chân đồi kêu gào than vãn và cất tiếng nói to "Đời sau sẽ có bậc chân chúa đến xây chùa đây, để tụ khí thiêng, cho bền long mạch". Nói xong rồi biến mất, dân trong vùng ghi nhớ hình ảnh bà, đặt tên núi là núi Thiên Mụ. Nghe xong, Nguyễn Hoàng cả mừng, bảo rằng "Ấy là bà bảo ta mở nền định đất, biến nhà thành nước để nên nghiệp lớn". Ông đã cho cất dựng chùa, viết biển đề chữ "Thiên Mụ tự" ([12]).
          Với ước vọng xây nghiệp lớn, năm 1602 Nguyễn Hoàng đã cử con là Nguyễn Phúc Nguyên làm trấn thủ dinh Quảng Nam để làm quen về chính sự. Đích thân Nguyễn Hoàng còn lên khảo sát núi Hải Vân, đi kinh lý Quảng Nam và tiếp sứ nước Chiêm Thành sang thông hiếu.
          Năm 1604, Nguyễn Hoàng cho thành lập thêm phủ Điện Bàn, đổi phủ Tiên Bình thành phủ Quảng Bình, phủ Tư Ngãi thành phủ Quảng Ngãi… ([13]). Cũng vào năm 1604, Nguyễn Hoàng còn gởi thư cho quốc vương Nhật Bản khẳng định vị thế độc lập và đối đầu với triều đình Lê - Trịnh. Nội dung thư có đoạn "Từ năm nay trở đi các thuyền thông thương chỉ nên đến nước tôi, tiện việc mua bán, còn các xứ Thanh Hoa, Nghệ An với nước tôi là thù địch, mong rằng Quốc vương đã có lòng yêu nhau thì nên cấm hẳn các thuyền buôn qua lại xứ ấy" ([14]).
          Năm 1611 sau khi đánh dẹp đợt xâm lấn biên giới của quân Chiêm Thành, Nguyễn Hoàng đã cho thành lập phủ Phú Yên để ổn định khu vực biên giới cực nam của vùng Thuận Quảng lúc bấy giờ.
          Để thu phục nhân tâm, Nguyễn Hoàng còn cho sửa chùa Sùng Hóa (ở Phú Vang, Thừa Thiên Huế), dựng chùa Long Hưng (ở Duy Xuyên, Quảng Nam) năm 1602, dựng chùa Bảo Châu (ở Trà Kiệu, Quảng Nam) năm 1607, dựng chùa Kính Thiên (ở Lệ Thủy, Quảng Bình) năm 1609. Như vậy trong thâm ý của Nguyễn Hoàng, đạo Phật có thể làm nơi nương tựa tinh thần cho sự nghiệp "lập quốc" của dòng họ Nguyễn ([15]).
          Sách lược "xây nghiệp lớn" để trở thành "chân chúa" đang trên đà phát triển thuận lợi, thì tháng Sáu năm Canh Dần (1603) Nguyễn Hoàng qua đời ở tuổi 88. Trước lúc lâm chung, Nguyễn Hoàng đã cho triệu người con kế nghiệp là Nguyễn Phúc Nguyên và một số thân thần để dặn dò "Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Ngang (Hoành Sơn) và sông Gianh hiểm trở, phía nam ở núi Hải Vân và núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn) vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta" ([16]).
          Làm đúng lời trăn trối của Nguyễn Hoàng, từ khi nối nghiệp, Nguyễn Phúc Nguyên đã tiếp tục sửa thành lũy, đặt quan ải, vỗ về quân dân, sắp đặt lại Chính dinh, củng cố hệ thống quan lại, khuyến khích phát triển các cảng biển Hội An, Quy Nhơn… cơ nghiệp của vùng Thuận Hóa, Quảng Nam ngày càng vững mạnh.
          Năm 1623 khi Trịnh Tùng mất, Nguyễn Phúc Nguyên đã nói với các cận thần "Ta muốn nhân cơ hội nầy nổi binh để phò vua Lê, nhưng đánh người trong lúc có tang là bất nhân, thừa lúc người lâm nguy là bất võ. Huống chi ta với họ Trịnh có nghĩa thông gia, chi bằng trước hết hãy đem lễ đến phúng để xem tình hình, rồi sau hãy liệu kế" ([17]).
          Năm 1624 khi chúa Trịnh Tráng cử người vào đòi thuế đất, Nguyễn Phúc Nguyên đã lấy cớ dân mất mùa không nỡ thu thuế, hẹn khi nào được mùa sẽ giao nộp.
          Đầu năm 1626, Nguyễn Phúc Nguyên dời dinh trấn về Phước Yên (nay thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế), chuẩn bị thực lực để đối đầu với chúa Trịnh. Mùa xuân năm 1627, Trịnh Tráng đã đích thân chỉ huy đoàn quân thủy bộ tiến đánh Thuận Hóa, mở đầu cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn.
          Từ năm 1626 Dinh Cát không còn giữ vị thế là dinh trấn thủ phủ của họ Nguyễn, nhưng từ Nguyễn Phúc Nguyên đến các chúa Nguyễn về sau vẫn sử dụng dinh trấn cũ như một căn cứ tiền tiêu, với tên gọi là Cựu dinh, Ngoại dinh. Tại đây, năm 1657 Chu Thuấn Thủy và một số người Trung Hoa, người Nhật ở Hội An bị quản thúc đã được đưa ra Ngoại dinh Cát để yết kiến chúa Nguyễn Phúc Tần ([18]). Năm 1776, khi viết Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn còn mô tả "Trấn dinh cũ của họ Nguyễn ở phía tây sông Ái Tử, từ dinh mới ra đường cái, sang cầu Ái đi về tay trái nửa khắc là đến nơi, nhà quân lính vẫn còn, tức là chỗ dinh của Đoan quận công Nguyễn Hoàng khi mới vào trấn" ([19]).
          Đã 400 năm từ lúc Nguyễn Hoàng qua đời, dấu tích cụm dinh trấn Ái Tử - Trà Bát - Dinh Cát đã từng có mặt 68 năm trên vùng đất Quảng Trị, đến năm 1776 Lê Quý Đôn còn nhìn thấy, đến nay gần như không còn gì, nhưng âm vang của vùng đất khởi nghiệp thời Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên, nơi phát tích chính quyền của các chúa Nguyễn vẫn còn gợi lên nhiều vấn đề để chúng ta tiếp tục suy ngẫm. Phải chăng những sách lược thu phục nhân tâm - chính trị khoan hòa - quân lệnh nghiêm trang - dụng pháp công bằng - làm ơn cho dân - cấm đoán kẻ dữ… của thời Nguyễn Hoàng vẫn là những bài học đến nay còn mang tính thời sự./. 
Nguyễn Xuân Hoa
_____________________________
[1] Lê Quý Đôn Toàn Tập, Tập I, Đại Việt Thông Sử (Ngô Thế Long dịch), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978, tr. 305-306.
[2] Dương Văn An, Ô Châu Cận Lục, Tân dịch hiệu chú (Trần Đại Vinh, Hoàng Văn Phúc dịch và hiệu chú), NXB Thuận Hóa, Huế, 2001, tr. 91-92.
[3] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục. Tập I (Tổ phiên dịch Viện Sử học dịch), NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004, tr. 27.
[4] Vô danh thị, Ô Châu Cận Lục (Dương Văn An nhuận sắc, tập thành, Bùi Lương dịch), Văn hóa Á Châu xuất bản, Sài Gòn, 1960, tr. 46.
[5] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Sđd, tr. 28.
[6] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2009, tr. 852.
[7] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Sđd, tr. 31.
[8] Lê Quý Đôn Toàn Tập, Tập I, Phủ Biên Tạp Lục (Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Trọng Hân, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 50.
[9] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Sđd, tr. 890.
[10] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Sđd, tr. 911.
[11] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Sđd, tr. 910-915.
[12] Quốc sử quán triều Nguyễn, Sđd, tr. 35.
    Nguyễn Khoa Chiêm, Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí (Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga dịch), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2003, tr 81-83
    (Thật ra, chùa Thiên Mụ đã được Dương Văn An mô tả rất chi tiết từ năm 1555: "Chùa Thiên Mụ ở phía nam làng Hà Khê huyện Kim Trà. Trên nương đỉnh đồi, dưới gối dòng sông. Tấc gang gần gũi ven trời… thật là một cảnh trí thần tiên vậy"). Dương Văn An, Ô Châu  Cận Lục, Sđd, tr. 95.
[13] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Sđd, tr. 35-36.
[14] Trịnh Tiến Thuận. Quan hệ Nhật Việt thời chúa Trịnh, Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Chúa Trịnh, vị trí và vai trò lịch sử", Thanh Hóa, 1995.
[15] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, NXB Phương Đông, 2012, tr. 479.
[16] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Sđd, tr. 37.
[17] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Sđd, tr. 41.
[18] Chu Thuấn Thủy, Ký Sự Đến Việt Nam Năm 1657 (An Nam cung dịch kỷ sự - Vĩnh Sính dịch), Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1999, tr 28.
[19] Lê Quý Đôn Toàn Tập, Tập I, Sđd, tr. 109.