Tháng Mười năm Mậu Ngọ (1558) Nguyễn Hoàng được vua Lê Anh Tông cử vào
trấn thủ xứ Thuận Hóa. Từ đây, ông bắt đầu đứng chân trên vùng đất Quảng
Trị ngày nay để gầy dựng cơ nghiệp. Trải qua nhiều biến động, tháng Sáu
năm Quý Sửu (1613) Nguyễn Hoàng đã qua đời tại đây.
Trong 55 năm nầy, Nguyễn Hoàng đã ba lần lập dinh trấn ở Quảng Trị, lần
lượt là:
Dinh Ái Tử (1558 - 1570)
Dinh Trà Bát (1570 - 1600)
Dinh Cát (1600)
Ba lần lập dinh trấn đã thể hiện ba sách lược của Nguyễn Hoàng, đặt nền
tảng cho các chúa Nguyễn về sau xây dựng cơ nghiệp to lớn của mình ở
Đàng Trong.
I. Dinh Ái Tử, vùng đất mới thời khởi nghiệp, nơi thu phục nhân tâm.
Năm 1558, khi đề xuất vua Lê Trang Tông bổ nhiệm Nguyễn Hoàng làm Trấn thủ xứ Thuận Hóa, Thái sư Trịnh Kiểm đã đưa ra nhận định "Xứ Thuận Hóa là một kho tinh binh trong thiên hạ, buổi đầu, quốc triều ta bắt đầu gầy dựng cơ nghiệp, cũng đã dùng dân xứ ấy để dẹp giặc Ngô. Xứ ấy, địa thế hiểm trở, dân khí cương cường, lại có nhiều nguồn lợi trên rừng dưới biển, là vùng trọng yếu, không xứ nào hơn. Gần đây, quan quân kinh lược hàng mấy chục năm mới lấy được. Vậy nên hết sức bảo vệ, để làm một bức bình phong vững chắc… Hạ thần xét thấy con trai thứ của Chiêu Huân Tĩnh công (Nguyễn Kim) là Nguyễn Hoàng, là một người trầm tĩnh, cương nghị, lại có mưu lược, đối với quân sĩ có độ lượng, khoan dung giản dị. Vậy xin bổ ông làm trấn thủ, để trị an nơi biên thùy và chống giặc ở miền bắc kéo vào…" ([1]).
Đây đúng là vùng đất "mới lấy được" vì chỉ khoảng từ 3 đến 5 năm trước đó, Tiến sĩ Dương Văn An, Phó Đô ngự sử của triều Mạc, lúc về quê nhà (làng Tuy Lộc, huyện Lệ Thủy, nay thuộc tỉnh Quảng Bình) cư tang, đã nhuận sắc hai bản ghi chép (viết năm Quý Sửu 1553) về phủ Tân Bình và phủ Triệu Phong của hai nho sinh đồng hương để soạn thành sách Ô Châu Cận Lục, đề cập khá chi tiết về núi sông, thành thị, chùa quán, thuế khóa, phong tục, nhân vật; liệt kê tên 701 làng và 1 thôn của vùng Thuận Hóa. Về thành thị, Dương Văn An đã mô tả ba trọng điểm của Thuận Hóa, gồm:
Suốt hơn 10 năm từ 1558 đến 1569, Nguyễn Hoàng vẫn đảm nhận vai trò một vị quan trấn thủ của nhà Lê, thực chất là dưới sự điều hành của Thái sư Trịnh Kiểm, vừa thực hiện chiến thuật thu phục số quan lại có sẵn của nhà Lê "Phàm quan lại tam ty do nhà Lê đặt đều theo lệnh của chúa", vừa "khuya sớm chăm lo, nghĩ việc củng cố căn bản", "vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến phục" ([5]).
Có thể nói sách lược trong suốt thời kỳ đặt dinh trấn ở Ái Tử của Nguyễn Hoàng chưa phải là kế sách cát cứ, ngược lại, vị quan trấn thủ xứ Thuận Hóa vẫn thể hiện là một trọng thần của nhà Lê, hàng năm vẫn nộp đầy đủ thuế cho triều Lê ở Thanh Hoa, Nhưng thực chất việc chọn Ái Tử để lập dinh trấn là Nguyễn Hoàng đã chọn một vùng đất mới để làm đất khởi nghiệp, âm thầm xây dựng thực lực, thu phục nhân tâm để chuẩn bị cho một chiến lược lâu dài khi có thời cơ.
Tình trạng hòa hiếu để xây dựng thực lực nầy kéo dài từ 1558 đến 1569, thời điểm mà Nguyễn Hoàng sau hơn 10 năm ở Quảng Trị đã trở ra Thanh Hoa yết kiến vua Lê và đến chào mừng Thượng tướng Thái quốc công Trịnh Kiểm.
II. Dinh Trà Bát và thế phát triển mới của vùng đất Thuận - Quảng.
Nguyễn Hoàng ra Thanh Hoa vào chầu vua Lê và "đến phủ Thượng tướng (phủ của Trịnh Kiểm) lạy mừng, tỏ ra tình anh em rất thân yêu" vào thời điểm tháng Chín năm Kỷ Tỵ (1559), lúc Trịnh Kiểm đã 66 tuổi và chỉ sau một tháng lại bị bệnh nặng "phải dâng biểu xin thôi binh quyền, lời ý khẩn thiết", vua Lê phải "đặc sai con trưởng của Trịnh Kiểm là Trịnh Cối đốc lĩnh các dinh thủy bộ". Sự có mặt của Nguyễn Hoàng lúc nầy trở thành một trở ngại cho quyền lực của cha con họ Trịnh. Có lẽ vì thế, đầu năm Canh Ngọ (1570) chính Trịnh Kiểm đã dâng biểu xin vua Lê cho gọi Tổng binh Quảng Nam là Nguyên quận công Nguyễn Bá Quýnh về (trấn thủ Nghệ An) và giao Nguyễn Hoàng kiêm quản cả hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam ([6]), tạo cớ để Nguyễn Hoàng phải rời khỏi Thanh Hoa, nhằm củng cố quyền lực độc tôn của dòng họ Trịnh bên cạnh vua Lê.
Với cương vị mới được bổ nhiệm, Nguyễn Hoàng đã rời Thanh Hoa để trở lại vùng đất Ái Tử, đảm nhận vai trò Tổng trấn tướng quân trấn giữ vùng Thuận Quảng, kéo dài từ Quảng Bình đến Phú Yên ngày nay. Chỉ chưa đầy một tháng sau, Trịnh Kiểm bị ốm nặng và mất tại Thanh Hoa, hai anh em con Trịnh Kiểm là Trịnh Cối và Trịnh Tùng tranh giành quyền lực, chống phá lẫn nhau, nhà Mạc lại tiến quân vào đánh tận Thanh Hoa, Trịnh Tùng được vua Lê trao quyền Tả tướng điều hành tướng sĩ, Trịnh Cối đem mẹ và vợ con về hàng nhà Mạc.
Chính trong tình thế đó, Nguyễn Hoàng đã quyết định dời dinh trấn, nhưng thay vì chuyển về phương nam để dễ tiếp cận với xứ Quảng Nam vừa mới được tiếp nhận, Nguyễn Hoàng lại chọn giải pháp chuyển dịch dinh trấn sang làng Trà Bát, ngôi làng nằm gần Ái Tử, chếch về phía đông bắc (nay là hai làng Trà Liên Đông, Trà Liên Tây, xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong). Trà Bát là ngôi làng từng được Dương Văn An liệt kê vào mục đồ bản ở sách Ô Châu Cận Lục. Đặt dinh trấn mới ở Trà Bát thực chất là mở rộng quy mô của vùng đất khởi nghiệp ban đầu ở Ái Tử, tạo thế liên hoàn Ái Tử - Trà Bát để có điều kiện phát triển quy mô của dinh trấn. Vì thế chỉ mấy năm sau đó (1572), "thuyền buôn các nước đã đến nhiều. Trấn trở nên một nơi đô hội lớn" ([7]).
Vượt qua những trở ngại của các cuộc chiến tranh nhỏ, có tính cục bộ do nhóm Mỹ Lương, Văn Lan và Nghĩa Sơn, người huyện Khang Lộc (nay là huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình) gây ra năm 1571, trận chiến của Lập Bạo, tướng nhà Mạc, đưa chiến thuyền vượt biển vào đánh phá Ái Tử năm 1572, trận hải chiến với đám giặc biển "Hiển Quý" ở Cửa Việt năm 1585, hai xứ Thuận Quảng dưới sự điều hành của Nguyễn Hoàng vào thời kỳ nầy đã tạo được thế phát triển mới. Từ năm 1573 vua Lê đã sai người vào dinh Trà Bát sắc phong Nguyễn Hoàng làm Thái phó.
Lê Quý Đôn, một trọng thần của chúa Trịnh, trong Phủ Biên Tạp Lục cũng phải công nhận:
"Đoan quận công (Nguyễn Hoàng) có uy lược, xét kỷ, nghiêm minh, không ai dám lừa dối. Cai trị hơn 10 năm, chính sự khoan hòa, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản bộ, cấm đoán kẻ hung dữ. Quân dân hai xứ thân yêu tín phục, cảm nhận mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc thường đến, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệp. Hằng năm nộp thuế má để giúp việc quân việc nước, triều đình (nhà Lê) cũng được nhờ" ([8]).
Năm 1592 Trịnh Tùng tiến quân đánh chiếm lại Đông Đô. Năm sau vua Lê và đình thần trở về kinh đô, hoàn thành công cuộc trung hưng. Từ Trà Bát, Nguyễn Hoàng đích thân chỉ huy tướng sĩ, đem theo voi ngựa và binh thuyền ra Đông Đô, mang cả sổ sách về binh lương, tiền lụa, vàng bạc và châu báu ở kho tàng của hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam dâng nộp cho triều đình. Vua Lê tỏ lời khen ngợi. Trịnh Tùng dâng biểu tâu vua phong Nguyễn Hoàng làm Tướng quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Thái úy, tiến phong Đoan quốc công, vẫn tiếp tục kiêm lãnh chức vụ Tổng trấn tướng quân Thuận Quảng ([9]), nhưng vẫn ở lại kinh đô, thống lĩnh thủy binh đi dẹp giặc biển ở các xứ Sơn Nam, Hải Dương, rồi lần lượt tham gia các chiến trận đánh tàn quân nhà Mạc ở Thái Nguyên, Tuyên Quang; hộ giá rước vua Lê lên ải Nam Quan để điều đình với nhà Minh.
Ròng rã trong 8 năm Nguyễn Hoàng bị kẹt lại ở kinh đô, công việc cai trị ở Thuận Hóa, Quảng Nam có lẽ đều do Nguyễn Phúc Nguyên, người con trai từng được Nguyễn Hoàng khen ngợi "Con ta thật là anh kiệt" trong lần chỉ huy đánh tan đám giặc "Hiển Quý" năm 1585 ở Cửa Việt đảm nhận.
Có thể nói, khoảng thời gian từ 1570 đến 1600, với 30 năm hình thành và phát triển, dinh trấn Trà Bát gắn liền với mảnh đất Ái Tử thuở Nguyễn Hoàng mới dựng nghiệp đã giữ vai trò là trung tâm hành chính, quân sự và kinh tế của hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam, thực chất là của vùng Đàng Trong về sau. Ở đây hình như vẫn chưa có những công trình kiến trúc dinh phủ được xây dựng theo lối tòa ngang dãy dọc, nhưng bên cạnh dinh cơ của quan Tổng trấn và các thuộc viên, Nguyễn Hoàng đã phải tổ chức một đại bản doanh của quân Thuận Quảng, có lẽ vì thế đến nay quanh vùng Trà Bát - Ái Tử còn có các làng Tả Kiên, Trung Kiên, Tiền Kiên, Hậu Kiên và người dân ở đó còn cho rằng những tên gọi nầy là phát xuất từ tên các đạo quân theo tổ chức biên chế quân đội thời Nguyễn Hoàng là Tả quân, Hữu quân, Trung quân, Tiền quân, Hậu quân.
Trà Bát cũng chính là nơi đầu não để Nguyễn Hoàng tiếp tục thực hiện sách lược xây dựng thực lực, thu phục nhân tâm của mình với quy mô mở rộng lãnh địa cai quản ở cả hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam, bằng các chính sách chính sự khoan hòa - quân lệnh nghiêm trang - làm ơn cho dân - dụng pháp công bằng - răn giữ bản bộ - cấm đoán kẻ dữ… để quân dân hai xứ thân yêu tín phục - cảm nhận mến đức, như nhận định của Lê Quý Đôn.
III. Dinh Cát và ước mơ của vị "chân chúa".
Từ chuyến ra Đông Đô yết kiến vua Lê năm 1592, Nguyễn Hoàng bị lâm vào thế phải ở lại kinh đô để giúp vua Lê, thực chất là phải ở lại đất bắc, hoạt động dưới quyền chỉ huy của Trịnh Tùng (qua danh nghĩa là vua Lê). Tháng Tư năm Kỷ Hợi (1599), Trịnh Tùng đã bắt ép vua Lê tấn phong mình làm Đô nguyên súy Tổng quốc chính Thượng phụ, tước Bình An Vương ; lời văn của sắc phong khẳng định công lao và vị thế đặc biệt của Bình An Vương Trịnh Tùng "đức vọng núi cao, gia đình văn võ; dựng đặt mưu kế cho yên xã tắc, công cao sáng tỏ giữa trời, giữ điều tín mục để thân láng giềng; hòa hiếu giữ êm ngoài cõi. Công đã nêu cao trong vũ trụ, vị phải đứng đầu các thần liêu". Từ đây, Trịnh Tùng bắt đầu chuyên quyền, lấn áp quyền vua. Chỉ 17 ngày sau đó, khi vua Lê Thế Tông băng hà, Trịnh Tùng đã "bàn với triều thần" là thái tử tính không thông minh và lập con thứ là Duy Tân lên làm vua ([10]).
Trước tình thế đó, tháng Năm năm Canh Tý (1600), Nguyễn Hoàng đã mượn cớ đem quân binh bản bộ (binh từ Thuận Quảng ra) đi đánh dẹp cuộc mưu phản của nhóm Phan Ngạn, Ngô Đình Nga, Bùi Văn Khuê, rồi thừa cơ theo đường biển trở về Thuận Hóa, thoát khỏi uy quyền ràng buộc của Trịnh Tùng.
Tương tự như 30 năm trước, khi từ Thanh Hoa về lại Ái Tử năm 1570 Nguyễn Hoàng đã dời dinh trấn sang Trà Bát, lần nầy vừa từ kinh đô về lại Trà Bát năm 1600, Nguyễn Hoàng lại quyết định dời dinh trấn từ Trà Bát sang phía đông dinh Ái Tử trước đây, với tên gọi mới là Dinh Cát. Tựu trung, dù ba lần lập dinh trấn, nhưng Nguyễn Hoàng vẫn bám giữ trục Ái Tử làm căn cứ địa, giữ vững vùng đất dựng nghiệp mà mình đã chọn từ buổi đầu tiên, song với một tâm thế khác hơn trước, tâm thế muốn chuyển từ một vị Tổng trấn tướng quân trở thành một "chân chúa", độc lập với uy quyền của Trịnh Tùng vừa mới trở thành chúa Trịnh ở phương Bắc.
Trịnh Tùng sau khi ổn định được tình hình ở kinh đô, đã cử Thiêm Đô ngự sử Lê Nghĩa Trạch đem thư cho Nguyễn Hoàng với lời lẽ nước đôi "Đại thần phải cùng với nước cùng vui buồn. Cậu đối với nước mà nói là bề tôi huân cự mấy đời; đối với nhà mà nói thì là tình nghĩa bà con rất thân… Cháu đang cùng với cậu trù tính việc binh, đuổi kịp bọn nghịch, không ngờ cậu không đợi mệnh lệnh, tự tiện bỏ về, làm giao động lòng dân địa phương, không biết đó là bản ý của cậu chăng, hay là nghe lầm gian kế của bọn phản nghịch… Việc đã đến như thế, nếu cậu tỉnh ngộ ra, hối lại lỗi trước, nghĩ đến công nghiệp của tiên tổ, nên sai người mang thư đến hành tại bái bẩm, rồi dốc nộp tiền thuế để cung việc chi tiêu của nước, thì lấy công trừ tội… Nếu không thế, thì lấy thuận đánh nghịch, triều đình đem quân đánh có cớ lắm rồi, danh tiết của cậu rồi sẽ ra sao?" ([11]).
Nguyễn Hoàng cũng áp dụng một chiến thuật mềm dẻo, sai sứ đi tạ ơn vua Lê và gởi thư cho Trịnh Tùng hẹn kết nghĩa thông gia. Mùa thu năm đó, Nguyễn Hoàng đã gã con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng, con trai trưởng của Trịnh Tùng, nhưng sau đó, quan hệ giữa Thuận Quảng với triều đình cũng lơi dần, Trịnh Tùng cũng không có phản ứng.
Từ đây, thế và lực của Nguyễn Hoàng đã khác trước, hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam không còn đặt mình dưới sự lệ thuộc của vua Lê chúa Trịnh. Nguyễn Hoàng bắt đầu thực hiện một sách lược mới: sách lược chuyển từ vị thế phụ thuộc triều đình Lê - Trịnh sang tư thế tự trị, tiến tới đối đầu, với mong ước biến mình trở thành vị "chân chúa" ở phương Nam.
Tương truyền năm 1601, khi du ngoạn, khảo sát vùng đất Hà Khê bên bờ sông Hương, Nguyễn Hoàng đã tìm tới ngọn đồi đẹp bên sông để ngắm cảnh sơn thủy hữu tình, nhân tiện ông hỏi người dân về tên ngọn đồi nầy. Người dân địa phương cho biết đồi nầy rất thiêng, tục truyền từ xưa đã có người đàn bà thể sắc còn trẻ nhưng mày tóc bạc phơ, mình vận áo đỏ quần xanh, ngồi dưới chân đồi kêu gào than vãn và cất tiếng nói to "Đời sau sẽ có bậc chân chúa đến xây chùa đây, để tụ khí thiêng, cho bền long mạch". Nói xong rồi biến mất, dân trong vùng ghi nhớ hình ảnh bà, đặt tên núi là núi Thiên Mụ. Nghe xong, Nguyễn Hoàng cả mừng, bảo rằng "Ấy là bà bảo ta mở nền định đất, biến nhà thành nước để nên nghiệp lớn". Ông đã cho cất dựng chùa, viết biển đề chữ "Thiên Mụ tự" ([12]).
Với ước vọng xây nghiệp lớn, năm 1602 Nguyễn Hoàng đã cử con là Nguyễn Phúc Nguyên làm trấn thủ dinh Quảng Nam để làm quen về chính sự. Đích thân Nguyễn Hoàng còn lên khảo sát núi Hải Vân, đi kinh lý Quảng Nam và tiếp sứ nước Chiêm Thành sang thông hiếu.
Năm 1604, Nguyễn Hoàng cho thành lập thêm phủ Điện Bàn, đổi phủ Tiên Bình thành phủ Quảng Bình, phủ Tư Ngãi thành phủ Quảng Ngãi… ([13]). Cũng vào năm 1604, Nguyễn Hoàng còn gởi thư cho quốc vương Nhật Bản khẳng định vị thế độc lập và đối đầu với triều đình Lê - Trịnh. Nội dung thư có đoạn "Từ năm nay trở đi các thuyền thông thương chỉ nên đến nước tôi, tiện việc mua bán, còn các xứ Thanh Hoa, Nghệ An với nước tôi là thù địch, mong rằng Quốc vương đã có lòng yêu nhau thì nên cấm hẳn các thuyền buôn qua lại xứ ấy" ([14]).
Năm 1611 sau khi đánh dẹp đợt xâm lấn biên giới của quân Chiêm Thành, Nguyễn Hoàng đã cho thành lập phủ Phú Yên để ổn định khu vực biên giới cực nam của vùng Thuận Quảng lúc bấy giờ.
Để thu phục nhân tâm, Nguyễn Hoàng còn cho sửa chùa Sùng Hóa (ở Phú Vang, Thừa Thiên Huế), dựng chùa Long Hưng (ở Duy Xuyên, Quảng Nam) năm 1602, dựng chùa Bảo Châu (ở Trà Kiệu, Quảng Nam) năm 1607, dựng chùa Kính Thiên (ở Lệ Thủy, Quảng Bình) năm 1609. Như vậy trong thâm ý của Nguyễn Hoàng, đạo Phật có thể làm nơi nương tựa tinh thần cho sự nghiệp "lập quốc" của dòng họ Nguyễn ([15]).
Sách lược "xây nghiệp lớn" để trở thành "chân chúa" đang trên đà phát triển thuận lợi, thì tháng Sáu năm Canh Dần (1603) Nguyễn Hoàng qua đời ở tuổi 88. Trước lúc lâm chung, Nguyễn Hoàng đã cho triệu người con kế nghiệp là Nguyễn Phúc Nguyên và một số thân thần để dặn dò "Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Ngang (Hoành Sơn) và sông Gianh hiểm trở, phía nam ở núi Hải Vân và núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn) vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta" ([16]).
Làm đúng lời trăn trối của Nguyễn Hoàng, từ khi nối nghiệp, Nguyễn Phúc Nguyên đã tiếp tục sửa thành lũy, đặt quan ải, vỗ về quân dân, sắp đặt lại Chính dinh, củng cố hệ thống quan lại, khuyến khích phát triển các cảng biển Hội An, Quy Nhơn… cơ nghiệp của vùng Thuận Hóa, Quảng Nam ngày càng vững mạnh.
Năm 1623 khi Trịnh Tùng mất, Nguyễn Phúc Nguyên đã nói với các cận thần "Ta muốn nhân cơ hội nầy nổi binh để phò vua Lê, nhưng đánh người trong lúc có tang là bất nhân, thừa lúc người lâm nguy là bất võ. Huống chi ta với họ Trịnh có nghĩa thông gia, chi bằng trước hết hãy đem lễ đến phúng để xem tình hình, rồi sau hãy liệu kế" ([17]).
Năm 1624 khi chúa Trịnh Tráng cử người vào đòi thuế đất, Nguyễn Phúc Nguyên đã lấy cớ dân mất mùa không nỡ thu thuế, hẹn khi nào được mùa sẽ giao nộp.
Đầu năm 1626, Nguyễn Phúc Nguyên dời dinh trấn về Phước Yên (nay thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế), chuẩn bị thực lực để đối đầu với chúa Trịnh. Mùa xuân năm 1627, Trịnh Tráng đã đích thân chỉ huy đoàn quân thủy bộ tiến đánh Thuận Hóa, mở đầu cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn.
Từ năm 1626 Dinh Cát không còn giữ vị thế là dinh trấn thủ phủ của họ Nguyễn, nhưng từ Nguyễn Phúc Nguyên đến các chúa Nguyễn về sau vẫn sử dụng dinh trấn cũ như một căn cứ tiền tiêu, với tên gọi là Cựu dinh, Ngoại dinh. Tại đây, năm 1657 Chu Thuấn Thủy và một số người Trung Hoa, người Nhật ở Hội An bị quản thúc đã được đưa ra Ngoại dinh Cát để yết kiến chúa Nguyễn Phúc Tần ([18]). Năm 1776, khi viết Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn còn mô tả "Trấn dinh cũ của họ Nguyễn ở phía tây sông Ái Tử, từ dinh mới ra đường cái, sang cầu Ái đi về tay trái nửa khắc là đến nơi, nhà quân lính vẫn còn, tức là chỗ dinh của Đoan quận công Nguyễn Hoàng khi mới vào trấn" ([19]).
Đã 400 năm từ lúc Nguyễn Hoàng qua đời, dấu tích cụm dinh trấn Ái Tử - Trà Bát - Dinh Cát đã từng có mặt 68 năm trên vùng đất Quảng Trị, đến năm 1776 Lê Quý Đôn còn nhìn thấy, đến nay gần như không còn gì, nhưng âm vang của vùng đất khởi nghiệp thời Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên, nơi phát tích chính quyền của các chúa Nguyễn vẫn còn gợi lên nhiều vấn đề để chúng ta tiếp tục suy ngẫm. Phải chăng những sách lược thu phục nhân tâm - chính trị khoan hòa - quân lệnh nghiêm trang - dụng pháp công bằng - làm ơn cho dân - cấm đoán kẻ dữ… của thời Nguyễn Hoàng vẫn là những bài học đến nay còn mang tính thời sự./.
[1] Lê Quý Đôn Toàn Tập, Tập I, Đại Việt Thông Sử (Ngô Thế Long dịch), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978, tr. 305-306.
Năm 1558, khi đề xuất vua Lê Trang Tông bổ nhiệm Nguyễn Hoàng làm Trấn thủ xứ Thuận Hóa, Thái sư Trịnh Kiểm đã đưa ra nhận định "Xứ Thuận Hóa là một kho tinh binh trong thiên hạ, buổi đầu, quốc triều ta bắt đầu gầy dựng cơ nghiệp, cũng đã dùng dân xứ ấy để dẹp giặc Ngô. Xứ ấy, địa thế hiểm trở, dân khí cương cường, lại có nhiều nguồn lợi trên rừng dưới biển, là vùng trọng yếu, không xứ nào hơn. Gần đây, quan quân kinh lược hàng mấy chục năm mới lấy được. Vậy nên hết sức bảo vệ, để làm một bức bình phong vững chắc… Hạ thần xét thấy con trai thứ của Chiêu Huân Tĩnh công (Nguyễn Kim) là Nguyễn Hoàng, là một người trầm tĩnh, cương nghị, lại có mưu lược, đối với quân sĩ có độ lượng, khoan dung giản dị. Vậy xin bổ ông làm trấn thủ, để trị an nơi biên thùy và chống giặc ở miền bắc kéo vào…" ([1]).
Đây đúng là vùng đất "mới lấy được" vì chỉ khoảng từ 3 đến 5 năm trước đó, Tiến sĩ Dương Văn An, Phó Đô ngự sử của triều Mạc, lúc về quê nhà (làng Tuy Lộc, huyện Lệ Thủy, nay thuộc tỉnh Quảng Bình) cư tang, đã nhuận sắc hai bản ghi chép (viết năm Quý Sửu 1553) về phủ Tân Bình và phủ Triệu Phong của hai nho sinh đồng hương để soạn thành sách Ô Châu Cận Lục, đề cập khá chi tiết về núi sông, thành thị, chùa quán, thuế khóa, phong tục, nhân vật; liệt kê tên 701 làng và 1 thôn của vùng Thuận Hóa. Về thành thị, Dương Văn An đã mô tả ba trọng điểm của Thuận Hóa, gồm:
"Hóa thành: tại địa phận huyện Đan Điền (nay là Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế), sông
cái chảy qua phía tây, còn một nhánh sông con chảy vào trong thành. Bên
hữu sông nầy là nơi đặt nha môn đô ty, thừa ty và học xá phủ Triệu
Phong… Tòa thành trăm trĩ vươn cao, sừng sững như đám mây dài. Đó là địa
hình tụ hội…"
"Thuận thành: ở địa phận huyện Hải Lăng (nay thuộc tỉnh Quảng Trị), phía tây có nhánh sông dài, cầu ở phía đông cao ngất, chợ sớm đông đúc. Ngoài thành là huyện trị. Bên trong thành có kho thóc đầy đủ"
"Chợ Thuận: tại địa phận hai huyện Vũ Xương, Hải Lăng. Từ phía tây nam, sông cái chảy vào, có dòng khe nhỏ. Trên khe gác cây cầu dài, phía nam cầu quán xá xếp hàng. Rồi huyện rồi thành ở hai bên đông tây đối diện. Nào đường thủy, đường bộ đều thông suốt. Là một nơi tấp nập của Thuận châu vậy" ([2])
Có thể cuộc chiến tranh đánh đuổi quân Mạc của nhà Lê ở Thuận Hóa vừa xảy ra trước đó không lâu đã gây ra nhiều xáo trộn, nhưng có lẽ hình thái chiến tranh cổ điển thời bấy giờ cũng không phá vỡ hết kết cấu hạ tầng và xã hội của một số thành thị đã có như Hóa thành, Thuận thành và chợ Thuận. Nhưng vì sao vào thời điểm 1558 Nguyễn Hoàng không chọn thành Hóa Châu hoặc thành Thuận Châu để đặt dinh trấn như các triều trước?
Quốc sử quán triều Nguyễn đã hé lộ một thông tin quan trọng "Bấy giờ xứ Thuận Hóa mới dẹp yên, tuy nhà Lê đã đặt tam ty (Đô ty, Thừa ty, Hiến ty) và phủ huyện để cai trị, nhưng nhân dân vẫn chưa một lòng" ([3]). Có thể vì điều nầy mà Nguyễn Hoàng không theo thông lệ để chọn những trung tâm chính trị - kinh tế vốn đã tồn tại hàng trăm năm dưới các triều đại trước để đặt làm trị sở.
Chọn Ái Tử, vùng đất nằm bên bờ sông Thạch Hãn, nối liền với Cửa Việt, có những bãi cát trống trải, thuận lợi cho việc phòng thủ theo quan điểm quân sự cổ điển thời bấy giờ có lẽ chỉ là một phần. Phần quan trọng hơn, có thể Nguyễn Hoàng muốn chọn một vùng đất mới, vùng đất chưa chịu ảnh hưởng sâu đậm của triều đại trước để dễ thực hiện sách lược thu phục nhân tâm của riêng mình.
Ái Tử chỉ là một ngôi làng bình thường của huyện Vũ Xương (nay thuộc xã Triệu Ái và thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị), ngôi làng mà trước đó mấy năm Dương Văn An chỉ nhắc tên ở mục đồ bản và có lời bình không mấy tốt ở phần tổng luận về phong tục "Tên làng Ái Tử, sao nỡ bán con cho người" ([4]). Tương truyền khi Nguyễn Hoàng và đoàn dân binh gồm những người đồng hương Tống Sơn và những nghĩa dũng xứ Thanh Hoa theo dòng sông Thạch Hãn để đổ bộ lên làng Ái Tử, quan sở tại là Tống Phước Trị đã ra nghênh đón. Dân chúng ở Ái Tử và các làng lân cận cũng nô nức chào đón. Họ đã dâng lên Nguyễn Hoàng bảy vò nước trong, mà về sau nhà Nguyễn đã diễn dịch theo nghĩa người dân đã dâng "Nước" để chúa Tiên (Nguyễn Hoàng) lập quốc.
Chính từ vùng đất mới nầy, Nguyễn Hoàng hoàn toàn thuận lợi để thực
hiện sách lược đầu tiên của mình: Vừa làm tốt chức trách của một vị quan
trấn thủ, mở mang vùng đất mới, vừa bắt tay xây dựng trên bãi đất trống
một căn cứ địa, làm vùng đất khởi nghiệp; đồng thời thực hiện chính
sách thu phục nhân tâm, dựa vào lòng dân ở vùng đất mới đang hướng vọng
vào vị quan trấn thủ để xây dựng thực lực, chuẩn bị cho một kế sách lâu
dài."Thuận thành: ở địa phận huyện Hải Lăng (nay thuộc tỉnh Quảng Trị), phía tây có nhánh sông dài, cầu ở phía đông cao ngất, chợ sớm đông đúc. Ngoài thành là huyện trị. Bên trong thành có kho thóc đầy đủ"
"Chợ Thuận: tại địa phận hai huyện Vũ Xương, Hải Lăng. Từ phía tây nam, sông cái chảy vào, có dòng khe nhỏ. Trên khe gác cây cầu dài, phía nam cầu quán xá xếp hàng. Rồi huyện rồi thành ở hai bên đông tây đối diện. Nào đường thủy, đường bộ đều thông suốt. Là một nơi tấp nập của Thuận châu vậy" ([2])
Có thể cuộc chiến tranh đánh đuổi quân Mạc của nhà Lê ở Thuận Hóa vừa xảy ra trước đó không lâu đã gây ra nhiều xáo trộn, nhưng có lẽ hình thái chiến tranh cổ điển thời bấy giờ cũng không phá vỡ hết kết cấu hạ tầng và xã hội của một số thành thị đã có như Hóa thành, Thuận thành và chợ Thuận. Nhưng vì sao vào thời điểm 1558 Nguyễn Hoàng không chọn thành Hóa Châu hoặc thành Thuận Châu để đặt dinh trấn như các triều trước?
Quốc sử quán triều Nguyễn đã hé lộ một thông tin quan trọng "Bấy giờ xứ Thuận Hóa mới dẹp yên, tuy nhà Lê đã đặt tam ty (Đô ty, Thừa ty, Hiến ty) và phủ huyện để cai trị, nhưng nhân dân vẫn chưa một lòng" ([3]). Có thể vì điều nầy mà Nguyễn Hoàng không theo thông lệ để chọn những trung tâm chính trị - kinh tế vốn đã tồn tại hàng trăm năm dưới các triều đại trước để đặt làm trị sở.
Chọn Ái Tử, vùng đất nằm bên bờ sông Thạch Hãn, nối liền với Cửa Việt, có những bãi cát trống trải, thuận lợi cho việc phòng thủ theo quan điểm quân sự cổ điển thời bấy giờ có lẽ chỉ là một phần. Phần quan trọng hơn, có thể Nguyễn Hoàng muốn chọn một vùng đất mới, vùng đất chưa chịu ảnh hưởng sâu đậm của triều đại trước để dễ thực hiện sách lược thu phục nhân tâm của riêng mình.
Ái Tử chỉ là một ngôi làng bình thường của huyện Vũ Xương (nay thuộc xã Triệu Ái và thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị), ngôi làng mà trước đó mấy năm Dương Văn An chỉ nhắc tên ở mục đồ bản và có lời bình không mấy tốt ở phần tổng luận về phong tục "Tên làng Ái Tử, sao nỡ bán con cho người" ([4]). Tương truyền khi Nguyễn Hoàng và đoàn dân binh gồm những người đồng hương Tống Sơn và những nghĩa dũng xứ Thanh Hoa theo dòng sông Thạch Hãn để đổ bộ lên làng Ái Tử, quan sở tại là Tống Phước Trị đã ra nghênh đón. Dân chúng ở Ái Tử và các làng lân cận cũng nô nức chào đón. Họ đã dâng lên Nguyễn Hoàng bảy vò nước trong, mà về sau nhà Nguyễn đã diễn dịch theo nghĩa người dân đã dâng "Nước" để chúa Tiên (Nguyễn Hoàng) lập quốc.
Suốt hơn 10 năm từ 1558 đến 1569, Nguyễn Hoàng vẫn đảm nhận vai trò một vị quan trấn thủ của nhà Lê, thực chất là dưới sự điều hành của Thái sư Trịnh Kiểm, vừa thực hiện chiến thuật thu phục số quan lại có sẵn của nhà Lê "Phàm quan lại tam ty do nhà Lê đặt đều theo lệnh của chúa", vừa "khuya sớm chăm lo, nghĩ việc củng cố căn bản", "vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến phục" ([5]).
Có thể nói sách lược trong suốt thời kỳ đặt dinh trấn ở Ái Tử của Nguyễn Hoàng chưa phải là kế sách cát cứ, ngược lại, vị quan trấn thủ xứ Thuận Hóa vẫn thể hiện là một trọng thần của nhà Lê, hàng năm vẫn nộp đầy đủ thuế cho triều Lê ở Thanh Hoa, Nhưng thực chất việc chọn Ái Tử để lập dinh trấn là Nguyễn Hoàng đã chọn một vùng đất mới để làm đất khởi nghiệp, âm thầm xây dựng thực lực, thu phục nhân tâm để chuẩn bị cho một chiến lược lâu dài khi có thời cơ.
Tình trạng hòa hiếu để xây dựng thực lực nầy kéo dài từ 1558 đến 1569, thời điểm mà Nguyễn Hoàng sau hơn 10 năm ở Quảng Trị đã trở ra Thanh Hoa yết kiến vua Lê và đến chào mừng Thượng tướng Thái quốc công Trịnh Kiểm.
II. Dinh Trà Bát và thế phát triển mới của vùng đất Thuận - Quảng.
Nguyễn Hoàng ra Thanh Hoa vào chầu vua Lê và "đến phủ Thượng tướng (phủ của Trịnh Kiểm) lạy mừng, tỏ ra tình anh em rất thân yêu" vào thời điểm tháng Chín năm Kỷ Tỵ (1559), lúc Trịnh Kiểm đã 66 tuổi và chỉ sau một tháng lại bị bệnh nặng "phải dâng biểu xin thôi binh quyền, lời ý khẩn thiết", vua Lê phải "đặc sai con trưởng của Trịnh Kiểm là Trịnh Cối đốc lĩnh các dinh thủy bộ". Sự có mặt của Nguyễn Hoàng lúc nầy trở thành một trở ngại cho quyền lực của cha con họ Trịnh. Có lẽ vì thế, đầu năm Canh Ngọ (1570) chính Trịnh Kiểm đã dâng biểu xin vua Lê cho gọi Tổng binh Quảng Nam là Nguyên quận công Nguyễn Bá Quýnh về (trấn thủ Nghệ An) và giao Nguyễn Hoàng kiêm quản cả hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam ([6]), tạo cớ để Nguyễn Hoàng phải rời khỏi Thanh Hoa, nhằm củng cố quyền lực độc tôn của dòng họ Trịnh bên cạnh vua Lê.
Với cương vị mới được bổ nhiệm, Nguyễn Hoàng đã rời Thanh Hoa để trở lại vùng đất Ái Tử, đảm nhận vai trò Tổng trấn tướng quân trấn giữ vùng Thuận Quảng, kéo dài từ Quảng Bình đến Phú Yên ngày nay. Chỉ chưa đầy một tháng sau, Trịnh Kiểm bị ốm nặng và mất tại Thanh Hoa, hai anh em con Trịnh Kiểm là Trịnh Cối và Trịnh Tùng tranh giành quyền lực, chống phá lẫn nhau, nhà Mạc lại tiến quân vào đánh tận Thanh Hoa, Trịnh Tùng được vua Lê trao quyền Tả tướng điều hành tướng sĩ, Trịnh Cối đem mẹ và vợ con về hàng nhà Mạc.
Chính trong tình thế đó, Nguyễn Hoàng đã quyết định dời dinh trấn, nhưng thay vì chuyển về phương nam để dễ tiếp cận với xứ Quảng Nam vừa mới được tiếp nhận, Nguyễn Hoàng lại chọn giải pháp chuyển dịch dinh trấn sang làng Trà Bát, ngôi làng nằm gần Ái Tử, chếch về phía đông bắc (nay là hai làng Trà Liên Đông, Trà Liên Tây, xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong). Trà Bát là ngôi làng từng được Dương Văn An liệt kê vào mục đồ bản ở sách Ô Châu Cận Lục. Đặt dinh trấn mới ở Trà Bát thực chất là mở rộng quy mô của vùng đất khởi nghiệp ban đầu ở Ái Tử, tạo thế liên hoàn Ái Tử - Trà Bát để có điều kiện phát triển quy mô của dinh trấn. Vì thế chỉ mấy năm sau đó (1572), "thuyền buôn các nước đã đến nhiều. Trấn trở nên một nơi đô hội lớn" ([7]).
Vượt qua những trở ngại của các cuộc chiến tranh nhỏ, có tính cục bộ do nhóm Mỹ Lương, Văn Lan và Nghĩa Sơn, người huyện Khang Lộc (nay là huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình) gây ra năm 1571, trận chiến của Lập Bạo, tướng nhà Mạc, đưa chiến thuyền vượt biển vào đánh phá Ái Tử năm 1572, trận hải chiến với đám giặc biển "Hiển Quý" ở Cửa Việt năm 1585, hai xứ Thuận Quảng dưới sự điều hành của Nguyễn Hoàng vào thời kỳ nầy đã tạo được thế phát triển mới. Từ năm 1573 vua Lê đã sai người vào dinh Trà Bát sắc phong Nguyễn Hoàng làm Thái phó.
Lê Quý Đôn, một trọng thần của chúa Trịnh, trong Phủ Biên Tạp Lục cũng phải công nhận:
"Đoan quận công (Nguyễn Hoàng) có uy lược, xét kỷ, nghiêm minh, không ai dám lừa dối. Cai trị hơn 10 năm, chính sự khoan hòa, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản bộ, cấm đoán kẻ hung dữ. Quân dân hai xứ thân yêu tín phục, cảm nhận mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc thường đến, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệp. Hằng năm nộp thuế má để giúp việc quân việc nước, triều đình (nhà Lê) cũng được nhờ" ([8]).
Năm 1592 Trịnh Tùng tiến quân đánh chiếm lại Đông Đô. Năm sau vua Lê và đình thần trở về kinh đô, hoàn thành công cuộc trung hưng. Từ Trà Bát, Nguyễn Hoàng đích thân chỉ huy tướng sĩ, đem theo voi ngựa và binh thuyền ra Đông Đô, mang cả sổ sách về binh lương, tiền lụa, vàng bạc và châu báu ở kho tàng của hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam dâng nộp cho triều đình. Vua Lê tỏ lời khen ngợi. Trịnh Tùng dâng biểu tâu vua phong Nguyễn Hoàng làm Tướng quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Thái úy, tiến phong Đoan quốc công, vẫn tiếp tục kiêm lãnh chức vụ Tổng trấn tướng quân Thuận Quảng ([9]), nhưng vẫn ở lại kinh đô, thống lĩnh thủy binh đi dẹp giặc biển ở các xứ Sơn Nam, Hải Dương, rồi lần lượt tham gia các chiến trận đánh tàn quân nhà Mạc ở Thái Nguyên, Tuyên Quang; hộ giá rước vua Lê lên ải Nam Quan để điều đình với nhà Minh.
Ròng rã trong 8 năm Nguyễn Hoàng bị kẹt lại ở kinh đô, công việc cai trị ở Thuận Hóa, Quảng Nam có lẽ đều do Nguyễn Phúc Nguyên, người con trai từng được Nguyễn Hoàng khen ngợi "Con ta thật là anh kiệt" trong lần chỉ huy đánh tan đám giặc "Hiển Quý" năm 1585 ở Cửa Việt đảm nhận.
Có thể nói, khoảng thời gian từ 1570 đến 1600, với 30 năm hình thành và phát triển, dinh trấn Trà Bát gắn liền với mảnh đất Ái Tử thuở Nguyễn Hoàng mới dựng nghiệp đã giữ vai trò là trung tâm hành chính, quân sự và kinh tế của hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam, thực chất là của vùng Đàng Trong về sau. Ở đây hình như vẫn chưa có những công trình kiến trúc dinh phủ được xây dựng theo lối tòa ngang dãy dọc, nhưng bên cạnh dinh cơ của quan Tổng trấn và các thuộc viên, Nguyễn Hoàng đã phải tổ chức một đại bản doanh của quân Thuận Quảng, có lẽ vì thế đến nay quanh vùng Trà Bát - Ái Tử còn có các làng Tả Kiên, Trung Kiên, Tiền Kiên, Hậu Kiên và người dân ở đó còn cho rằng những tên gọi nầy là phát xuất từ tên các đạo quân theo tổ chức biên chế quân đội thời Nguyễn Hoàng là Tả quân, Hữu quân, Trung quân, Tiền quân, Hậu quân.
Trà Bát cũng chính là nơi đầu não để Nguyễn Hoàng tiếp tục thực hiện sách lược xây dựng thực lực, thu phục nhân tâm của mình với quy mô mở rộng lãnh địa cai quản ở cả hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam, bằng các chính sách chính sự khoan hòa - quân lệnh nghiêm trang - làm ơn cho dân - dụng pháp công bằng - răn giữ bản bộ - cấm đoán kẻ dữ… để quân dân hai xứ thân yêu tín phục - cảm nhận mến đức, như nhận định của Lê Quý Đôn.
III. Dinh Cát và ước mơ của vị "chân chúa".
Từ chuyến ra Đông Đô yết kiến vua Lê năm 1592, Nguyễn Hoàng bị lâm vào thế phải ở lại kinh đô để giúp vua Lê, thực chất là phải ở lại đất bắc, hoạt động dưới quyền chỉ huy của Trịnh Tùng (qua danh nghĩa là vua Lê). Tháng Tư năm Kỷ Hợi (1599), Trịnh Tùng đã bắt ép vua Lê tấn phong mình làm Đô nguyên súy Tổng quốc chính Thượng phụ, tước Bình An Vương ; lời văn của sắc phong khẳng định công lao và vị thế đặc biệt của Bình An Vương Trịnh Tùng "đức vọng núi cao, gia đình văn võ; dựng đặt mưu kế cho yên xã tắc, công cao sáng tỏ giữa trời, giữ điều tín mục để thân láng giềng; hòa hiếu giữ êm ngoài cõi. Công đã nêu cao trong vũ trụ, vị phải đứng đầu các thần liêu". Từ đây, Trịnh Tùng bắt đầu chuyên quyền, lấn áp quyền vua. Chỉ 17 ngày sau đó, khi vua Lê Thế Tông băng hà, Trịnh Tùng đã "bàn với triều thần" là thái tử tính không thông minh và lập con thứ là Duy Tân lên làm vua ([10]).
Trước tình thế đó, tháng Năm năm Canh Tý (1600), Nguyễn Hoàng đã mượn cớ đem quân binh bản bộ (binh từ Thuận Quảng ra) đi đánh dẹp cuộc mưu phản của nhóm Phan Ngạn, Ngô Đình Nga, Bùi Văn Khuê, rồi thừa cơ theo đường biển trở về Thuận Hóa, thoát khỏi uy quyền ràng buộc của Trịnh Tùng.
Tương tự như 30 năm trước, khi từ Thanh Hoa về lại Ái Tử năm 1570 Nguyễn Hoàng đã dời dinh trấn sang Trà Bát, lần nầy vừa từ kinh đô về lại Trà Bát năm 1600, Nguyễn Hoàng lại quyết định dời dinh trấn từ Trà Bát sang phía đông dinh Ái Tử trước đây, với tên gọi mới là Dinh Cát. Tựu trung, dù ba lần lập dinh trấn, nhưng Nguyễn Hoàng vẫn bám giữ trục Ái Tử làm căn cứ địa, giữ vững vùng đất dựng nghiệp mà mình đã chọn từ buổi đầu tiên, song với một tâm thế khác hơn trước, tâm thế muốn chuyển từ một vị Tổng trấn tướng quân trở thành một "chân chúa", độc lập với uy quyền của Trịnh Tùng vừa mới trở thành chúa Trịnh ở phương Bắc.
Trịnh Tùng sau khi ổn định được tình hình ở kinh đô, đã cử Thiêm Đô ngự sử Lê Nghĩa Trạch đem thư cho Nguyễn Hoàng với lời lẽ nước đôi "Đại thần phải cùng với nước cùng vui buồn. Cậu đối với nước mà nói là bề tôi huân cự mấy đời; đối với nhà mà nói thì là tình nghĩa bà con rất thân… Cháu đang cùng với cậu trù tính việc binh, đuổi kịp bọn nghịch, không ngờ cậu không đợi mệnh lệnh, tự tiện bỏ về, làm giao động lòng dân địa phương, không biết đó là bản ý của cậu chăng, hay là nghe lầm gian kế của bọn phản nghịch… Việc đã đến như thế, nếu cậu tỉnh ngộ ra, hối lại lỗi trước, nghĩ đến công nghiệp của tiên tổ, nên sai người mang thư đến hành tại bái bẩm, rồi dốc nộp tiền thuế để cung việc chi tiêu của nước, thì lấy công trừ tội… Nếu không thế, thì lấy thuận đánh nghịch, triều đình đem quân đánh có cớ lắm rồi, danh tiết của cậu rồi sẽ ra sao?" ([11]).
Nguyễn Hoàng cũng áp dụng một chiến thuật mềm dẻo, sai sứ đi tạ ơn vua Lê và gởi thư cho Trịnh Tùng hẹn kết nghĩa thông gia. Mùa thu năm đó, Nguyễn Hoàng đã gã con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng, con trai trưởng của Trịnh Tùng, nhưng sau đó, quan hệ giữa Thuận Quảng với triều đình cũng lơi dần, Trịnh Tùng cũng không có phản ứng.
Từ đây, thế và lực của Nguyễn Hoàng đã khác trước, hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam không còn đặt mình dưới sự lệ thuộc của vua Lê chúa Trịnh. Nguyễn Hoàng bắt đầu thực hiện một sách lược mới: sách lược chuyển từ vị thế phụ thuộc triều đình Lê - Trịnh sang tư thế tự trị, tiến tới đối đầu, với mong ước biến mình trở thành vị "chân chúa" ở phương Nam.
Tương truyền năm 1601, khi du ngoạn, khảo sát vùng đất Hà Khê bên bờ sông Hương, Nguyễn Hoàng đã tìm tới ngọn đồi đẹp bên sông để ngắm cảnh sơn thủy hữu tình, nhân tiện ông hỏi người dân về tên ngọn đồi nầy. Người dân địa phương cho biết đồi nầy rất thiêng, tục truyền từ xưa đã có người đàn bà thể sắc còn trẻ nhưng mày tóc bạc phơ, mình vận áo đỏ quần xanh, ngồi dưới chân đồi kêu gào than vãn và cất tiếng nói to "Đời sau sẽ có bậc chân chúa đến xây chùa đây, để tụ khí thiêng, cho bền long mạch". Nói xong rồi biến mất, dân trong vùng ghi nhớ hình ảnh bà, đặt tên núi là núi Thiên Mụ. Nghe xong, Nguyễn Hoàng cả mừng, bảo rằng "Ấy là bà bảo ta mở nền định đất, biến nhà thành nước để nên nghiệp lớn". Ông đã cho cất dựng chùa, viết biển đề chữ "Thiên Mụ tự" ([12]).
Với ước vọng xây nghiệp lớn, năm 1602 Nguyễn Hoàng đã cử con là Nguyễn Phúc Nguyên làm trấn thủ dinh Quảng Nam để làm quen về chính sự. Đích thân Nguyễn Hoàng còn lên khảo sát núi Hải Vân, đi kinh lý Quảng Nam và tiếp sứ nước Chiêm Thành sang thông hiếu.
Năm 1604, Nguyễn Hoàng cho thành lập thêm phủ Điện Bàn, đổi phủ Tiên Bình thành phủ Quảng Bình, phủ Tư Ngãi thành phủ Quảng Ngãi… ([13]). Cũng vào năm 1604, Nguyễn Hoàng còn gởi thư cho quốc vương Nhật Bản khẳng định vị thế độc lập và đối đầu với triều đình Lê - Trịnh. Nội dung thư có đoạn "Từ năm nay trở đi các thuyền thông thương chỉ nên đến nước tôi, tiện việc mua bán, còn các xứ Thanh Hoa, Nghệ An với nước tôi là thù địch, mong rằng Quốc vương đã có lòng yêu nhau thì nên cấm hẳn các thuyền buôn qua lại xứ ấy" ([14]).
Năm 1611 sau khi đánh dẹp đợt xâm lấn biên giới của quân Chiêm Thành, Nguyễn Hoàng đã cho thành lập phủ Phú Yên để ổn định khu vực biên giới cực nam của vùng Thuận Quảng lúc bấy giờ.
Để thu phục nhân tâm, Nguyễn Hoàng còn cho sửa chùa Sùng Hóa (ở Phú Vang, Thừa Thiên Huế), dựng chùa Long Hưng (ở Duy Xuyên, Quảng Nam) năm 1602, dựng chùa Bảo Châu (ở Trà Kiệu, Quảng Nam) năm 1607, dựng chùa Kính Thiên (ở Lệ Thủy, Quảng Bình) năm 1609. Như vậy trong thâm ý của Nguyễn Hoàng, đạo Phật có thể làm nơi nương tựa tinh thần cho sự nghiệp "lập quốc" của dòng họ Nguyễn ([15]).
Sách lược "xây nghiệp lớn" để trở thành "chân chúa" đang trên đà phát triển thuận lợi, thì tháng Sáu năm Canh Dần (1603) Nguyễn Hoàng qua đời ở tuổi 88. Trước lúc lâm chung, Nguyễn Hoàng đã cho triệu người con kế nghiệp là Nguyễn Phúc Nguyên và một số thân thần để dặn dò "Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Ngang (Hoành Sơn) và sông Gianh hiểm trở, phía nam ở núi Hải Vân và núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn) vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta" ([16]).
Làm đúng lời trăn trối của Nguyễn Hoàng, từ khi nối nghiệp, Nguyễn Phúc Nguyên đã tiếp tục sửa thành lũy, đặt quan ải, vỗ về quân dân, sắp đặt lại Chính dinh, củng cố hệ thống quan lại, khuyến khích phát triển các cảng biển Hội An, Quy Nhơn… cơ nghiệp của vùng Thuận Hóa, Quảng Nam ngày càng vững mạnh.
Năm 1623 khi Trịnh Tùng mất, Nguyễn Phúc Nguyên đã nói với các cận thần "Ta muốn nhân cơ hội nầy nổi binh để phò vua Lê, nhưng đánh người trong lúc có tang là bất nhân, thừa lúc người lâm nguy là bất võ. Huống chi ta với họ Trịnh có nghĩa thông gia, chi bằng trước hết hãy đem lễ đến phúng để xem tình hình, rồi sau hãy liệu kế" ([17]).
Năm 1624 khi chúa Trịnh Tráng cử người vào đòi thuế đất, Nguyễn Phúc Nguyên đã lấy cớ dân mất mùa không nỡ thu thuế, hẹn khi nào được mùa sẽ giao nộp.
Đầu năm 1626, Nguyễn Phúc Nguyên dời dinh trấn về Phước Yên (nay thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế), chuẩn bị thực lực để đối đầu với chúa Trịnh. Mùa xuân năm 1627, Trịnh Tráng đã đích thân chỉ huy đoàn quân thủy bộ tiến đánh Thuận Hóa, mở đầu cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn.
Từ năm 1626 Dinh Cát không còn giữ vị thế là dinh trấn thủ phủ của họ Nguyễn, nhưng từ Nguyễn Phúc Nguyên đến các chúa Nguyễn về sau vẫn sử dụng dinh trấn cũ như một căn cứ tiền tiêu, với tên gọi là Cựu dinh, Ngoại dinh. Tại đây, năm 1657 Chu Thuấn Thủy và một số người Trung Hoa, người Nhật ở Hội An bị quản thúc đã được đưa ra Ngoại dinh Cát để yết kiến chúa Nguyễn Phúc Tần ([18]). Năm 1776, khi viết Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn còn mô tả "Trấn dinh cũ của họ Nguyễn ở phía tây sông Ái Tử, từ dinh mới ra đường cái, sang cầu Ái đi về tay trái nửa khắc là đến nơi, nhà quân lính vẫn còn, tức là chỗ dinh của Đoan quận công Nguyễn Hoàng khi mới vào trấn" ([19]).
Đã 400 năm từ lúc Nguyễn Hoàng qua đời, dấu tích cụm dinh trấn Ái Tử - Trà Bát - Dinh Cát đã từng có mặt 68 năm trên vùng đất Quảng Trị, đến năm 1776 Lê Quý Đôn còn nhìn thấy, đến nay gần như không còn gì, nhưng âm vang của vùng đất khởi nghiệp thời Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên, nơi phát tích chính quyền của các chúa Nguyễn vẫn còn gợi lên nhiều vấn đề để chúng ta tiếp tục suy ngẫm. Phải chăng những sách lược thu phục nhân tâm - chính trị khoan hòa - quân lệnh nghiêm trang - dụng pháp công bằng - làm ơn cho dân - cấm đoán kẻ dữ… của thời Nguyễn Hoàng vẫn là những bài học đến nay còn mang tính thời sự./.
Nguyễn Xuân Hoa
_____________________________[1] Lê Quý Đôn Toàn Tập, Tập I, Đại Việt Thông Sử (Ngô Thế Long dịch), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978, tr. 305-306.
[2]
Dương Văn An, Ô Châu Cận Lục, Tân dịch hiệu chú (Trần Đại Vinh, Hoàng
Văn Phúc dịch và hiệu chú), NXB Thuận Hóa, Huế, 2001, tr. 91-92.
[3] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục. Tập I (Tổ phiên dịch Viện Sử học dịch), NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004, tr. 27.
[4] Vô danh thị, Ô Châu Cận Lục (Dương Văn An nhuận sắc, tập thành, Bùi Lương dịch), Văn hóa Á Châu xuất bản, Sài Gòn, 1960, tr. 46.
[5] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Sđd, tr. 28.
[6] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2009, tr. 852.
[7] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Sđd, tr. 31.
[8] Lê Quý Đôn Toàn Tập, Tập I, Phủ Biên Tạp Lục (Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Trọng Hân, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 50.
[9] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Sđd, tr. 890.
[10] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Sđd, tr. 911.
[11] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Sđd, tr. 910-915.
[12] Quốc sử quán triều Nguyễn, Sđd, tr. 35.
Nguyễn Khoa Chiêm, Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí (Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga dịch), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2003, tr 81-83
(Thật ra, chùa Thiên Mụ đã được Dương Văn An mô tả rất chi tiết từ năm 1555: "Chùa Thiên Mụ ở phía nam làng Hà Khê huyện Kim Trà. Trên nương đỉnh đồi, dưới gối dòng sông. Tấc gang gần gũi ven trời… thật là một cảnh trí thần tiên vậy"). Dương Văn An, Ô Châu Cận Lục, Sđd, tr. 95.
[13] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Sđd, tr. 35-36.
[14] Trịnh Tiến Thuận. Quan hệ Nhật Việt thời chúa Trịnh, Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Chúa Trịnh, vị trí và vai trò lịch sử", Thanh Hóa, 1995.
[15] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, NXB Phương Đông, 2012, tr. 479.
[16] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Sđd, tr. 37.
[17] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Sđd, tr. 41.
[18] Chu Thuấn Thủy, Ký Sự Đến Việt Nam Năm 1657 (An Nam cung dịch kỷ sự - Vĩnh Sính dịch), Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1999, tr 28.
[19] Lê Quý Đôn Toàn Tập, Tập I, Sđd, tr. 109.
[3] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục. Tập I (Tổ phiên dịch Viện Sử học dịch), NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004, tr. 27.
[4] Vô danh thị, Ô Châu Cận Lục (Dương Văn An nhuận sắc, tập thành, Bùi Lương dịch), Văn hóa Á Châu xuất bản, Sài Gòn, 1960, tr. 46.
[5] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Sđd, tr. 28.
[6] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2009, tr. 852.
[7] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Sđd, tr. 31.
[8] Lê Quý Đôn Toàn Tập, Tập I, Phủ Biên Tạp Lục (Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Trọng Hân, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 50.
[9] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Sđd, tr. 890.
[10] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Sđd, tr. 911.
[11] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Sđd, tr. 910-915.
[12] Quốc sử quán triều Nguyễn, Sđd, tr. 35.
Nguyễn Khoa Chiêm, Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí (Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga dịch), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2003, tr 81-83
(Thật ra, chùa Thiên Mụ đã được Dương Văn An mô tả rất chi tiết từ năm 1555: "Chùa Thiên Mụ ở phía nam làng Hà Khê huyện Kim Trà. Trên nương đỉnh đồi, dưới gối dòng sông. Tấc gang gần gũi ven trời… thật là một cảnh trí thần tiên vậy"). Dương Văn An, Ô Châu Cận Lục, Sđd, tr. 95.
[13] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Sđd, tr. 35-36.
[14] Trịnh Tiến Thuận. Quan hệ Nhật Việt thời chúa Trịnh, Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Chúa Trịnh, vị trí và vai trò lịch sử", Thanh Hóa, 1995.
[15] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, NXB Phương Đông, 2012, tr. 479.
[16] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Sđd, tr. 37.
[17] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Sđd, tr. 41.
[18] Chu Thuấn Thủy, Ký Sự Đến Việt Nam Năm 1657 (An Nam cung dịch kỷ sự - Vĩnh Sính dịch), Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1999, tr 28.
[19] Lê Quý Đôn Toàn Tập, Tập I, Sđd, tr. 109.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét