Trang

Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

CỘI NGUỒN QUÊ HƯƠNG CỦA NGUYỄN HOÀNG

Ngày sinh, nơi sinh, ngày mất, nơi mất, nơi an táng, nơi cát táng là những mốc thời gian quan trọng, đáng nhớ của đời người và con cháu vì dân gian coi đó là thể hiện hiếu đạo đối với người đã mất, với tổ tiên, ông bà: Sống nhà thác mồ. Trong các giấy tờ tùy thân thì giấy khai sinh là văn bản gốc quan trọng nhất, trên giấy này ghi rõ họ và tên, ngày tháng năm sinh, quê quán... Con cháu nhiều thế hệ sau phải ghi cho rõ, cho đúng với quê quán của Tiền nhân đã khai sáng ra dòng tộc. Tuổi tác, ngày sinh, nơi sinh được ghi trong gia phả có khác với giấy khai sinh, sai chậy năm tháng với giấy khai sinh của nhiều người. Nhưng tuyệt nhiên giấy khai sinh là văn bản pháp qui, pháp định. Đối với tiền nhân thì người nghiên cứu tiểu sử và sự nghiệp đều dựa vào bản gốc gia phả hoặc sắc phong, văn bằng, học vị, văn bia.
I. NƠI SINH, NƠI MẤT CỦA NGUYỄN HOÀNG
          Nguyễn Hoàng sinh ngày 10 tháng 8 năm Ất Dậu (28/8/1525) tại Gia Miêu ngoại trang (không viết hoa hai chữ “ngoại trang”), huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hóa.[1] Chúa Nguyễn Hoàng mất ngày mồng 3 tháng 6 năm Quí Sửu (20/7/1613) tại Dinh Cát thuộc làng Ái Tử, huyện Võ Xương, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa, thọ 89 tuổi. An táng ở vùng núi Thạch Hãn gần sông Thạch Hãn thuộc địa phận làng cổ Thạch Hãn, làng này vào thời điểm lịch sử ấy thuộc huyện Hải Lăng, phủ Triệu Phong. Xin lưu ý đơn vị hành chính “phủ” Triệu Phong vào thời điểm năm 1613. Đời vua Duy Tân có phủ Triệu Phong (nhưng phủ lúc này tương đương với huyện dẫu rằng phủ lớn hơn huyện về đất đai và dân số cỡ bên 10, bên 8). Tiền thân của phủ Triệu Phong ngày nay là huyện Đăng Xương, cải đổi thành Thuận Xương vào năm Kiến Phúc nguyên niên, 1884.
          Với tài năng và đức độ của con người phi thường, Chúa Nguyễn Hoàng giữ chức Trấn thủ Thuận Hóa vào tháng 10 năm Mậu Ngọ, 1558, rồi Tổng Trấn hai xứ Thuận – Quảng từ tháng giêng năm Canh Ngọ, 1570 cho đến ngày 3 tháng 6 năm Quí Sửu, 1613. Trong 56 năm cai trị, nhà Chúa đã mất hơn 15 năm bình định vùng biên viễn của nước Đại Việt từ ác địa trở thành thiện địa. Công lao khai hóa của Chúa thật lớn lao như trời biển.
          II. GIA MIÊU NGOẠI TRANG (嘉苗外莊):
          Gia Miêu là danh từ riêng chỉ tên “trang” tức trang trại, thôn ấp ở miền bán sơn địa của huyện Tống Sơn. Huyện này có tên là Tống Giang vào triều nhà Trần. Đến đầu đời Hậu Lê được cải đổi tên gọi là Tống Sơn. Huyện này gồm 31 xã, 2 bãi, 9 trang, 1 trại. Đất Gia Miêu đã được phân chia thành 2 trang là Gia Miêu nội trang và Gia Miêu ngoại trang theo làn ranh của chân dãy núi Thiên chạy dài từ phía Tây sang phía Đông. Năm 1803, vua Gia Long đổi tên Gia Miêu ngoại trang thành Quí Hương, huyện Tống Sơn thành Quí Huyện.
          Theo tự điển Hán Việt của Thiều Chửu, chữ trang (莊) có đến 7 nghĩa; nghĩa thứ 6: lập riêng cơ sở ở ngoài thành thị cũng gọi là trang. Làng gốc thường lập thêm trang trại ở vùng núi hoặc biển. Cả hai trang nội và ngoại trước xưa được gọi tên là Bái Đáp[2]. Ở tỉnh Ninh Bình ngày nay như xưa kia Thanh Hoa ngoại trấn có địa danh Bái Đính nổi tiếng với nhiều danh lam thắng cảnh.
          Văn tế chiến sĩ trận vong của Tiền quân Nguyễn Văn Thành, người làng Bác Vọng, từng giữ Tống Trấn Bắc Thành dưới triều vua Gia Long có câu: “Ba nghìn họp con em đất Bái”. Đất Bái tức Bái Đáp. Ở Thừa Thiên có làng Bái Đáp thuộc tổng Hạ Lang, huyện Quảng Điền. Phép dùng điển trong văn học thật thâm sâu và thâm hậu, có dụng ý xa vời vợi mà ít người tra cứu cho tận ngọn nguồn lạch sông. Thật đúng như lời cụ Huỳnh Thúc Kháng đã nói: “Học Sử nghĩa là sống với người chết, học Địa là sống với non sông”.[3]
          Lê Quí Đôn viết xong sách Kiến Văn Tiểu Lục vào tháng 5 năm Đinh Dậu, niên hiệu Cảnh Hưng tức năm 1777.
          Sau 6 tháng ở Thuận Hóa giữ chức Hiệp Trấn năm 1776, Lê Quí Đôn trở về Thăng Long lãnh chức Cơ Mật sự vụ kiêm Chưởng Tài Phủ. Sách có đoạn viết:
          “Tôi [Lê Quí Đôn] đã được coi quyển gia phả của người cháu xa đời viên Chiêu Huân Công (昭勳公) xuất trình. Trong phả có chép việc về năm Thuận Thiên năm thứ 2 (1429), cấp ruộng lộc cho viên chỉ huy khai quốc công thần là Nguyễn Công Duẩn (阮公筍) như sau:
          “Chuẩn lấy Trang Xã ở huyện Tống Sơn là ruộng của nhà thế gia triều trước, nay tuyệt, không người thừa kế. Và ruộng đất bỏ hoang, cho Công Duẩn làm của riêng, cọng 470 mẫu”. [4]
          III. BÁI TRANG, BÁI ĐÁP
          Chiêu Huân Công là gọi tắt tước hiệu Vua Lê Trang Tôn ban tặng cho Nguyễn Kim (1468-1545) sau khi mất. Đúng ra đầy đủ 4 chữ Chiêu Huân Tĩnh Công. Vua Lê Trang Tôn (1533-1548) ban chiếu tặng Nguyễn Kim làm Chiêu Huân Tĩnh Công, thụy là Trung Hiến. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết:
          “[Vua Lê Trang Tôn] sai người rước Linh cữu về Bái Trang, huyện Tống Sơn làm lễ chôn rất hậu. Phong cho con trưởng là Uông làm Lãng Quận Công, con thứ là Nguyễn Hoàng làm Hà Khê Hầu, sai coi quân đánh giặc”.[5]
          Vậy thì tên gọi “Bái Trang” có trước Gia Miêu ngoại trang mà phần dẫn ở bên trên chúng tôi đã tìm ra địa danh “Bái Đáp”. Chưa biết rõ ràng địa danh Bái Trang có trước hoặc sau địa danh Bái Đáp. Chúng tôi có tư kiến riêng cho tên gọi Bái Trang phải có sau Bái Đáp; và tên gọi địa danh Bái Trang có trước tên gọi địa danh Gia Miêu ngoại trang mới thuận nghĩa lý. Thiết nghĩ đó những địa danh cần được tra cứu và giải thích rạch ròi.
          Năm 1545 tước của Nguyễn Hoàng là Hà Khê Hầu; năm Mậu Ngọ Nguyễn Hoàng lãnh tước vua ban Đoan Quốc Công, lúc này Nguyễn Hoàng tuổi đời 34 năm. Lúc Nguyễn Kim mất Nguyễn Hoàng đã 21 tuổi. Nguyễn Uông đã lãnh tước Lãng Quận Công – Trịnh Kiểm giữ chức Thái sư cho vua Lê và được ban tước Lạng Quốc Công.
          Cụ Tôn Thất Hân chấp bút viết PHỔ HỆ NHÀ NGUYỄN TRƯỚC GIA LONG bằng chữ Hán. Dịch ra tiếng Pháp là công của Thông ngôn Tây Âu Bùi Thanh Vân nhờ sự hỗ trợ của nhà Nho Trần Đình Nghi. Dịch ra tiếng Việt là hai dịch giả Bửu Ý và Phan Xưng. Nguồn sử liệu này rất quý giá. Cái đáng bàn là văn phong bản dịch từ không nhuần nhuyễn của bản tiếng Pháp sang tiếng Việt.
          Theo Phổ hệ nói trên thì từ Chúa Nguyễn Hoàng trở lên thêm được 14 đời:
          Đời thứ 1: Nguyễn Bặc sinh ra Nguyễn Đạt
          Đời thứ 2: Nguyễn Đạt là cha Nguyễn Phụng
          Đời thứ 3: Nguyễn Phụng là cha của Nguyễn Nộn
          Đời thứ 4: Nguyễn Nộn là cha của Nguyễn Thể Tứ
          Đời thứ 5: Nguyễn Thể Tú là cha của Nguyễn Điền
          Đời thứ 6: Nguyễn Điền  là cha của Nguyễn Luật
          Đời thứ 7: Nguyễn Luật  là cha của Nguyễn Minh Du
          Đời thứ 8: Nguyễn Minh Du là cha của Nguyễn Biện
          Đời thứ 9: Nguyễn Biện  là cha của Nguyễn Lữ
          Đời thứ 10: Nguyễn Lữ là cha của Nguyễn Sự
          Đời thứ 11: Nguyễn Sự là cha của Nguyễn Công Chuẩn
          Đời thứ 12: Nguyễn Công Chuẩn là cha của Nguyễn Như Trác
          Đời thứ 13: Nguyễn Như Trác là cha của Nguyễn Văn Hưu
          Đời thứ 14: Nguyễn Văn Hưu (Hựu) là cha của Triệu Tổ tức Nguyễn Kim

          Nhờ công trình biên khảo của cụ Tôn Thất Hân, mà phần Thủy Tổ Phả của sách NGUYỄN PHÚC TỘC THẾ PHẢ của các tác giả Vĩnh Cao, Vĩnh Dũng, Tôn Thất Hanh, Vĩnh Khánh, Tôn Thất Lôi, Vĩnh Quả, Vĩnh Thiều trở nên có giá trị hơn về mặt sử học và gia phả. Xin liệt kê các thế hệ gồm 15 đời.
         I.       Thủy tổ            NGUYỄN BẶC                 (924-979)
         II.      Đệ nhị tổ          NGUYỄN ĐÊ                    (? - ?)
         III.     Đệ tam tổ         NGUYỄN VIỄN                (? - ?)
         IV.    Đệ tứ tổ            NGUYỄN PHỤNG            (? – 1150)
         V.     Đệ ngũ tổ         NGUYỄN NỘN                 (? – 1229)
         VI.    Đệ lục tổ          NGUYỄN THẾ TỨ           (? - ?)
         VII.   Đệ thất tổ         NGUYỄN NẠP HÒA        (? – 1377)
         VIII. Đệ bát tổ          NGUYỄN CÔNG LUẬT   (? – 1388)
         IX.    Đệ cửu tổ         NGUYỄN MINH DU         (1340 – 1390)
         X.     Đệ thập tổ        NGUYỄN BIỆN                (? - ?)
         XI.    Đệ thập nhất tổ                                          NGUYỄN CHIẾM         (? - ?)
         XII.   Đệ thập nhị tổ NGUYỄN SỪ                    (? - ? )
         XIII. Đệ thập tam tổ                                           NGUYỄN CÔNG DUẨN        (? - ? )
         XIV. Đệ thập tứ tổ   NGUYỄN NHƯ TRÁC     (? - ? )
         XV.   Đệ thập ngũ tổ                                            NGUYỄN VĂN LỰU    (? - ? )            [6]
          Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả bằng tiếng Việt đời nay là một công trình biên soạn từ nhiều năm trong hoàn cảnh đầy khó khăn về tư liệu, về nhân sự... Các soạn giả đã làm sáng rõ thêm về nguồn gốc triều đại các Chúa Nguyễn, vua Nguyễn, làm xích lại khoảng cách giữa nhân gian với dòng tộc Nguyễn Phúc vì địa bạ và gia phả các làng xã, họ tộc một thời trong quá khứ đã có những bậc tiên hiền, quan lại, danh tướng, phò mã, phủ thiếp phụng sự quốc triều Nguyễn trong việc khai hóa quốc dân, mở mang bờ cõi đất nước bằng con đường hòa bình và nhân ái. Ngoài dân gian, dù cho là người bình dân đã kết tình thông nghị với hậu duệ dòng tộc Nguyễn Phúc đúng nghĩa với quan niệm: “thông gia là bà con tiên”.
          Đối chiếu hai bản của Tôn phả chép về các thế hệ trước Triệu Tổ Nguyễn Kim và Thái Tổ GIA DŨ HOÀNG ĐẾ húy Nguyễn Hoàng (1525-1613) thì dễ thấy những khuyết nghi mà đời sau đã bổ sung cho đời trước.
          Định Quốc Công húy Nguyễn Bặc (924-979) được xem như Thủy Tổ của dòng tộc Nguyễn Phúc. Chữ lót giữa họ và tên này còn được đọc là “Phước” ở ngoài dân gian. Ngày xưa, những ai là họ Nguyễn thuộc bách tánh đã nghiêm túc kiêng tránh chữ lót này. Phụ chính Đại thần Nguyễn Văn Tường, người làng An Cư, huyện Thuận Xương (Triệu Phong ngày nay) do nhầm lẫn lấy tên họ Nguyễn Phước Tường bị buộc phải cải đổi từ Nguyễn Phước Tường thành Nguyễn Văn Tường. Có rất nhiều sĩ phu, quan lại, danh tiếng, thí sinh được các vua Nguyễn cho đổi tên, đổi chữ lót. Cụ thể là Phụ chính Đại thần Trần Tiễn Thành lúc đi thi đỗ Tiến sĩ dưới triều vua Tự Đức được nhà vua cho đổi tên cũ Trần Thời Mẫn thành họ tên mới là Trần Tiễn Thành và họ Trần ở thôn Minh Thanh, huyện Hương Trà lấy tên “họ Trần Tiễn”. Người Nam Kỳ lục tỉnh rất biết ơn sâu của các chúa Nguyễn và vua Nguyễn nên đã nghiêm cẩn trong việc gọi tên làng, tên họ, tên người.
          Sách NGUYỄN PHÚC TỘC THẾ PHẢ đã dẫn ở bên trên đã chép và xếp NGUYỄN CÔNG DUẪN (? - ?), Đệ thập tam tổ (trước Nguyễn Kim 4 đời, trước Nguyễn Hoàng 5 đời). Ở trang 78 sách vừa nói trên có viết:
          Ngài [Nguyễn Công Duẫn] được thăng làm Phụng Trực Đại Phu Đô Đốc thiêm sự, Đô kiểm sự, lãnh việc quân dân ở huyện Tống Sơn và được vua ban cho gần 500 mẫu ruộng. Ngài được xếp vào làng Khai quốc Công thần bình Ngô và được ban quốc tính Lê”
          Nay chúng tôi tra lại sách ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ, Tập 2, Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, tr.102 viết:
          “Năm Kỷ Dậu thứ 2 niên hiệu Thuận Thiên [tức năm 1429]: Tháng 5, ngày mồng ba ban biển ngạch công thần cho 93 viên: Huyện thượng hầu 3 người là Lê Vấn, Lê Sát, Lê Văn Xảo, Thượng hầu 1 người là Lê Ngân; Hương thượng hầu 3 người là: Lê Lý, Lê Văn Linh, Lê Quốc Hưng; Đình thượng hầu 14 người là: Lê Chích, Lê Văn An, Lê Liệt, Lê Miễn, Lê Lễ, Lê Chiến, Lê Khôi, Lê Đính, Lê Chuyết, Lê Lỗi, Lê Nhữ Lâm, Lê Sao, Lê Kiệm, Lê Lật; Huyện hầu là 14 người là Lê Bi, Lê Bì, Lê Bĩ, Lê Náo, Lê Thu, Lê Lôi, Lê Khả, Lê Bôi, Lê Khả Lang, Lê Xí, Lê Khuyển, Lê Bí, Lê Quốc Trinh, Lê Bật; Á hầu 26 người là bọn Lê Bạn, Lê Trãi; Quan nội hầu 16 người là bọn Lê Cuống, Lê Dao. Thượng trí tước phục hầu 4 người là bạn Lê Khắc Phục, Lê Hài[7]
          Trong Quốc sử đời Hậu Lê, không ghi đầy đủ tên họ 93 viên được phong khai quốc công thần và ban quốc tính mà chỉ ghi tên 42 viên. Chúng tôi tin rằng tên của bậc tiền bối Nguyễn Công Duẫn còn đọc là Nguyễn Công Chuẩn (viết dấu hỏi).
          Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu cho biết:
          Chữ Duẫn (viết có dấu ngã (~):  (tr.560) và chữ duẩn (viết dấu hỏi (?) 筍 (tr.563) được dùng nghĩa như chữ 筍 (duẩn) có nghĩa là măng tre, cái xà ngang để treo chuông khánh. Chữ 筍 còn đọc là tấn: cái xe bằng trúc.
          Chữ chuẩn (tr. 56, 369, 425, 585, 924) viết dấu hỏi có đến 5 chữ đều có mặt chữ không giống với chữ của Lê Quí Đôn đã viết trong sách Kiến Văn Tiểu Lục. Lần lượt ghi lại 5 nghĩa: định đúng, gọt gỗ cho ngàm vào đúng mộng, bằng phẳng, thành thực, một loài chim cắt.
          Tôi chọn chữ Duẫn (viết dấu ngã) như Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả, không đồng tình với dịch giả Lê Mạnh Liệu bởi lẽ cụ Liệu không phải là “người trong cuộc” như hậu duệ nhà Nguyễn hôm nay đã thấm chữ nghĩa của tên húy tận máu thịt. Chỉ tiếc một điều là do hạn chế của nhà in sách năm 1995, đã viết giúp chữ Hán sai thiếu nét ngang dài. Tôi viết ra hai chữ: chữ đúng của chữ Duẫn () chữ Duẫn do in sai . Chữ vừa viết thiếu nét ngang dài 一 . Một việc nhỏ mà bỏ qua là có tội! Vua Lê đã phong cho Nguyễn Uông làm Lãng Quận Công, Nguyễn Hoàng làm Hà Khê Hầu vào năm 1545 (lúc này Nguyễn Hoàng đã hơn 20 tuổi) vào năm 1545 dưới thời vua Lê Trang Tôn mà sách Từ Điển Nhà Nguyễn của Võ Hương An xuất bản năm 2012 tại nước ngoài cụ thể là Mỹ Quốc cho rằng năm 1545 Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng “đang còn nhỏ”.[8]
          Tìm về quê hương nhà Nguyễn, trước tiên và cũng là bước đầu là tìm hiểu về tiểu sử của Nguyễn Công Duẫn được xem như Thủy tổ của Gia Miêu ngoại trang nay là thôn Gia Miêu thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Nhưng tiểu sử của Nguyễn Công Duẫn còn nhiều khuyết nghi, ngay cả năm sinh và năm mất vẫn còn là hai dấu hỏi.
          Lê Quí Đôn phanh phui ra cái chìa khóa là ruộng lộc của ông được nhà vua cấp 470 mẫu[9] là ruộng bỏ hoang do triều trước.
          Cụ Tôn Thất Hân đã tìm ra nguồn tư liệu gốc rất tôn quý là “Biên bổn Gia Miêu Ngoại Trang công tính chính chi khai trần phổ hệ”, để khẳng định:
          “Vị tổ đầu tiên là Nguyễn Công Chuẩn, phong hàm Thái Bảo Hoàng Quốc Công, con trai thứ tư của Chiêu Quang Hầu. Ông được phong Công Thần Khai Quốc và họ của ông được đổi thành Lê do Lê Thái Tổ (1428-1433).”
          Như trên đã nói trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cho biết trong 93 viên được phong Khai quốc Công thần thì chỉ ghi rõ họ và tên 42 viên, trong đó không có tên Nguyễn Công Chuẩn. Danh sách 42 vị được kê tên là Khai quốc Công thần và đổi họ gốc sang quốc tính họ Lê. Đó là một nghi án lịch sử. 51 vị còn lại trong tổng 93 viên không được nhà Lê cho đổi họ sang họ Lê không có tên ông Chuẩn. Khai quốc công thần có 2 loại: đổi họ, không đổi họ.
          Ở sách Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả, Sđd xuất bản năm 1995 lại hé lộ cho tôi một hướng đi tìm ở cho ra cái mà mình đang bí. Ở phần chú thích ở trang 78 có chú thích (1) như sau: “Trích chiếu tuyên dương công trạng năm Thuận Thiên thứ 2”. Trình độ của tôi hạn chế, tôi lại tìm đọc Đại Việt Sử Lý Toàn Thư, đặc biệt chú ý đến niên hiệu Thuận Thiên thứ 2 tức năm Kỷ Dậu 1429, cho nên mới phát hiện ra điều này. Tôi đọc biên niên sử 3 triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tôn, Lê Nhân Tông nhưng không tìm thấy danh xưng Thái Bảo Hoàng Quốc Công Nguyễn Công Chuẩn.
          Căn cứ vào sổ bộ của Gia Miêu Ngoại Trang thì từ Nguyễn Bặc cho đến Nguyễn Văn Lưu là cha của Triệu Tổ hay Nguyễn Kim là 14 đời. Còn theo Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả là 15 đời. Chúng tôi tin là có ông NGUYỄN CÔNG DUẪN (trước phiên âm là Chuẩn); đời vua Gia Long phiên âm là Chuẩn, như sổ bộ của Gia Miêu ngoại trang; còn chức tước và phẩm hàm Thái Bảo Hằng Quốc Công thì tra cứu chưa ra ở sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Có thể phẩm hàm ấy được chép từ một nguồn sử liệu nào thì chúng tôi chưa biết. Đó là một nghi án, cần rà soát lại để dễ thuyết phục người đọc thì càng quý giá.
          IV. QUÊ HƯƠNG VIỄN XỨ CỦA CHÚA NGUYỄN HOÀNG
          Tìm chữ chưa ra, tạm dùng chữ “Tiền thân” của Gia Miêu ngoại trang nghĩa là trước đời Nguyễn Công Chuẩn (đời thứ 13 theo Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả năm 1995; đời thứ 11 theo Sổ bộ của Gia Miêu ngoại trang) thì đời Nguyễn Sự ở sơn động như các vị đời trước. Sách này lấy Thủy Tổ của dòng họ Nguyễn Phúc là Quốc Công Nguyễn Bặc (阮匐), có quê hương Đại Hoàng, Gia Viễn, Ninh Bình. Về quê hương của Nguyễn Bặc vẫn chưa khẳng định, người thì bảo là Gia Miêu ngoại trang, người thì là làng Đại Hữu, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Đây lại thêm một khuyết nghi lịch sử nữa, cần được khai tỏ.
          Đến đây, chúng tôi phải tra cứu Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi:
          “Phủ Trường Yên (Tràng An) có 3 huyện, xưa phủ này có tên là Đại Hoàng, có 3 huyện, 263 xã. Huyện Gia Viễn có 73 xã, 4 trang, 1 trại, 2 phường, 1 tuần. Thời nhà Lý thì Gia Viễn, Trường Yên (Tràng An) thuộc phủ THANH HOA”.
          Năm 2008 chúng tôi gồm nhà báo Dương Phước Thu, thầy Châu Trọng Ngô, anh Trần Viết Điền đi Ninh Bình tham dự Hội thảo tại Văn Miếu, Hà Nội năm 2008 về chủ đề Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đến thăm mộ tổ của họ Châu, họ Lê ở Ninh Bình. Chúng tôi đã khảo cứu Tràng An (tức Trường Yên) đầy đủ, đăng trên Tập san Hội nhà báo Thừa Thiên - Huế, cuối năm 2008 nhân dịp Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Đó là cớ sự tôi đi ngược dòng lịch sử để tìm hiểu về Tây Đô, về Tràng An. Nay có duyên tôi viết tham luận này. Gia Viễn tức tên mới Đại Hoàng có từ đời nhà Lý. Đại Hoàng là tên huyện chứ không phải tên làng như một số người đã nhầm lẫn.
**
*

          Tìm về quê hương viễn xứ của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng thật là lý thú dẫu rằng rất mệt, tổn hao nhiều công sức. Nhưng lý thú là tìm ra được một cầu nối mà chúng tôi thường hay nói là “cầu không vận” giữa ÁI TỬ - TRÀ BÁT – DINH CÁT với THANH HÓA, NINH BÌNH.
          Khởi nguồn cho việc Chúa Nguyễn Hoàng mang gươm đi mở nước và giữ nước bằng đường lối hòa bình, ÁI TỬ (Quảng Trị) trở thành bệ phóng, mà nguồn gốc phát tích là TRÀNG AN – GIA MIÊU thuộc Thanh Hoa ngoại trấn và Thanh Hoa nội trấn.
          Thật là hưng phấn tinh thần khi tìm ra cội nguồn quê hương của Nhà Nguyễn. Xin trình lên Hội thảo khảo luận này với một số nghi án cần được cẩn án làm sáng tỏ thêm lên về quá trình giữ nước và mở nước của nước Việt oai hùng mà giặc ngoại bang không hiểu, không nghiên cứu sâu xa cho nên đành đầu hàng, cuốn cờ mà chạy thục mạng về nước./.

Lê Quang Thái Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán – Huế 

[1] Đời Lê Trung Hưng trở về trước chưa có đơn vị tổng (gồm làng). Thanh Hóa tên gốc ban đầu Thanh Hoa nội tức Thanh Hóa. Thanh Hóa ngoại tức Ninh Bình. Xem Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi.
[2] Bái Đáp là nơi an táng Nguyễn Kim như sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã chép, tr.626 và Thực Lục tr.26, Sđd, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2004, tr.26
[3] QUỐC SỬ TẠP LỤC, Nguyễn Thiệu Lân, Nxb Khai Trí, Sài Gòn, 1969, tr.51
[4] KIẾN VĂN TIỂU LỤC, Lê Quí Đôn, Lê Mạnh Liệu dịch, Sài Gòn, 1973, tr.217
[5] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập 2, Nxb Văn Hóa – Thông Tin, Hà Nội, 2004, tr.626
[6] Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả; Sđd tr. 17
[7] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Sđd, tr.102
[8] Từ điển Nhà Nguyễn, Võ Hương An, Nxb Nam Việt, Califonia, USA, 2012, tr.431
[9] Có một sai số khá lớn giữa 470 mẫu ruộng lộc cấp cho ông Nguyễn Công Chuẩn, với con số gần 500 mẫu đã ghi trong Nguyễn Phúc Thế Phả xuất bản năm 1995.

BA LẦN LẬP DINH TRẤN Ở QUẢNG TRỊ, BA SÁCH LƯỢC CỦA NGUYỄN HOÀNG

Tháng Mười năm Mậu Ngọ (1558) Nguyễn Hoàng được vua Lê Anh Tông cử vào trấn thủ xứ Thuận Hóa. Từ đây, ông bắt đầu đứng chân trên vùng đất Quảng Trị ngày nay để gầy dựng cơ nghiệp. Trải qua nhiều biến động, tháng Sáu năm Quý Sửu (1613) Nguyễn Hoàng đã qua đời tại đây. Trong 55 năm nầy, Nguyễn Hoàng đã ba lần lập dinh trấn ở Quảng Trị, lần lượt là: Dinh Ái Tử (1558 - 1570) Dinh Trà Bát (1570 - 1600) Dinh Cát (1600) Ba lần lập dinh trấn đã thể hiện ba sách lược của Nguyễn Hoàng, đặt nền tảng cho các chúa Nguyễn về sau xây dựng cơ nghiệp to lớn của mình ở Đàng Trong.
I. Dinh Ái Tử, vùng đất mới thời khởi nghiệp, nơi thu phục nhân tâm.
          Năm 1558, khi đề xuất vua Lê Trang Tông bổ nhiệm Nguyễn Hoàng làm Trấn thủ xứ Thuận Hóa, Thái sư Trịnh Kiểm đã đưa ra nhận định "Xứ Thuận Hóa là một kho tinh binh trong thiên hạ, buổi đầu, quốc triều ta bắt đầu gầy dựng cơ nghiệp, cũng đã dùng dân xứ ấy để dẹp giặc Ngô. Xứ ấy, địa thế hiểm trở, dân khí cương cường, lại có nhiều nguồn lợi trên rừng dưới biển, là vùng trọng yếu, không xứ nào hơn. Gần đây, quan quân kinh lược hàng mấy chục năm mới lấy được. Vậy nên hết sức bảo vệ, để làm một bức bình phong vững chắc… Hạ thần xét thấy con trai thứ của Chiêu Huân Tĩnh công (Nguyễn Kim) là Nguyễn Hoàng, là một người trầm tĩnh, cương nghị, lại có mưu lược, đối với quân sĩ có độ lượng, khoan dung giản dị. Vậy xin bổ ông làm trấn thủ, để trị an nơi biên thùy và chống giặc ở miền bắc kéo vào…" ([1])
          Đây đúng là vùng đất "mới lấy được" vì chỉ khoảng từ 3 đến 5 năm trước đó, Tiến sĩ Dương Văn An, Phó Đô ngự sử của triều Mạc, lúc về quê nhà (làng Tuy Lộc, huyện Lệ Thủy, nay thuộc tỉnh Quảng Bình) cư tang, đã nhuận sắc hai bản ghi chép (viết năm Quý Sửu 1553) về phủ Tân Bình và phủ Triệu Phong của hai nho sinh đồng hương để soạn thành sách Ô Châu Cận Lục, đề cập khá chi tiết về núi sông, thành thị, chùa quán, thuế khóa, phong tục, nhân vật; liệt kê tên 701 làng và 1 thôn của vùng Thuận Hóa. Về thành thị, Dương Văn An đã mô tả ba trọng điểm của Thuận Hóa, gồm:
"Hóa thành: tại địa phận huyện Đan Điền (nay là Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế), sông cái chảy qua phía tây, còn một nhánh sông con chảy vào trong thành. Bên hữu sông nầy là nơi đặt nha môn đô ty, thừa ty và học xá phủ Triệu Phong… Tòa thành trăm trĩ vươn cao, sừng sững như đám mây dài. Đó là địa hình tụ hội…"
          "Thuận thành: ở địa phận huyện Hải Lăng (nay thuộc tỉnh Quảng Trị), phía tây có nhánh sông dài, cầu ở phía đông cao ngất, chợ sớm đông đúc. Ngoài thành là huyện trị. Bên trong thành có kho thóc đầy đủ"
          "Chợ Thuận: tại địa phận hai huyện Vũ Xương, Hải Lăng. Từ phía tây nam, sông cái chảy vào, có dòng khe nhỏ. Trên khe gác cây cầu dài, phía nam cầu quán xá xếp hàng. Rồi huyện rồi thành ở hai bên đông tây đối diện. Nào đường thủy, đường bộ đều thông suốt. Là một nơi tấp nập của Thuận châu vậy" ([2])
          Có thể cuộc chiến tranh đánh đuổi quân Mạc của nhà Lê ở Thuận Hóa vừa xảy ra trước đó không lâu đã gây ra nhiều xáo trộn, nhưng có lẽ hình thái chiến tranh cổ điển thời bấy giờ cũng không phá vỡ hết kết cấu hạ tầng và xã hội của một số thành thị đã có như Hóa thành, Thuận thành và chợ Thuận. Nhưng vì sao vào thời điểm 1558 Nguyễn Hoàng không chọn thành Hóa Châu hoặc thành Thuận Châu để đặt dinh trấn như các triều trước?
          Quốc sử quán triều Nguyễn đã hé lộ một thông tin quan trọng "Bấy giờ xứ Thuận Hóa mới dẹp yên, tuy nhà Lê đã đặt tam ty (Đô ty, Thừa ty, Hiến ty) và phủ huyện để cai trị, nhưng nhân dân vẫn chưa một lòng" ([3]). Có thể vì điều nầy mà Nguyễn Hoàng không theo thông lệ để chọn những trung tâm chính trị - kinh tế vốn đã tồn tại hàng trăm năm dưới các triều đại trước để đặt làm trị sở.
          Chọn Ái Tử, vùng đất nằm bên bờ sông Thạch Hãn, nối liền với Cửa Việt, có những bãi cát trống trải, thuận lợi cho việc phòng thủ theo quan điểm quân sự cổ điển thời bấy giờ có lẽ chỉ là một phần. Phần quan trọng hơn, có thể Nguyễn Hoàng muốn chọn một vùng đất mới, vùng đất chưa chịu ảnh hưởng sâu đậm của triều đại trước để dễ thực hiện sách lược thu phục nhân tâm của riêng mình.
          Ái Tử chỉ là một ngôi làng bình thường của huyện Vũ Xương (nay thuộc xã Triệu Ái và thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị), ngôi làng mà trước đó mấy năm Dương Văn An chỉ nhắc tên ở mục đồ bản và có lời bình không mấy tốt ở phần tổng luận về phong tục "Tên làng Ái Tử, sao nỡ bán con cho người" ([4]). Tương truyền khi Nguyễn Hoàng và đoàn dân binh gồm những người đồng hương Tống Sơn và những nghĩa dũng xứ Thanh Hoa theo dòng sông Thạch Hãn để đổ bộ lên làng Ái Tử, quan sở tại là Tống Phước Trị đã ra nghênh đón. Dân chúng ở Ái Tử và các làng lân cận cũng nô nức chào đón. Họ đã dâng lên Nguyễn Hoàng bảy vò nước trong, mà về sau nhà Nguyễn đã diễn dịch theo nghĩa người dân đã dâng "Nước" để chúa Tiên (Nguyễn Hoàng) lập quốc.
          Chính từ vùng đất mới nầy, Nguyễn Hoàng hoàn toàn thuận lợi để thực hiện sách lược đầu tiên của mình: Vừa làm tốt chức trách của một vị quan trấn thủ, mở mang vùng đất mới, vừa bắt tay xây dựng trên bãi đất trống một căn cứ địa, làm vùng đất khởi nghiệp; đồng thời thực hiện chính sách thu phục nhân tâm, dựa vào lòng dân ở vùng đất mới đang hướng vọng vào vị quan trấn thủ để xây dựng thực lực, chuẩn bị cho một kế sách lâu dài.
          Suốt hơn 10 năm từ 1558 đến 1569, Nguyễn Hoàng vẫn đảm nhận vai trò một vị quan trấn thủ của nhà Lê, thực chất là dưới sự điều hành của Thái sư Trịnh Kiểm, vừa thực hiện chiến thuật thu phục số quan lại có sẵn của nhà Lê "Phàm quan lại tam ty do nhà Lê đặt đều theo lệnh của chúa", vừa "khuya sớm chăm lo, nghĩ việc củng cố căn bản", "vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến phục" ([5]).
          Có thể nói sách lược trong suốt thời kỳ đặt dinh trấn ở Ái Tử của Nguyễn Hoàng chưa phải là kế sách cát cứ, ngược lại, vị quan trấn thủ xứ Thuận Hóa vẫn thể hiện là một trọng thần của nhà Lê, hàng năm vẫn nộp đầy đủ thuế cho triều Lê ở Thanh Hoa, Nhưng thực chất việc chọn Ái Tử để lập dinh trấn là Nguyễn Hoàng đã chọn một vùng đất mới để làm đất khởi nghiệp, âm thầm xây dựng thực lực, thu phục nhân tâm để chuẩn bị cho một chiến lược lâu dài khi có thời cơ.
          Tình trạng hòa hiếu để xây dựng thực lực nầy kéo dài từ 1558 đến 1569, thời điểm mà Nguyễn Hoàng sau hơn 10 năm ở Quảng Trị đã trở ra Thanh Hoa yết kiến vua Lê và đến chào mừng Thượng tướng Thái quốc công Trịnh Kiểm.
          II. Dinh Trà Bát và thế phát triển mới của vùng đất Thuận - Quảng.
          Nguyễn Hoàng ra Thanh Hoa vào chầu vua Lê và "đến phủ Thượng tướng (phủ của Trịnh Kiểm) lạy mừng, tỏ ra tình anh em rất thân yêu" vào thời điểm tháng Chín năm Kỷ Tỵ (1559), lúc Trịnh Kiểm đã 66 tuổi và chỉ sau một tháng lại bị bệnh nặng "phải dâng biểu xin thôi binh quyền, lời ý khẩn thiết", vua Lê phải "đặc sai con trưởng của Trịnh Kiểm là Trịnh Cối đốc lĩnh các dinh thủy bộ". Sự có mặt của Nguyễn Hoàng lúc nầy trở thành một trở ngại cho quyền lực của cha con họ Trịnh. Có lẽ vì thế, đầu năm Canh Ngọ (1570) chính Trịnh Kiểm đã dâng biểu xin vua Lê cho gọi Tổng binh Quảng Nam là Nguyên quận công Nguyễn Bá Quýnh về (trấn thủ Nghệ An) và giao Nguyễn Hoàng kiêm quản cả hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam ([6]), tạo cớ để Nguyễn Hoàng phải rời khỏi Thanh Hoa,  nhằm củng cố quyền lực độc tôn của dòng họ Trịnh bên cạnh vua Lê.
          Với cương vị mới được bổ nhiệm, Nguyễn Hoàng đã rời Thanh Hoa để trở lại vùng đất Ái Tử, đảm nhận vai trò Tổng trấn tướng quân trấn giữ vùng Thuận Quảng, kéo dài từ Quảng Bình đến Phú Yên ngày nay. Chỉ chưa đầy một tháng sau, Trịnh Kiểm bị ốm nặng và mất tại Thanh Hoa, hai anh em con Trịnh Kiểm là Trịnh Cối và Trịnh Tùng tranh giành quyền lực, chống phá lẫn nhau, nhà Mạc lại tiến quân vào đánh tận Thanh Hoa, Trịnh Tùng được vua Lê trao quyền Tả tướng điều hành tướng sĩ, Trịnh Cối đem mẹ và vợ con về hàng nhà Mạc.
          Chính trong tình thế đó, Nguyễn Hoàng đã quyết định dời dinh trấn, nhưng thay vì chuyển về phương nam để dễ tiếp cận với xứ Quảng Nam vừa mới được tiếp nhận, Nguyễn Hoàng lại chọn giải pháp chuyển dịch dinh trấn sang làng Trà Bát, ngôi làng nằm gần Ái Tử, chếch về phía đông bắc (nay là hai làng Trà Liên Đông, Trà Liên Tây, xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong). Trà Bát là ngôi làng từng được Dương Văn An liệt kê vào mục đồ bản ở sách Ô Châu Cận Lục. Đặt dinh trấn mới ở Trà Bát thực chất là mở rộng quy mô của vùng đất khởi nghiệp ban đầu ở Ái Tử, tạo thế liên hoàn Ái Tử - Trà Bát để có điều kiện phát triển quy mô của dinh trấn. Vì thế chỉ mấy năm sau đó (1572), "thuyền buôn các nước đã đến nhiều. Trấn trở nên một nơi đô hội lớn" ([7]).
          Vượt qua những trở ngại của các cuộc chiến tranh nhỏ, có tính cục bộ do nhóm Mỹ Lương, Văn Lan và Nghĩa Sơn, người huyện Khang Lộc (nay là huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình) gây ra năm 1571, trận chiến của Lập Bạo, tướng nhà Mạc, đưa chiến thuyền vượt biển vào đánh phá Ái Tử năm 1572, trận hải chiến với đám giặc biển "Hiển Quý" ở Cửa Việt năm 1585, hai xứ Thuận Quảng dưới sự điều hành của Nguyễn Hoàng vào thời kỳ nầy đã tạo được thế phát triển mới. Từ năm 1573 vua Lê đã sai người vào dinh Trà Bát sắc phong Nguyễn Hoàng làm Thái phó.
          Lê Quý Đôn, một trọng thần của chúa Trịnh, trong Phủ Biên Tạp Lục cũng phải công nhận:
          "Đoan quận công (Nguyễn Hoàng) có uy lược, xét kỷ, nghiêm minh, không ai dám lừa dối. Cai trị hơn 10 năm, chính sự khoan hòa, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản bộ, cấm đoán kẻ hung dữ. Quân dân hai xứ thân yêu tín phục, cảm nhận mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc thường đến, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệp. Hằng năm nộp thuế má để giúp việc quân việc nước, triều đình (nhà Lê) cũng được nhờ" ([8]).
          Năm 1592 Trịnh Tùng tiến quân đánh chiếm lại Đông Đô. Năm sau vua Lê và đình thần trở về kinh đô, hoàn thành công cuộc trung hưng. Từ Trà Bát, Nguyễn Hoàng đích thân chỉ huy tướng sĩ, đem theo voi ngựa và binh thuyền ra Đông Đô, mang cả sổ sách về binh lương, tiền lụa, vàng bạc và châu báu ở kho tàng của hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam dâng nộp cho triều đình. Vua Lê tỏ lời khen ngợi. Trịnh Tùng dâng biểu tâu vua phong Nguyễn Hoàng làm Tướng quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Thái úy, tiến phong Đoan quốc công, vẫn tiếp tục kiêm lãnh chức vụ Tổng trấn tướng quân Thuận Quảng ([9]), nhưng vẫn ở lại kinh đô, thống lĩnh thủy binh đi dẹp giặc biển ở các xứ Sơn Nam, Hải Dương, rồi lần lượt tham gia các chiến trận đánh tàn quân nhà Mạc ở Thái Nguyên, Tuyên Quang; hộ giá rước vua Lê lên ải Nam Quan để điều đình với nhà Minh.
          Ròng rã trong 8 năm Nguyễn Hoàng bị kẹt lại ở kinh đô, công việc cai trị ở Thuận Hóa, Quảng Nam có lẽ đều do Nguyễn Phúc Nguyên, người con trai từng được Nguyễn Hoàng khen ngợi "Con ta thật là anh kiệt" trong lần chỉ huy đánh tan đám giặc "Hiển Quý" năm 1585 ở Cửa Việt đảm nhận.
          Có thể nói, khoảng thời gian từ 1570 đến 1600, với 30 năm hình thành và phát triển, dinh trấn Trà Bát gắn liền với mảnh đất Ái Tử thuở Nguyễn Hoàng mới dựng nghiệp đã giữ vai trò là trung tâm hành chính, quân sự và kinh tế của hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam, thực chất là của vùng Đàng Trong về sau. Ở đây hình như vẫn chưa có những công trình kiến trúc dinh phủ được xây dựng theo lối tòa ngang dãy dọc, nhưng bên cạnh dinh cơ của quan Tổng trấn và các thuộc viên, Nguyễn Hoàng đã phải tổ chức một đại bản doanh của quân Thuận Quảng, có lẽ vì thế đến nay quanh vùng Trà Bát - Ái Tử còn có các làng Tả Kiên, Trung Kiên, Tiền Kiên, Hậu Kiên và người dân ở đó còn cho rằng những tên gọi nầy là phát xuất từ tên các đạo quân theo tổ chức biên chế quân đội thời Nguyễn Hoàng là Tả quân, Hữu quân, Trung quân, Tiền quân, Hậu quân.
          Trà Bát cũng chính là nơi đầu não để Nguyễn Hoàng tiếp tục thực hiện sách lược xây dựng thực lực, thu phục nhân tâm của mình với quy mô mở rộng lãnh địa cai quản ở cả hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam, bằng các chính sách chính sự khoan hòa - quân lệnh nghiêm trang - làm ơn cho dân - dụng pháp công bằng - răn giữ bản bộ - cấm đoán kẻ dữ… để quân dân hai xứ thân yêu tín phục - cảm nhận mến đức, như nhận định của Lê Quý Đôn.
          III. Dinh Cát và ước mơ của vị "chân chúa".
          Từ chuyến ra Đông Đô yết kiến vua Lê năm 1592, Nguyễn Hoàng bị lâm vào thế phải ở lại kinh đô để giúp vua Lê, thực chất là phải ở lại đất bắc, hoạt động dưới quyền chỉ huy của Trịnh Tùng (qua danh nghĩa là vua Lê). Tháng Tư năm Kỷ Hợi (1599), Trịnh Tùng đã bắt ép vua Lê tấn phong mình làm Đô nguyên súy Tổng quốc chính Thượng phụ, tước Bình An Vương ; lời văn của sắc phong khẳng định công lao và vị thế đặc biệt của Bình An Vương Trịnh Tùng "đức vọng núi cao, gia đình văn võ; dựng đặt mưu kế cho yên xã tắc, công cao sáng tỏ giữa trời, giữ điều tín mục để thân láng giềng; hòa hiếu giữ êm ngoài cõi. Công đã nêu cao trong vũ trụ, vị phải đứng đầu các thần liêu". Từ đây, Trịnh Tùng bắt đầu chuyên quyền, lấn áp quyền vua. Chỉ 17 ngày sau đó, khi vua Lê Thế Tông băng hà, Trịnh Tùng đã "bàn với triều thần" là thái tử tính không thông minh và lập con thứ là Duy Tân lên làm vua ([10]).
Trước tình thế đó, tháng Năm năm Canh Tý (1600), Nguyễn Hoàng đã mượn cớ đem quân binh bản bộ (binh từ Thuận Quảng ra) đi đánh dẹp cuộc mưu phản của nhóm Phan Ngạn, Ngô Đình Nga, Bùi Văn Khuê, rồi thừa cơ theo đường biển trở về Thuận Hóa, thoát khỏi uy quyền ràng buộc của Trịnh Tùng.
          Tương tự như 30 năm trước, khi từ Thanh Hoa về lại Ái Tử năm 1570 Nguyễn Hoàng đã dời dinh trấn sang Trà Bát, lần nầy vừa từ kinh đô về lại Trà Bát năm 1600, Nguyễn Hoàng lại quyết định dời dinh trấn từ Trà Bát sang phía đông dinh Ái Tử trước đây, với tên gọi mới là Dinh Cát. Tựu trung, dù ba lần lập dinh trấn, nhưng Nguyễn Hoàng vẫn bám giữ trục Ái Tử làm căn cứ địa, giữ vững vùng đất dựng nghiệp mà mình đã chọn từ buổi đầu tiên, song với một tâm thế khác hơn trước, tâm thế muốn chuyển từ một vị Tổng trấn tướng quân trở thành một "chân chúa", độc lập với uy quyền của Trịnh Tùng vừa mới trở thành chúa Trịnh ở phương Bắc.
          Trịnh Tùng sau khi ổn định được tình hình ở kinh đô, đã cử Thiêm Đô ngự sử Lê Nghĩa Trạch đem thư cho Nguyễn Hoàng với lời lẽ nước đôi "Đại thần phải cùng với nước cùng vui buồn. Cậu đối với nước mà nói là bề tôi huân cự mấy đời; đối với nhà mà nói thì là tình nghĩa bà con rất thân… Cháu đang cùng với cậu trù tính việc binh, đuổi kịp bọn nghịch, không ngờ cậu không đợi mệnh lệnh, tự tiện bỏ về, làm giao động lòng dân địa phương, không biết đó là bản ý của cậu chăng, hay là nghe lầm gian kế của bọn phản nghịch… Việc đã đến như thế, nếu cậu tỉnh ngộ ra, hối lại lỗi trước, nghĩ đến công nghiệp của tiên tổ, nên sai người mang thư đến hành tại bái bẩm, rồi dốc nộp tiền thuế để cung việc chi tiêu của nước, thì lấy công trừ tội… Nếu không thế, thì lấy thuận đánh nghịch, triều đình đem quân đánh có cớ lắm rồi, danh tiết của cậu rồi sẽ ra sao?" ([11]).
          Nguyễn Hoàng cũng áp dụng một chiến thuật mềm dẻo, sai sứ đi tạ ơn vua Lê và gởi thư cho Trịnh Tùng hẹn kết nghĩa thông gia. Mùa thu năm đó, Nguyễn Hoàng đã gã con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng, con trai trưởng của Trịnh Tùng, nhưng sau đó, quan hệ giữa Thuận Quảng với triều đình cũng lơi dần, Trịnh Tùng cũng không có phản ứng.
          Từ đây, thế và lực của Nguyễn Hoàng đã khác trước, hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam không còn đặt mình dưới sự lệ thuộc của vua Lê chúa Trịnh. Nguyễn Hoàng bắt đầu thực hiện một sách lược mới: sách lược chuyển từ vị thế phụ thuộc triều đình Lê - Trịnh sang tư thế tự trị, tiến tới đối đầu, với mong ước biến mình trở thành vị "chân chúa" ở phương Nam.
          Tương truyền năm 1601, khi du ngoạn, khảo sát vùng đất Hà Khê bên bờ sông Hương, Nguyễn Hoàng đã tìm tới ngọn đồi đẹp bên sông để ngắm cảnh sơn thủy hữu tình, nhân tiện ông hỏi người dân về tên ngọn đồi nầy. Người dân địa phương cho biết đồi nầy rất thiêng, tục truyền từ xưa đã có người đàn bà thể sắc còn trẻ nhưng mày tóc bạc phơ, mình vận áo đỏ quần xanh, ngồi dưới chân đồi kêu gào than vãn và cất tiếng nói to "Đời sau sẽ có bậc chân chúa đến xây chùa đây, để tụ khí thiêng, cho bền long mạch". Nói xong rồi biến mất, dân trong vùng ghi nhớ hình ảnh bà, đặt tên núi là núi Thiên Mụ. Nghe xong, Nguyễn Hoàng cả mừng, bảo rằng "Ấy là bà bảo ta mở nền định đất, biến nhà thành nước để nên nghiệp lớn". Ông đã cho cất dựng chùa, viết biển đề chữ "Thiên Mụ tự" ([12]).
          Với ước vọng xây nghiệp lớn, năm 1602 Nguyễn Hoàng đã cử con là Nguyễn Phúc Nguyên làm trấn thủ dinh Quảng Nam để làm quen về chính sự. Đích thân Nguyễn Hoàng còn lên khảo sát núi Hải Vân, đi kinh lý Quảng Nam và tiếp sứ nước Chiêm Thành sang thông hiếu.
          Năm 1604, Nguyễn Hoàng cho thành lập thêm phủ Điện Bàn, đổi phủ Tiên Bình thành phủ Quảng Bình, phủ Tư Ngãi thành phủ Quảng Ngãi… ([13]). Cũng vào năm 1604, Nguyễn Hoàng còn gởi thư cho quốc vương Nhật Bản khẳng định vị thế độc lập và đối đầu với triều đình Lê - Trịnh. Nội dung thư có đoạn "Từ năm nay trở đi các thuyền thông thương chỉ nên đến nước tôi, tiện việc mua bán, còn các xứ Thanh Hoa, Nghệ An với nước tôi là thù địch, mong rằng Quốc vương đã có lòng yêu nhau thì nên cấm hẳn các thuyền buôn qua lại xứ ấy" ([14]).
          Năm 1611 sau khi đánh dẹp đợt xâm lấn biên giới của quân Chiêm Thành, Nguyễn Hoàng đã cho thành lập phủ Phú Yên để ổn định khu vực biên giới cực nam của vùng Thuận Quảng lúc bấy giờ.
          Để thu phục nhân tâm, Nguyễn Hoàng còn cho sửa chùa Sùng Hóa (ở Phú Vang, Thừa Thiên Huế), dựng chùa Long Hưng (ở Duy Xuyên, Quảng Nam) năm 1602, dựng chùa Bảo Châu (ở Trà Kiệu, Quảng Nam) năm 1607, dựng chùa Kính Thiên (ở Lệ Thủy, Quảng Bình) năm 1609. Như vậy trong thâm ý của Nguyễn Hoàng, đạo Phật có thể làm nơi nương tựa tinh thần cho sự nghiệp "lập quốc" của dòng họ Nguyễn ([15]).
          Sách lược "xây nghiệp lớn" để trở thành "chân chúa" đang trên đà phát triển thuận lợi, thì tháng Sáu năm Canh Dần (1603) Nguyễn Hoàng qua đời ở tuổi 88. Trước lúc lâm chung, Nguyễn Hoàng đã cho triệu người con kế nghiệp là Nguyễn Phúc Nguyên và một số thân thần để dặn dò "Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Ngang (Hoành Sơn) và sông Gianh hiểm trở, phía nam ở núi Hải Vân và núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn) vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta" ([16]).
          Làm đúng lời trăn trối của Nguyễn Hoàng, từ khi nối nghiệp, Nguyễn Phúc Nguyên đã tiếp tục sửa thành lũy, đặt quan ải, vỗ về quân dân, sắp đặt lại Chính dinh, củng cố hệ thống quan lại, khuyến khích phát triển các cảng biển Hội An, Quy Nhơn… cơ nghiệp của vùng Thuận Hóa, Quảng Nam ngày càng vững mạnh.
          Năm 1623 khi Trịnh Tùng mất, Nguyễn Phúc Nguyên đã nói với các cận thần "Ta muốn nhân cơ hội nầy nổi binh để phò vua Lê, nhưng đánh người trong lúc có tang là bất nhân, thừa lúc người lâm nguy là bất võ. Huống chi ta với họ Trịnh có nghĩa thông gia, chi bằng trước hết hãy đem lễ đến phúng để xem tình hình, rồi sau hãy liệu kế" ([17]).
          Năm 1624 khi chúa Trịnh Tráng cử người vào đòi thuế đất, Nguyễn Phúc Nguyên đã lấy cớ dân mất mùa không nỡ thu thuế, hẹn khi nào được mùa sẽ giao nộp.
          Đầu năm 1626, Nguyễn Phúc Nguyên dời dinh trấn về Phước Yên (nay thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế), chuẩn bị thực lực để đối đầu với chúa Trịnh. Mùa xuân năm 1627, Trịnh Tráng đã đích thân chỉ huy đoàn quân thủy bộ tiến đánh Thuận Hóa, mở đầu cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn.
          Từ năm 1626 Dinh Cát không còn giữ vị thế là dinh trấn thủ phủ của họ Nguyễn, nhưng từ Nguyễn Phúc Nguyên đến các chúa Nguyễn về sau vẫn sử dụng dinh trấn cũ như một căn cứ tiền tiêu, với tên gọi là Cựu dinh, Ngoại dinh. Tại đây, năm 1657 Chu Thuấn Thủy và một số người Trung Hoa, người Nhật ở Hội An bị quản thúc đã được đưa ra Ngoại dinh Cát để yết kiến chúa Nguyễn Phúc Tần ([18]). Năm 1776, khi viết Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn còn mô tả "Trấn dinh cũ của họ Nguyễn ở phía tây sông Ái Tử, từ dinh mới ra đường cái, sang cầu Ái đi về tay trái nửa khắc là đến nơi, nhà quân lính vẫn còn, tức là chỗ dinh của Đoan quận công Nguyễn Hoàng khi mới vào trấn" ([19]).
          Đã 400 năm từ lúc Nguyễn Hoàng qua đời, dấu tích cụm dinh trấn Ái Tử - Trà Bát - Dinh Cát đã từng có mặt 68 năm trên vùng đất Quảng Trị, đến năm 1776 Lê Quý Đôn còn nhìn thấy, đến nay gần như không còn gì, nhưng âm vang của vùng đất khởi nghiệp thời Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên, nơi phát tích chính quyền của các chúa Nguyễn vẫn còn gợi lên nhiều vấn đề để chúng ta tiếp tục suy ngẫm. Phải chăng những sách lược thu phục nhân tâm - chính trị khoan hòa - quân lệnh nghiêm trang - dụng pháp công bằng - làm ơn cho dân - cấm đoán kẻ dữ… của thời Nguyễn Hoàng vẫn là những bài học đến nay còn mang tính thời sự./. 
Nguyễn Xuân Hoa
_____________________________
[1] Lê Quý Đôn Toàn Tập, Tập I, Đại Việt Thông Sử (Ngô Thế Long dịch), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978, tr. 305-306.
[2] Dương Văn An, Ô Châu Cận Lục, Tân dịch hiệu chú (Trần Đại Vinh, Hoàng Văn Phúc dịch và hiệu chú), NXB Thuận Hóa, Huế, 2001, tr. 91-92.
[3] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục. Tập I (Tổ phiên dịch Viện Sử học dịch), NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004, tr. 27.
[4] Vô danh thị, Ô Châu Cận Lục (Dương Văn An nhuận sắc, tập thành, Bùi Lương dịch), Văn hóa Á Châu xuất bản, Sài Gòn, 1960, tr. 46.
[5] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Sđd, tr. 28.
[6] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2009, tr. 852.
[7] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Sđd, tr. 31.
[8] Lê Quý Đôn Toàn Tập, Tập I, Phủ Biên Tạp Lục (Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Trọng Hân, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 50.
[9] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Sđd, tr. 890.
[10] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Sđd, tr. 911.
[11] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Sđd, tr. 910-915.
[12] Quốc sử quán triều Nguyễn, Sđd, tr. 35.
    Nguyễn Khoa Chiêm, Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí (Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga dịch), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2003, tr 81-83
    (Thật ra, chùa Thiên Mụ đã được Dương Văn An mô tả rất chi tiết từ năm 1555: "Chùa Thiên Mụ ở phía nam làng Hà Khê huyện Kim Trà. Trên nương đỉnh đồi, dưới gối dòng sông. Tấc gang gần gũi ven trời… thật là một cảnh trí thần tiên vậy"). Dương Văn An, Ô Châu  Cận Lục, Sđd, tr. 95.
[13] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Sđd, tr. 35-36.
[14] Trịnh Tiến Thuận. Quan hệ Nhật Việt thời chúa Trịnh, Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Chúa Trịnh, vị trí và vai trò lịch sử", Thanh Hóa, 1995.
[15] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, NXB Phương Đông, 2012, tr. 479.
[16] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Sđd, tr. 37.
[17] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Sđd, tr. 41.
[18] Chu Thuấn Thủy, Ký Sự Đến Việt Nam Năm 1657 (An Nam cung dịch kỷ sự - Vĩnh Sính dịch), Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1999, tr 28.
[19] Lê Quý Đôn Toàn Tập, Tập I, Sđd, tr. 109.