Trang

Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2013

NHỮNG ĐIỀU LÝ THÚ VỀ THANH LONG

Trái thanh long có nhiều công dụng với sức khỏe mà có thể bạn chưa biết. Dưới đây là một số lợi ích cụ thể!




Giàu vitamin C: Thanh long tươi hoặc sấy khô là nguồn giàu vitamin C, rất cần thiết cho cơ thể trong việc giúp cải thiện hệ miễn dịch và tăng cường sức khỏe.



Phong phú vitamin nhóm B: Trái thanh long có chứa các loại vitamin nhóm B, như vitamin B1 (thiamine), có tác dụng xử lý carbohydrate (bao gồm chất xơ, tinh bột và đường) một cách nhanh chóng, giúp tạo ra năng lượng cho cơ thể; vitamin B3 (niacien) giúp làn da sáng bóng, mịn màng; vitamin B12 giúp tạo cảm giác ngon miệng, đặc biệt tốt đối với người bệnh trong quá trình điều dưỡng.



Giàu protein: Thanh long là nguồn phong phú protein - một chất dinh dưỡng thiết yếu giúp cơ thể hình thành các kích thích tố, men tiêu hóa và hóa chất, có tác dụng giúp tăng cường sức khỏe.



Chất béo có ích: Thanh long có nhiều hạt nhỏ chứa chất béo không bão hòa, rất tốt cho sức khỏe, bởi vì nó giúp làm tăng cholesterol tốt và loại bỏ cholesterol xấu.

Nhiều khoáng chất có ích: Các khoáng chất chứa trong trái thanh long bao gồm phốt pho và canxi. Cả hai khoáng chất này đóng vai trò thiết yếu trong quá trình hình thành của xương, răng và phát triển các tế bào.

Chống oxy hóa: Thanh long cũng là nguồn phong phú chất chống oxy hóa, có chức năng ngăn chặn sự tấn công của các gốc tự do gây hại, vốn là tác nhân gây ung thư và các vấn đề sức khỏe khác.

Ngừa táo bón: Khi bị táo bón, bạn có thể cải thiện tình hình nhanh chóng bằng cách ăn thanh long, vì đây là trái chứa nhiều chất xơ.


Kiểm soát đường huyết: Các thành phần chứa trong trái thanh long đã được chứng minh có tác dụng giúp ổn định mức đường huyết, đặc biệt tốt cho những người mắc bệnh tiểu đường típ 2.

Ổn định huyết áp: Ăn thanh long có thể để giúp ổn định huyết áp, mang lại nhiều lợi ích cho những người có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ.

Trung hoà độc tố: Để giúp vô hiệu hóa các loại độc tố trong cơ thể như thủy ngân, thạch tín và những chất khác gây nguy hiểm cho sức khỏe, bạn nên thường xuyên ăn thanh long.

Cải thiện thị lực: Cũng như cà rốt, thanh long có chứa nhiều carotene, có tác dụng duy trì và cải thiện thị lực.

Giúp giảm cân: Để có thể hình lý tưởng, hãy bổ sung thanh long vào thực đơn hàng ngày. Bạn sẽ thấy hiệu quả mang lại chỉ trong vài tháng.

Giảm ho và suyễn: Ho và hen suyễn là một số rối loạn hô hấp thường ảnh hưởng đến cả trẻ em và người lớn. Để giảm các triệu chứng khó chịu này, bạn chỉ cần siêng ăn thanh long.
Giá trị dinh dưỡng của trái thanh long
Thanh long là trái cây mới được liệt kê vào danh sách nhóm “siêu thực phẩm” với một số lợi ích sức khỏe chắc chắn và giá trị dinh dưỡng cao. Tuy không phải là một “thần dược” có tác dụng chữa bệnh, thanh long là một loại quả ăn ngon mà lại bổ dưỡng.

Thanh long có thể ăn sống, nấu chín hoặc làm mứt.

Trung bình, một trái thanh long chứa khoảng 60 đơn vị calo, 60 mg natri, 8 g đường và 1 g chất xơ. Không giống như các loại trái cây khác, ngoài các chất dinh dưỡng kể trên, thanh long còn chứa 2g chất béo không bão hòa và 2g protein.

Hầu hết hàm lượng chất béo và protein được tìm thấy trong các hạt màu đen, nhỏ li ti của quả thanh long.

Truyền thuyết kể rằng, thanh long (hay còn gọi là trái cây ‘hình rồng’) được tạo ra bởi một con rồng trước khi nó chết. Thanh long là một thành viên của gia đình xương rồng và được trồng ở khắp nơi trên thế giới, trong đó có nhiều ở Châu Á, Philippines. Mexico, Nam Mỹ. Loại trái cây này còn được biết đến với cái tên khác như hoa mặt trăng, cây xương rồng nở hoa ban đêm… Cái tên ‘thanh long’ xuất phát từ những chiếc lá có màu đỏ giống như những cái vảy bao quanh ngoài quả. Phần thịt của quả thanh long chi chít những hạt nhỏ li ti, màu đen một phần giống với hạt của quả kiwi. Kết cấu và hương vị của thanh long cũng giống với kiwi và quả dưa hấu.

Những lợi ích mà thanh long đem lại

Thanh long chứa một hàm lượng đáng kể vitamin C, carotin, canxi, một số loại vitamin B, một số chất dinh dưỡng và chất chống oxy hóa khác. Những dưỡng chất này giúp hệ thống tiêu hóa trong cơ thể hoạt động tốt hơn, đem lại cho bạn một hệ miễn dịch khỏe mạnh, năng lượng dồi dào. Ngoài ra, ăn thanh long còn rất tốt cho da và thị lực.
***
Thanh long tốt cho sức khỏe
Thanh long, còn được gọi là pitahaya, là loại trái cây của một loại cây họ xương rồng, chúng có hoa rất đẹp quả thì ngon và bổ dưỡng. Các màu sắc của quả thanh long thay đổi từ vàng tươi đến đỏ tươi. Quả có hình bầu dục và có những vảy màu da cam và được bao phủ bên ngoài tạo cho nó biệt danh của con rồng. Nhưng bên trong của quả là một vị ngọt và hạt màu đen nhỏ bé ăn được.

Các chất dinh dưỡng trong thanh long:

Vitamin C

Thanh long là một nguồn cung cấp vitamin C tuyệt vời, theo nghiên cứu cho thấy chỉ 100 gram thanh long khô hay một mảnh trái cây tươi đã đáp ứng được gần 50 phần trăm lượng vitamin C hàng ngày. Vitamin C có một vai trò quan trọng hỗ trợ hệ miễn dịch và thậm chí có thể giúp nhanh khỏi và giảm mức độ nghiêm trọng của cảm lạnh thông thường.

Chất chống oxy hóa

Thanh long được chứa đầy đủ các chất chống oxy hóa, giúp bảo vệ các tế bào của cơ thể trước sự tấn công của các gốc tự do, đẩy lùi tốc độ lão hóa và thậm chí là ngăn chặn bệnh ung thư.

Chất xơ

Đối với những người đang cố gắng để tăng lượng chất xơ trong khẩu phần ăn hàng ngày, thanh long có thể là một lựa chọn thay thế tuyệt vời. Một nửa quả thanh long lớn, hoặc 100 gram, có thể chứa lên đến 1 gram chất xơ, trong khi mỗi 100 gram trái cây sấy khô có thể có nhiều hơn 10 gram chất xơ.

Chất béo và Cholesterol

Qủa thanh long có chứa nhiều hạt nhỏ ăn được, và trong hạt có chứa một số chất béo, như các hạt màu đen rất nhỏ, vì chúng nhỏ và quá nhiều nên việc loại bỏ khỏi thịt của quả là một việc khó khăn và sẽ khiến bạn căng thẳng nếu có ý định này. Phần lớn chất béo tìm thấy trong trái cây thanh long là chất béo không bão hòa, chất mà thường được xem là một dạng của chất béo lành mạnh và tốt cho sức khỏe. Trong khi nhiều người tìm nhiều cách để giảm cholesterol đã quan tâm khẩu phần ăn với các loại hạt và rau xanh, thì quả thanh long có thể sẽ là một lựa chọn tốt để được thêm vào chế độ ăn uống lành mạnh và bạn sẽ không phải bận tâm đến ảnh hưởng của cholesterol.

Thành phần dinh dưỡng

Khi bạn ăn một quả thanh long chứa khoảng 60 calo, 14 calo trong số đó được lấy từ chất béo chưa bão hòa. Một phần ăn với quả thanh long không có chất béo bão hòa, mặc dù nó chứa 9g carbohydrate, 1g chất xơ và 8g còn lại là từ đường, 60 mg từ natri và 2g của protein
Tác dụng của trái thanh long
Thân cây thanh long gọt bỏ vỏ và gai, rửa thật sạch với nước muối loãng, giã nát lấy nước bôi hay dùng bã để đắp chữa bỏng lửa, bỏng nước sôi, viêm tuyến mang tai, đinh nhọt, gãy xương.

Theo Đông y, quả thanh long (trường tiên) có vị ngọt, chua, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, nhuận phế, chỉ khái, hoá đàm. Thân cây có tác dụng thư cân hoạt lạc (giúp gân cốt co duỗi khoẻ khoắn và làm thông suốt các kinh lạc) và giải độc. Hoa có tác dụng bổ phế, trừ ho.

Đặc biệt, chất nhầy trong quả thanh long giúp làm giảm cholesterol của thức ăn và muối mật. Do đó, người mập phì, người có hàm lượng cholesterol huyết áp tăng cao nên ăn thanh long. Thanh long còn thích hợp với người bệnh đái tháo đường, cao huyết áp, táo bón kinh niên.

Thân cây thanh long gọt bỏ vỏ và gai, rửa thật sạch với nước muối loãng, giã nát lấy nước bôi hay dùng bã để đắp chữa bỏng lửa, bỏng nước sôi, viêm tuyến mang tai, đinh nhọt, gãy xương.

Hoa khi nở có màu trắng đẹp như hoa quỳnh, được dùng chữa viêm phế quản, viêm hạch bạch huyết thể lao, giải độc rượu. Liều dùng 15 - 30g tươi, sắc uống hoặc 10 - 12g khô sắc uống, hãm trà để uống.

Có thể nấu hoa thanh long với thịt heo nạc để làm món súp bổ dưỡng, chữa tình trạng phổi yếu hay bị ho đàm. Thanh long là nguồn vitamin C cần thiết cho cơ thể giúp chữa một số chứng bệnh do thiếu vitamin C.
***
Thanh long một loài cây được trồng chủ yếu để lấy quả và cũng là tên của một vài chi của họ xương rồng. Thanh Long là loài thực vật bản địa tại Mexico, các nước Trung Mỹ và Nam Mỹ. Hiện nay, loài cây này cũng được trồng ở các nước trong khu vực Đông Nam Á như Việt Nam, Malaysia, Thái Lan, Philippines, Indonesia (đặc biệt là ở miền tây đảo Java); miền nam Trung Quốc, Đài Loan và một số khu vực khác.
Quả của thanh long có ba loại, tất cả đều có vỏ giống như da và có một chút lá. Chúng có tên gọi khoa học như sau:
Hylocereus undatus thuộc chi Hylocereus, ruột trắng với vỏ hồng hay đỏ.
Hylocereus polyrhizus thuộc chi Hylocereus, ruột đỏ với vỏ hồng hay đỏ.
Hylocereus megalanthus, trước đây được coi là thuộc chi Selenicereus, ruột trắng với vỏ vàng.
Các hạt giống như hạt vừng đen nằm lẫn lộn trong ruột. Lớp cùi thịt trong ruột thường được ăn ở dạng quả tươi, có mùi vị thơm dịu, ngọt vừa phải và ít cung cấp calo. Hương vị của nó đôi khi giống như hương vị của quả kiwi (Actinidia deliciosa). Quả có thể chế biến thành nước quả hay rượu vang; hoa có thể ăn được hay ngâm vào nước giống như chè. Mặc dù các hạt bé tí xíu của chúng được ăn cùng với thịt của ruột quả nhưng chúng không bị tiêu hóa.
Giá trị dinh dưỡng trong 100 g quả thanh long (trong đó có 55 g ăn được) như sau:
Nước 80-90 g
Cacbohydrats 9-14 g
Protein 0,15-0,5 g
Chất béo 0,1-0,6 g
Chất xơ 0,3-0,9 g
Tro 0,4-0,7 g
Năng lượng: 35-50 Cal
Canxi 6–10 mg
Sắt 0.3-0.7 mg
Phospho 16 – 36 mg
Caroten (Vitamin A): dạng vết
Thiamin (Vitamin B1): dạng vết
Riboflavin (Vitamin B2): dạng vết
Niacin (Vitamin B3) 0.2-0.45 mg
Axit ascorbic (Vitamin C) 4–25 mg
Các giá trị nêu trên có thể thay đổi theo giống và điều kiện trồng trọt.
Thành phần axit béo của hai giống thanh long
Hylocereus polyrhizus
(thanh long ruột đỏ) Hylocereus undatus
(thanh long ruột trắng, vỏ đỏ)
Axit myristic 0,2% 0,3%
Axit palmitic 17,9% 17,1%
Axit stearic 5,49% 4,37%
Axit palmitoleic 0,91% 0,61%
Axit oleic 21,6% 23,8%
Cis-Axit vaccenic 3,14% 2,81%
Axit linoleic 49,6% 50,1%
Axit linolenic 1,21% 0,98%
Trồng tại Việt Nam

Loại ruột đỏ, vỏ hồng lấy giống từ Đài Loan năm 1988, hiện nay mới trồng thử nghiệm tại Lạng Sơn và Phủ Quỳ (tỉnh Nghệ An). Loại ruột trắng vỏ hồng hay đỏ được trồng rộng rãi ở các tỉnh như Bình Thuận, Long An, Tiền Giang v.v.
Kỹ thuật trồng

Loại ruột đỏ
Thanh long ruột đỏ thích nghi với nơi có nhiều ánh sáng, dưới ánh sáng cao, độ đường tăng, nhiệt độ thích hợp từ 15 – 35°C, nếu dưới nhiệt độ đó cây sẽ phát triển chậm hoặc không sinh trưởng được. Do đó khi trồng cần tận dụng hướng nam và đông nam, nơi có đất đai bằng phẳng và ánh sáng nhiều. Là cây có tính chống hạn thích hợp với các loại đất ở trên núi đá hay bờ rào ở nông thôn và vùng ven biển, đất có tỷ lệ hạt dính 20%, hạt cát 40%, hạt đất 40% sẽ giúp cho cây hấp thụ dinh dưỡng, hàng tháng lượng mưa từ 50 – 100 mm cây sẽ sinh trưởng phát triển tốt.
Làm đất và bón phân
Với đất bằng: Dùng 600 – 1.000 kg phân chuồng/mẫu và vôi bột thích ứng, cũng như các chất hữu cơ khác để cải tạo đất.
Đối với đất dốc: Độ dốc dưới 15° phải cuốc rộng, phía trong thấp hơn phía ngoài 10 – 15 cm để giữ nước chống xói mòn.
Đối với đất đồi: Trên 15° trồng từng khóm khoảng cách giữa các khóm 2 x 2 m.
Đối với đất núi đá sỏi: Mỗi hố trồng phải có đường kính 1 m trở lên, độ sâu 30 cm, đá xung quanh phải đập vụn, bổ sung thêm 50% đất, 30% cát mịn, 20% phân hữu cơ và một ít vôi bột cho xuống hố.
Cần chú ý trừ cỏ bằng thuốc diệt cỏ, không phun vào cây và xung quanh bộ rễ. Khi cây được nửa năm thì rễ đã phủ toàn bộ mặt đất không sử dụng được thuốc diệt cỏ, nên cần che đậy để giảm cỏ mọc.
Cách trồng và chăm sóc
Trồng cây khoảng cách: 2,5 x 2,5 m, trồng sâu 5 – 10 cm, khi trồng đào hố dựng cột (cột có thể bằng xi măng hoặc gỗ, tuy nhiên trụ được làm từ xi măng bền và lâu hơn trụ được làm từ gỗ), mỗi hố trồng từ 4 – 8 cây con xung quanh cột. Để cây thanh long mau lớn và đạt sản lượng cao phải che đậy cẩn thận để giữ gìn bộ rễ, không để tổn thương do ánh nắng mặt trời, úng nước, gió bão... Đồng thời cắt xén những cành cây không thể mọc mầm và ra quả, ngắt bớt hoa và theo dõi tình hình hoa nở và kết quả, mỗi cành nên để 3 – 4 quả. Cần chống nóng với những cây con mới trồng. Hàng năm trước khi vào mùa đông, khi bón phân phải thêm phân kali chống rét cho cây, đồng thời che đậy để giữ độ ẩm v.v...
Loại ruột trắng
Loại này được trồng phổ biến ở các tỉnh nam Trung Bộ và Nam Bộ nhưng thương hiệu nổi tiếng nhất là ở Bình Thuận (năm 2003 tỉnh này có 5.000 ha trồng thanh long và sản lượng 90.000 tấn quả, trị giá xuất khẩu 6 triệu USD). Loại thanh long này sinh trưởng và phát triển tốt ở những nơi có cường độ ánh sáng cao và toàn phần. Được trồng trên nhiều loại đất khác nhau như: đất xám bạc màu, đất phèn… nhưng muốn có năng suất cao, đất phải có tầng canh tác tối thiểu từ 30–50 cm.
Chuẩn bị đất
Vùng đất cao: Đào hố kích thước 50 x 50 x 50 cm, trồng trụ lấp đất còn khoảng 20–30 cm rồi bón lót phân chuồng 15–20 kg/trụ rồi phủ lớp đất mặt lên.
Vùng đất thấp: Phải luống, độ cao phải cao hơn mực nước cao nhất trong năm từ 20–30 cm. Sau đó đào hố trồng trụ và bón lót.
Chuẩn bị trụ
Thanh long cần bám vào cây trụ, do đó phải chuẩn bị trụ trước khi đặt hom giống. Có thể dùng trụ bằng gỗ hay xi măng cốt thép. Tuy nhiên nếu dùng trụ xi măng cần chú ý vào mùa nắng trụ hấp thụ nhiệt rất mạnh, dễ làm đứt các rễ khí sinh của thanh long, nên dùng rơm rạ, lá chuối hoặc bao tải bao một lớp mỏng xung quanh trụ để giảm bớt hấp thụ nhiệt và tưới lên trụ vào sáng sớm hay chiều tối. Trồng trụ trước khi đặt hom 1 tháng, chiều cao trụ khoảng từ 1,7-2,O m, phần chôn sâu từ 0,5-0,7 m, đường kính trụ 14–18 cm (trụ xi măng mỗi cạnh khoảng 12–15 cm). Trồng trụ thẳng, trên đầu trụ đóng thêm giá đỡ hình chữ thập (+) hoặc đóng nẹp 2 bên mép trụ giúp thanh long có chỗ bám trên đầu trụ, cành thanh long sẽ rũ xuống.
Chuẩn bị hom giống
Nên chọn hom giống có tiêu chuẩn như sau:
Tuổi hom từ 6-28 tháng, chọn các cành có gốc cành bắt đầu hóa gỗ nhằm hạn chế bệnh thối cành khi đặt hom xuống đất.
Chiều dài hom từ 50–70 cm
Hom khỏe, màu xanh đậm, không có vết sâu bệnh.
Các mắt mang chum gai phải tốt, mẩy, khả năng nảy chồi tốt.
Sau khi chọn hom xong, hom được giâm nơi thoáng mát trên nền đất khoảng 10-15 ngày sẽ ra rễ để đem trồng. Cũng có thể đem hom trồng thẳng không qua giai đoạn giâm. Đặt hom cạn khoảng 3–5 cm, nên đặt phần đã hóa gỗ xuống đất để tránh thối gốc. Mỗi trụ đặt 3-4 hom. Đặt áp phần thẳng của hom vào trụ. Cột hom vào trụ để tránh gió làm lung lay hom khi rễ chưa bám vào đất. Vào mùa nắng nên ủ gốc bằng rơm rạ hoặc cỏ khô để giữ độ ẩm.
Trồng và chăm sóc
Mật độ trồng:
Mật độ trồng khoảng 700-1.000 trụ/ha, khoảng cách trồng 3 x 3 m hoặc 3 x 3,5 m. Có thể bố trí trồng xen các loại cây ngắn ngày khác nhưng phải đảm bảo cho thanh long nhận đầy đủ ánh sáng.
Thời vụ trồng:
Thường trồng vào tháng 10-11 dương lịch vì lúc này nguồn hom giống dồi dào do trùng với thời gian tỉa cành, lợi dụng ẩm độ cuối mùa mưa, tránh được ngập úng, tuy nhiên đến mùa khô cây chưa đủ sức chống chịu với nắng hạn cần phải tưới nước và giữ ẩm cho cây.
Tỉa cành:
Sau khi trồng 7-10 ngày: chọn 1 chồi phát triển tốt nhất, bám chặt vào trụ để lại sao cho cành từ mặt đất đi thẳng tới đỉnh trụ.
Khi cành dài 30–40 cm: Tiến hành uốn cành nằm xuống đỉnh trụ. Nên uống vào lúc trưa nắng, lúc này cành mếm dễ uốn, mỗi ngày một ít cho đến khi cành nằm được trên đỉnh trụ, dùng dây nilon buộc lại. Biện pháp này giúp cành mau ra chồi mới.
Khi cành đâm chồi: Chọn 1-2 chồi phát triển tốt để lại.
Sau khi cây cho trái: Hết mùa thu hoạch trái, tỉa bỏ cành cũ bên trong tán, cắt ngang cành và cách gốc 30–40 cm nhằm làm giá đỡ cho cây. Cành vừa cho trái vụ trước nên để lại nuôi chồi mới (chỉ để lại 1 chồi trên cành mẹ) khi cành dài 1,2-1,5 m thì cắt đọt cành con tạo điều kiện cho cành mập và nhanh cho trái.
Bón phân (cho 1 trụ):
Thời kỳ 1-2 năm đầu: Bón lót: 15–20 kg phân chuồng hoai, 100 gam super lân cho một trụ. Bón thúc: 100 g urê + 100 g NPK 16-16-8 vào các giai đoạn 20-30 ngày sau khi trồng, sau đó 3 tháng bón 1 lần. Khi cây ra hoa có thể cấp thêm 50 g phân kali (KCl).
Thời kỳ từ năm thứ 3 trở đi: Chia làm 8 lần trong năm. Rải phân đều trên bề mặt đất xung quanh trụ, xới nhẹ cho phân lọt xuống đất hoặc phủ lên bằng một lớp đất mỏng sau đó ủ rơm hay cỏ khô, sau khi rải phân cần tưới nước. Liều lượng bón: 1,08 kg urê + 3,2 kg lân + 0,8 kg KCl.
Lần 1-Sau khi thu hoạch. 100% phân lân + phân chuồng hoai + 200 g urê
Lần 2-Cuối tháng 12: 5oog urê + 150 g KCl
Lần 3-Cuối tháng 2: 180 g urê + 150 g KCl
Lần 4-Cuối tháng 4: 100 g urê + 100 g KCl
Từ lần 5 đến lần 8: cứ mỗi tháng bón 1 lần, liều lượng như lần 4.
Ngoài ra có thể phun bổ sung thêm các loại phân vi lượng bằng cách phun thêm phân bón lá vào 10 ngày sau khi đậu trái và lúc phát triển nhanh.
Tưới nước, ủ gốc, làm cỏ:
Thanh long là cây chịu hạn nhưng nếu thiếu nước cây sẽ tăng trưởng chậm, khả năng ra hoa, đậu quả kém, năng suất thấp. Do đó phải đảm bảo tưới nước đầy đủ và ủ gốc vào mùa nắng.
Cỏ dại cạnh tranh dinh dưỡng và là nơi trú ẩn của sâu bệnh, vì vậy phải làm cỏ thường xuyên bằng tay hoặc sử dụng thuốc diệt cỏ.
Hoa của loài Hylocereus undatus
Thời điểm xử lý từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 2 dương lịch, với tuổi cây từ 4-5 tuổi trở lên. Sử dụng điện lưới hoặc máy nổ, công suất điện cần phải ổn định và bóng đèn tròn 75 W hoặc 100 W. Khoảng cách từ bóng đèn đến tán cây từ 0,5–1 m. Thời gian chiếu sáng ban đêm: từ 4-8 giờ. Thời gian chiếu sáng theo đợt: đầu vụ và cuối vụ khoảng 10 - 12 đêm. Giữa vụ (tết) khoảng 15 đêm. Có thể bón thêm phân NPK cho cây.
Bón phân cho thanh long trái vụ:
Trước thắp đèn 20-30 ngày xịt phân bón lá có tỷ lệ NPK là 33:11:11 (Tức là có tỷ lệ N = 33%; P2O5 = 11% và K2O = 11%).
Trước thắp đèn 10 ngày xịt phân bón lá NPK = 10:60:10 (1 lần). Sau 5 ngày thì xịt loại 6:30:30 (2 lần).
Ngay sau khi lặt bỏ hoa, xịt ngay SIÊU CANXI, giúp mau lành vết thương, lỗ trái nhỏ và bảo vệ 3 tai dầu trái.
10 ngày dầu sau khi trái hình thành phun COMBI.GA3, phun 2 lần, cách nhau 5 ngày.
Giai doạn sau 10 ngày, trái lớn rất nhanh cả về kích thước lẫn chất lượng, phun liên tục 2-3 lần KPT "Siêu To Trái THANH LONG", 5-7ngày phun 1 lần.
Chú ý: nếu bị lem trái, phun ngay 7-5-44+TE
Sử dụng phân bón lá Humamix trên thanh long trái vụ:


Hoa của loài Hylocereus undatus
Trước khi thắp đèn 1 ngày, xịt Humamix (6:30:30) (30 ml/bình loại 8 lít và xịt 2 lần, lần sau cách lần đầu 7 ngày). Sau thụ phấn 3 ngày, xịt Humamix (30:10:10) (30 ml/bình loại 8 lít và xịt 2 lần, lần sau cách lần đầu 5 ngày). Trước khi thu hoạch 3 tuần, xịt Humamix (12:0:30:4 Ca) (30 ml/bình loại 8 lít và xịt 2 lần, mỗi lần cách nhau 5 ngày. Chú ý xịt ướt đều trên tán cây vào lúc 9-10 giờ sáng.
Ngoài ra còn có một biện pháp khác dành cho những hộ gia đình không có vốn đầu tư nhưng Thanh long làm ra không có giá bằng Thanh long chông đèn đó là sử dung hỗn hợp dinh dưỡng VSL-1 chấm vào mắt trên cây thanh long để kích thích ra hoa vào thời điểm mà mong muốn.Do Công ty giống cây ăn quả Đồng Nai (VACDONA)nghiên cứu.Phương pháp này rất đơn giản, áp dụng quy trình chăm sóc, bón phân và phun dung dịch VSL-2 kết hợp ni-tơ rát ka-li để kích thích mắt thanh long nở to đồng đều, sau đó bóc mắt và lựa chọn mắt có khả năng nở hoa để chấm hỗn hợp dinh dưỡng VSL-1 vào. Nếu điều kiện thời tiết thuận lợi, chỉ ba ngày sau cây đã nhú nụ và nở hoa sau khoảng 22 ngày. Tuy nhiên, để thanh long ra hoa, đậu quả và có hình dáng quả đẹp cần phải biết kỹ thuật bóc mắt và chấm hỗn hợp dinh dưỡng đúng thời kỳ cây có khả năng tập trung dinh dưỡng ra hoa, kết quả. Hỗn hợp dinh dưỡng VSL-1 đã được Hội đồng khoa học (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) công nhận là loại phân bón có chất kích thích sinh trưởng cây trồng ra hoa năm 2002, nhưng đến nay mới triển khai được trên một số hộ nông dân các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Đồng Nai và Long An...
Hiện nay Công ty VACDONA đang cùng một số hộ trồng thanh long nghiên cứu để pha chế hỗn hợp cho phù hợp mỗi mùa vụ và điều kiện khí hậu ở mỗi vùng để đạt năng suất, sản lượng cao nhất. Đây thật sự là một giải pháp giúp bà con nông dân muốn có sản phẩm thanh long thu hoạch trái vụ theo ý muốn để tiêu thụ dịp lễ tết hay thu hoạch theo ý muốn phục vụ xuất khẩu. Chất lượng quả xử lý theo phương pháp này có màu sắc đẹp, độ ngọt cao hơn, cây thanh long khỏe vì được bổ sung thêm dinh dưỡng sau mỗi lần xử lý.
Một số côn trùng và bệnh hại phổ biến trên thanh long như sau:
Kiến: cắn, đục khoét hom, cành non, tai lá, gây tổn thương vỏ trái làm mất giá trị thương phẩm. Dùng Basudin 10H rải quanh gốc cây, dùng Basudin 50ND Supracide phun xịt trên cành tại các vùng bị gây hại.
Rầy mềm: Có nhiều loại gây hại trên hoa và trái thanh long, chúng chích hút nhựa để lại vết chích nhỏ trên trái làm trái khi chin bị mất màu đỏ tự nhiên, mất giá trị xuất khẩu. Phun Lannate, Cyrux… nồng độ theo khuyến cáo trên nhãn thuốc.
Ruồi đục trái: Gồm nhiều loài nhưng phổ biến gây hại trên hoa và trái. Dùng thuốc bẫy ruồi như Vizubon, đặt 3-5 bẫy/1.000 trụ, đặt rải rác trong vườn thanh long.
Bệnh thối đầu cành: Do các loài nấm thuộc chi Alternaria làm ngọn chuyển màu vàng sau đó bị thối. Dùng Rovral 2 lần liên tiếp cách nhau 1 tuần.
Bệnh đốm nâu thân cành: Do nấm Gloeosporium agaves đốm tròn như mắt cua, nếu tập trung kéo dài thành vệt trên cành.
Bệnh nám cánh: Do nấm Macssonina agaves. Trên thân cành có một lớp màng mỏng màu xám tro, nhám.
Phòng trừ:
Vệ sinh đồng ruộng. Chống úng, chống hạn cho cây. Phun Rovral hoặc Anvil 5SC phối hợp với chất dính.
Ngoài ra còn một số bệnh sinh lý như rụng nụ do quá nhiều hoặc phân bón không đầy đủ, mất cân đối, hiên tượng nứt vỏ do thời tiết khô hạn sau đó mưa nhiều làm ruột quả phát triển mạnh hoặc teo trái lâu ngày. Phải kiểm soát không để bị khô hạn.
Công nghệ bảo quản quả thanh long

Trước đây, trái thanh long khó xuất đi xa do nhanh bị thối, hỏng. Để có thể xuất khẩu sang các nước châu Âu hay Bắc Mỹ bằng côngtenơ cấp đông theo đường biển nhằm giảm giá thành thì trái thanh long phải được xử lý để chống lại các hiện tượng nói trên. Công nghệ xử lý tiên tiến nhất hiện nay là bằng nước ôzôn.
trần minh hiền orlando ngày 17 tháng 6 năm 2013



Không có nhận xét nào: