Thay lời cuối
Thiện tâm của nhân dân Hoa kỳ
Guam
là nơi mà buổi sáng của nước Mỹ bắt đầu sớm nhất, rồi mới đến những địa
điểm khác như đảo Wake, Honolulu, và San Francisco. Đó cũng là mảnh đất
mà đối với đa số đoàn di tản đợt đầu, ánh bình minh đã hé rạng sau cơn
bão tố. Vừa tới đảo đã có nhiều hội từ thiện và cá nhân tình nguyện giúp
đo. Họ mang cơm tới trại, thông dịch, nấu ăn, săn sóc trẻ em, thay tã
cho con nít. Tuần báo TIME (5 tháng 5, 1975) kể lại là hãng
Mcdonald còn muốn tặng mỗi người một bánh hamburger và một chai coke khi
họ vừa đặt chân lên đất Mỹ để "giới thiệu lối sống Mỹ". Nhưng ban quản
lý trại đã từ chối vì cho là Mcdonald chỉ có dụng ý quảng cáo
Hai địa điểm trên đảo Guam là nơi được chọn: "Thành phố Thiếc" (Tin City) ở phi cảng quân sự Anderson, và trại Hải quân San, một
khu nhà cũ kỹ đã bỏ trống từ lâu. Hải quân đã chớp nhoáng mắc điện, làm
nhà vệ sinh, phòng tắm, nhà bếp. Ngày đầu, họ đã làm việc liên tục 24
giờ, rồi chuyển xuống 12 giờ một ngày. Một trại mới đã được dựng thêm,
gọi là "Trại Bất ngờ" (Camp Fortuitous). Thái độ những chú lính thuỷ đùa vui với trẻ con, diễu cợt với các cô gái, làm cho mọi người cảm thấy bớt căng thẳng đôi chút.
Từ
Guam, một số đông được chở tới Camp Pendleton ở Nam Cali. Nơi đây, các
lều vải rộng rãi đã được chớp nhoáng dựng lên. Từng đợt rồi lại từng
đợt, khi xe buýt chở đoàn người tới, các quân nhân TQLC mau mắn phát
chăn, quần áo ngủ, gói đồ vệ sinh, dép, và mỗi người một thỏi kẹo. Trước
cảnh đó, nhiều người đã quá cảm động, không cầm nổi nước mắt. Khi thấy
thực sự cơn bão tố đã đi qua, họ đã ôm chầm lấy nhau, bao nhiêu tình
cảm, bao nhiêu niềm vui.
Nhưng
Camp Pendleton chẳng mấy lúc đã đầy nghẹt. Phải chọn thêm trại. Tại Bộ
Quốc phòng, chúng tôi được ông Von Marbod yêu cầu tham gia ý kiến về địa
điểm trại và về nhu cầu của người tỵ nạn. Đoàn chúng tôi dùng một máy
bay nhỏ do Bộ thuê của hãng tư để đi xem xét một số trại. Trại Fort
Chattèe (Arkansas) và Eglin Air Force Base (Florida) được chọn ngay vì
khá rộng và có phương tiện tương đối lốt so với hai trại khác là Camp
Roberts ở California và Camp Pickett ở Virginia.
Khi tới trại Indiantown Gap ở
Pennsylvania thì chúng tôi thích quá vì trông nó hoang vu, thơ mộng lại
có cái "lỗ hổng" (khoảng trũng) nằm giữa hai bên núi đồi, vì thế gọi là
"gap". Vì nghĩ rằng cái "lỗ hổng" đó nó phản ảnh được phần nào cuộc đời
của chúng ta lúc đó, nên tôi một mực đề nghị nên chọn trại này.
Tổng kết đợt người đầu
Theo
thống kê chính thức: tổng cộng đoàn người được di tản lớp đầu là
130.000; trong số này, chỉ có khoảng 30.000, tức là 23% là thuộc thành
phần "có nguy hiểm cao độ" mà Mỹ thực sự định cứu; trong đó,
22.294 người là nhân viên và gia đình nhưng người làm việc cho các cơ
quan Mỹ; số còn lại, 100 000 người thì chỉ là vì may mắn (1).
Về
phương tiện chuyên chở, số người được Toà đại sứ di tản bằng máy bay
lớn, trực thăng, và xuồng là 65.000 người; số người đi ghe thuyền ra
biển và may mắn được làu Mỹ cứu cũng là 65.000 người, đúng một nửa.
Hoa kỳ cũng cố gắng "quốc tế hoá" việc
di tản và kêu gọi nhiều quốc gia. Ngày mồng 5 tháng 9, Đại sứ Dan Brown
người được uỷ thác trách nhiệm điều khiển Chương trình định cư gửi một
công điện cho các Đại sứ Mỹ tại khắp các nước, khẩn khoản yêu cầu họ
tranh thủ với các quốc gia thân hữu dung nạp một số di dân (2).
Đầu
tiên có nước Úc rồi tới một số quốc gia khác bày tỏ thiện chí như,
Argentina, Brazil, Chile. Tới ngày 10 tháng 5, kết quả là 25.000 người
được nhập cảnh ở các quốc gia khác (3).
Cánh tay rộng mở
Sau
khi vượt qua được hàng rào của mấy chính trị gia, và sau giai đoạn khó
khăn ban đầu, đoàn người di tản đã sớm tiếp xúc được với nhân dân Hoa
kỳ.
Việc
quan trọng nhất là vấn đề định cư. Vào lúc đó, gần 9% lao động Mỹ, tức 8
triệu người đang thất nghiệp. Đối với lao động các sắc tộc thiểu số,
mức thất nghiệp còn cao hơn gấp hai, gấp ba lần. Người Mỹ rất lo ngại về
việc người tị nạn sẽ vào cạnh tranh công ăn việc làm với họ. Tuy nhiên,
sau khi Đại sứ Dan Brown tuyên bố là toàn bộ người Đông Dương sẽ được
phân bố ra khắp nước Mỹ, và "Không có địa phương nào sẽ bị tràn ngập với số người tị nạn", nỗi
lo âu lúc ban đầu của nhiều nơi cũng bắt đầu giảm (4). Và sự công bình,
thiện tâm, những giá trị căn bản được đề cao của nhân dân Hoa kỳ đã
thắng thế.
Báo
chí đăng tải câu chuyện nhà thờ Los Gatos Christian ở California đón
tiếp 154 người tị nạn hoàn toàn không có giấy tờ hợp lệ. Sau khi ca đoàn
nhà thờ hát những bài cầu chúc thánh nhạc, các bà người Mỹ, người Việt
xúm nhau nấu cơm cho cả nhà thờ ăn: "Có bao nhiêu nước mắm thì chúng tôi đã mang ra hết", mục
sư Marvin Rickard nói với báo chí (4). Thống đốc Guam, ông Ricardo
Bordallo ký nghị định chấp nhận 25.000 người. Rồi từ đó, thái độ của
chính quyền cũng như nhân dân các tiểu bang như California, Arkansas,
Miami cũng thay đổi. Nhiều người như Chủ tịch Nghiệp Đoàn lao động
AFL-CIO, ông George Meany cũng như các Thống Đốc Reubin Askew (Florida),
James Longley (Maine), Dan Evans (tiểu bang Washington) đều ủng hộ đề
nghị của Tổng thống Ford tài trợ cho đoàn di cư(5). Và sau phản ứng
chống đối ban đầu, Quốc hội đã chuẩn chi 405 triệu cho mục tiêu này. Các
hội thiện nguyện. Hồng Thập Tự, các đoàn thể, tổ chức, cũng như cá nhân
bắt đầu xung phong cộng tác.
Làm
sao cho công cuộc định cư được thành công và hữu hiệu? Phương thức di
tản và định cư Hungary được coi là thành công và đã được chọn làm mô
hình để định cư đoàn người Việt tỵ nạn. Năm 1956, sau cuộc nổi dậy của
nhân dân Hung bị đè bẹp, ngày 12 tháng 12, Tổng thống Eisenhower cho
thành lập Uỷ ban Định Cư để điều hợp các hoạt động công cũng như tư nhằm
cứu trợ đoàn người Hung(6). Các Cơ Quan Thiện Nguyện (VOLAG) được kêu
gọi tham gia. Trong hai năm 1956-1957, có 30.701 người Hung được định cư
tốt đẹp. So sánh với mô hình định cư 675.000 người Cuba di tản năm
1959-60, mô hình Hungary có ưu thế hơn nhiều vì đã rải được người di cư
ra nhiều tiểu bang. Khuyết điểm của mô hình Cuba là tập trung quá nhiều
vào tiểu bang Florida.
Tất
cả có chín Cơ quan Thiện Nguyện tham gia định cư người Việt. Những tổ
chức này đã cố gắng hoạt động và phải chi tiêu trung bình là từ 2.500
tới 3.000 đô la để định cư mỗi gia đình. Trong khoản này, phần của Chính
phủ tài trợ chỉ là 500 đô la.
Sau
khi chọn được mô hình, tới việc kiểm tra an ninh. Thủ tục kiểm tra an
ninh lúc đầu hết sức phức tạp, đòi hỏi phải thông qua tới năm cơ quan,
gồm cả FBI và CIA? Quá trình định cư bị khứng lại. Có ngày ở trại Eglin
(Florida), chỉ có ba, bốn người xuất trại. Trong khi đó, số người tới
đảo Guam lên tới 50.000, gây ra khó khăn về tiếp tế, nước uống, vệ sinh.
Tôi "hy vọng là đáo này không bị chìm" một nhân viên coi trại đã phải phàn nàn. Tại Fort Chattèe có lúc cũng đã lên tới 25.000 người.
Xuất trại
Ban
quản lý các trại đánh điện về trung ương kêu ca về tình trạng xuất trại
chậm trễ. Để giải quyết vấn đề, sở Di trú bắt đầu miễn thủ tục kiểm tra
cho tất cả các trẻ em dưới 17 tuổi, những người làm cho các cơ quan Hoa
kỳ lúc trước, cùng với gia đình và họ hàng của họ. Sau đó, từng bước
một, đã nới lỏng thủ tục cho tất cả những người khác.
Để
giúp việc xuất trại cho sớm, tôi có đề nghị một kế hoạch cho xuất trại
mau lẹ, qua ông Von Marbod, lên Uỷ ban Đặc Trách Liên Bộ Đông Dương do
bà Julia Vadala Taft làm chủ tịch. Vào ngày 23 tháng 6, còn tất cả là
88.392 người trong các trại của Bộ Quốc phòng. Dự phóng đặt ra hai khả
năng: nếu giúp xuất trại được 700 người một ngày thì khoảng cuối tháng
10 là ra hết. Nếu làm chậm hơn, là 400 người một ngày thì phải tới tháng
1 năm 1976. Sau cùng, mức xuất trại trung bình là khoảng 600 người một
ngày (xem đồ thị về Dự Phóng Xuất Trại).
Sở
Di trú quy định là mỗi người đều cần có bảo lãnh, nếu không có thì
không được xuất trại. Nhưng tìm việc làm là vấn đề khó khăn nhất vì tình
trạng thất nghiệp đang lan tràn. Quốc hội yêu cầu Bà Julia Taft, Giám
đốc Uỷ ban định cư Đông Dương (Indochina Task Force) lên điều
trần ngày 24 tháng 7 về vấn đề này. Quốc hội sợ rằng vì không có việc
làm, đoàn người tỵ nạn sẽ gây nên gánh nặng cho Chính phủ phải trợ cấp.
Bà Taft đã hùng hồn biện hộ rằng: "Những lo ngại ban đầu của chúng ta về vấn đề công ăn việc làm cho số người di cư đã là không có cơ sở…".
Muốn
giúp cho bà Taft có thêm dữ kiện tranh đấu cho vấn đề này, tôi đã cùng
một số anh em bạn làm một khảo sát nhắm vào nhóm người tị nạn vùng thủ
đô Washington và lân cận. Khi hoàn thành, nghiên cứu được chuyển cho bà:
(xem Phụ Lục E):
Ngày 2 tháng 9, 1975
"Thưa Bà Taft,
"Khởi
đầu, tôi vui mừng thông báo là kết quả cuộc điều tra của chúng tôi có
chiều hướng chứng minh những điểm bà đã trình bày trước Uỷ ban Di trú
Thượng Viện ngày 24 tháng 7 là xác đáng. Thí dụ như về điểm bà nói tới
"mối lo ngại ban đầu về vấn đề công ăn việc làm (như là thất học hay khó
khăn về hoà nhập) đã là không có cơ sở". Điều tra của chúng tôi cũng
chứng minh là đoàn người di tản đang thiệt tha để có thể "được hưởng tất
cả những phúc lợi cũng như đóng góp vào sự thịnh vượng của xã hội Hoa
kỳ".
Trong
thời gian phỏng vấn (người ty nạn), chúng tôi đã đi tới những nhận xét
và những biện pháp sau đây, trân trọng chuyển đến để bà xem xét:
1 Yêu cầu các Cơ quan Thiện Nguyện cung cấp nhiều thông tin hơn cho người tỵ nạn, cả trước và sau khi xuất trại;
2.
Vì mức thất nghiệp đang cao cũng như vì chi phí tốn kém cho việc đỡ
đầu, ta nên khích lệ các cộng đồng đỡ đầu cho người tỵ nạn hơn là các tư
nhân;
3. Nghiên cứu và thiết lập một chương trình huấn nghệ tổng hợp càng sớm càng tốt;
4.
Cung cấp một ngân khoản tối thiểu cho các trường gia đình đang khi họ
tham gia vào những chương trình huấn nghệ này (thí dụ như là cho họ vay
tiền để chi phí), và
5. Cho vay nhẹ lãi giúp chính các doanh nhân (trong số người tỵ nạn) tạo ra công ăn việc làm cho người tỵ nạn…
Kính chúc bà luôn thành ông trong việc hỗ trợ đoàn người tỵ nạn Đông Dương.
Trân trọng,
Nguyễn Tiến Hưng, Ph. D.
Nhận được tài liệu này, bà Taft phúc đáp:
Uỷ ban Liên Bộ (Định Cư) Đông Dương
Bộ Ngoại giao
Ngày 6 tháng 10, 1975
"Thưa Giáo sư Hưng,
Với
sự quan tâm, tôi đã đọc tài liệu nghiên cứu của Giáo sư và đã yêu cầu
các thành viên Uỷ ban của tôi xem xét nó cho kỹ trong công tác đánh giá
về chất lượng và hiệu quả những cố gắng của chúng tôi trong công cuộc
định cư.
Ngoài
ra, tôi cũng đã chuyển một bản sao nghiên cứu của Giáo sư sang bên bộ
Giáo dục và An Sinh (HEW) là nơi một Uỷ ban đặc nhiệm về di tản cũng đã
được thành lập…".
Trân trọng
(kí) Julia Vadala Taft
Giám đốc
Để
cho bớt phần nào sự lo ngại của nhiều địa phương Mỹ về vấn đề công ăn
việc làm, nhiều người cũng đã nghĩ đến thành lập một số khu hay làng
Việt nam độc lập. Tại trại Indiantown Gap, có hai đề nghị tiên khởi. Chỉ
huy phó, Đại tá Robert Travis đề nghị:
Ngày 14 tháng 7, 1975
"Thưa Tiến sĩ Hưng,
Kèm
theo đây là bản sao về một quan niệm đối với vấn đề bảo lãnh người di
tản trong một cộng đồng. Như chúng ta đã bàn trong chuyên viếng thăm mới
đây của tiến sĩ, tôi thấy có hai điều khả thi: một là theo tài liệu
đính kèm, và hai là một đề nghị của Đại Học Bucknell. Tuy cả hai đều
giống nhau về bản chất, đề nghị Bucknell thiên về nông nghiệp và đề nghị
đảo Walllops hướng về kỹ nghệ;
"Tôi yêu cầu giáo sư giúp theo đuổi những ý kiến này…".
Trân trọng
(kĩ) Robert L. Travis
Chỉ huy Phó
Đề
nghị của Đại học Bucknell là giúp định cư 2.000 người Việt nam trên
10.000 mẫu đất trang trại ở tiểu bang Pennsylvania. Cộng đồng này sẽ sản
xuất các sản phẩm nông nghiệp, và sẽ có thể tự thiết lập cơ cấu xã hội,
hành chánh riêng, theo như luật pháp Hoa kỳ. Đề nghị thứ hai là định cư
từ 500 tới 1 000 người tại một khu đã có sẵn nhà ở (các căn hộ từ 1 tới
3 phòng ngủ), thuộc Bộ Y tế, Giáo dục và An sinh (HEW), ở sát cạnh đảo
Wallops, tiểu bang Virginia. Kỹ nghệ hải sản ở đây phát triển mạnh và
rất cần nhân lực. Tôi có chuyển những đề nghị này về các cơ quan thẩm
quyền để cứu xét.
Đoàn người vươn lên
Với
lòng hăng say và ý chí quả cảm, chính đoàn người tị nạn đã giúp cho các
trại di tản được đóng cửa gần như theo kế hoạch. Vào cuối năm 1975, hầu
hết số 130.000 người thuộc đợt đầu đã xuất trại, để hoặc định cư, hoặc
sống tạm thời với các gia đình bảo lãnh tại Mỹ và một số quốc gia. Hầu
hết họ đã thấy chân trời hé rạng và bắt đầu xây lại cuộc đời mới. Về sự
thành công của lớp người đầu, không những đại đa số đã không phải nhờ
đến trợ cấp của Chính phủ sau một thời gian ngắn, họ lại đã phát triển
và tiến bộ rất mạnh.
Theo Điều tra dân số chính thức của Chính phủ Hoa kỳ năm 2000 (U.S. Census 2000) thì vào năm đó, lợi tức mức giữa (median
income) của một gia đình Việt nam (4 người) đã lên tới 47.000 đô la,
tương đương bằng 75% lợi lức của một gia đình Mỹ nói chung (lợi tức mức giữa là
mức mà 50% số gia đình có lợi tức cao hơn, và 50%, thấp hơn, chứ không
phải lợi tức "trung bình"). So sánh với năm 1990, nó đã tăng lên được
36%. Số người còn nhận trợ cấp xã hội cũng chỉ còn 10% (so với 25%, năm
1990). Gần 60% của tổng số người Mỹ gốc Việt (1.13 triệu người) đã mua
được nhà, so sánh với 43% năm 1990.
Sự
thành công tốt đẹp này đã là một yếu tố quan trọng giúp cho Chính phủ
Hoa kỳ quyết định tiếp tục các chương trình tỵ nạn nối tiếp. Họ đã không
phải quá lo ngại về vấn đề trợ cấp và đặt thêm gánh nặng cho ngân sách.
Ngược lại, họ lại nhận thấy rõ ràng sự đóng góp tích cực về nhiều
phương diện, đặc biệt là việc đóng thuế cho cả ngân sách từ địa phương
đến trung ương.
Cũng
chính đoàn người lớp đầu, dù vất vả với công ăn việc làm nhưng đã tiếp
tục hoạt động trên mọi lãnh vực: luật pháp, nhân đạo, và có những cố
gắng vận động "hành lang", để kéo dài chương trình tị nạn được trên hai
thập niên. Ngoại trừ một số những hành động bất chính của phần tử nhỏ,
phần đông đã nêu gương sáng, cố gắng, lương thiện làm ăn, sinh sống, học
hành. Họ đã đóng góp cho xã hội và nền kinh tế của những quốc gia chấp
nhận họ.
Mặt
khác, sự thành công đó cũng đã giúp vào việc khích lệ Liên Hiệp Quốc
thúc đảy nhiều quốc gia giúp các cuộc di tản tiếp theo. Hai nỗ lực lớn
được khởi sự:
Hội nghị Quốc tế thứ nhất: được tổ chức tại Genève vào hai ngày 20 và 21 tháng 7, 1979. Tại Hội nghị này, "Chương trình ra đi có trật tự" ODP (Orderly
Departre Program) đã ra đời. Tất cả được 20 quốc gia cam kết sẽ tiếp
nhận hoặc nhận thêm số người di tản được nhận vào quốc gia họ, giúp giảm
bớt gánh nặng cho các nước Á châu; và
Hội
nghị thứ hai: "Hội nghị Quốc tế về Những Người Tị Nạn Đông Dương" tổ
chức từ ngày 13 đến 4 tháng 6, 1989, được 70 nước tham dự. Kết quả là
một "Kế hoạch hoạt động tổng quát" CPA được thiết kế giúp
giải quyết vấn đề thuyền nhân, đặc biệt là giúp định cư số 100 000
thuyền nhân còn kẹt lại ở các trại tại Đông Nam A và Hồng Kông.
Sau đó, trong khoảng thời gian từ 1990 tới 1999: 507.500 người Đông Dương đã đến được Miền đất mới.
Cuộc di cư vĩ đại đã kéo dài được 25 năm, một trong những cuộc di tản lâu nhất trong lịch sử cận đại (7).
Hiện
nay, số người Việt tại Mỹ, dù đã nhập quốc tịch hay chưa, đều đã chứng
tỏ khả năng và tư cách của mình trong mọi địa hạt. Từ xã hội, kinh tế,
thương mại, chính trị, quân sự, luật pháp, y học, khoa học, môi trường
nào cũng có những thành quả tốt đẹp, đóng góp cho nước sở tại.
Vào
những ngày tháng đầu lúc cuộc di tản mới bắt đầu (tháng 5, 1975), khi
dư luận chung tại Mỹ còn coi thường dân tị nạn, chính Tổng Giám đốc di
trú, ông Leonard Chapman đã có quan niệm khác. Ông cho rằng đoàn người
Việt nam tỵ nạn có nhiều đặc tính tốt, và vì vậy chắc chắn sẽ đóng góp.
Nhìn vào đám người tay xách nách mang, bồng bế nhau nhập Cam Pendleton,
ông Chapman tuyên bố :
"Người Việt nam làm việc rất chăm chỉ, ngay thẳng, rất sùng đạo, có óc nghệ thuật, và nặng tình gia đình" (8).
Giáo sư Tom Pettigrew, một nhà xã hội học trường Đại Học Harvard bình luận thêm:
Trong
một cuộc chiến tàn khốc như vậy, mà hầu hết những người khác đã không
thể cứng rắn và kiên trì được như thế, tôi nghĩ rằng những đặc tính này
sẽ được tìm thấy trong đoàn người di tản ấy". (9).
Giáo
sư Pettigrew đã tiên đoán rất là chính xác. Tinh thần cương quyết và
lòng kiên trì đã giúp cho lớp người Mỹ gốc Việt vượt qua bao nhiêu rủi
ro, bất trắc, bao nhiêu khó khăn trong cuộc hành trình vào Miền Đất Mới.
Họ đã không "chết phứt đi" như đã bị nguyền rủa, nhưng trái lại,
còn vươn lên và lớn mạnh, đóng góp đáng kể cho những quốc gia đã rộng
mở tiếp nhận họ. Nước Mỹ đã không phải rước của nợ mà đã nhận được của có.
Ngày nay, chắc chắn Nữ thần Tự do đã hài lòng về đoàn di dân mới nhất. Và họ đã đến từ Thái Bình Dương, phía sau lưng Bà.
Chú thích:
(1) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 588, 590; U.S. Government, interagency task force, The Prerident's Advisory Committee On Refugee Back Ground Papers, May 19, 1975, trang 6-7.
(2) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 588, 590;
(3)
U.S. Government, interagency task force, The President's Advisory
Committee On Refugee Back Ground Papers, May 19, 1975, trang 35-37.
(5) TIME (Magazine), 5 tháng 5, 1975, trang 26; xem thêm: U.S. Government, interagency task force. Background Matenal, May 12, 1975, B. Attachment A-E. 19 tháng 5, 1975, trang 22-29.
(6) Gerald Ford, A time to heal, trang 257.
(7) U.S. Government, interagency task force, Background Paper, May 19, 1975, trang 51-60. Về lịch sử tỵ nạn 1975 tới đầu thập niên 1990, xem Lê Xuân Khoa, Việt nam, 1945-1995, Tập II (sẽ xuất bản trong tương lai).
(8) TIME (Magazine), 12 tháng 5, 1975, trang 25.
(9) TIME (Magazine), 12 tháng 5, 1975, trang 25.
Hết
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét