Trang

Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2016

“Hòn đá thiêng” của làng Hưng Nhơn




(QT) - Ở thôn Hưng Nhơn, xã Hải Hòa, huyện Hải Lăng (Quảng Trị) ngày nay vẫn còn lưu giữ một hòn đá thiêng, được dân làng xem như bảo vật. Thường niên làng tổ chức hội bưng đá truyền thống. Điểm độc đáo của lễ hội này là ngày xưa, đến tuổi đinh, ai muốn có ruộng tốt đều phải bưng được hòn đá này đi đủ một cự ly đã được định sẵn.

Sự tích “hòn đá thiêng”
Ngày nay, “hòn đá thiêng” này (còn gọi là trống đá vì tương tự như chiếc trống cơm, đường kính 40 cm, cao 26 cm, thân trống có đường gân gờ bao quanh, nặng khoảng 80 kg) đã được đặt ở sân đình tọa lạc ngay đầu cổng làng Hưng Nhơn. Sự tích “hòn đá thiêng” gắn liền với ngôi miếu Bà Giàng, người dân ở địa phương hầu hết đều biết ít nhiều nhưng am hiểu nhất vẫn là một số cụ cao niên trong làng. Chúng tôi tìm gặp cụ Nguyễn Đức Sử, (83 tuổi), một trong những bậc cao niên ở làng để tìm hiểu. Dù tuổi đã cao nhưng cụ Sử vẫn còn minh mẫn và kể khá rành mạch về sự tích “hòn đá thiêng” và miếu Bà Giàng. Cụ kể, làng Hưng Nhơn được hình thành cách đây khoảng 500 năm và sự tích về hòn đá, miếu Bà Giàng cũng ra đời từ đó. Cụ Sử nói: “Từ hồi còn nhỏ tui đã thấy hòn đá này và hầu hết bà con dân làng đều xem đó là vật thiêng của làng. Xung quanh trống đá thiêng và miếu Bà Giàng còn lưu truyền nhiều sự tích”.
 
 “Hòn đá thiêng” ở đình làng Hưng Nhơn

Cụ Sử cho biết, theo thế hệ cha ông trong làng kể lại, thời xưa việc tranh chấp ruộng đất giữa các vùng giáp ranh tại địa phương diễn ra rất phổ biến. Trong quá trình khai hoang lập làng, đã từng xảy ra vụ tranh chấp mốc giới đất ruộng giữa hai làng Hưng Nhơn và An Thơ, mà mức độ căng thẳng của sự việc không thể giải quyết nội bộ nên phải trình quan huyện. Với cách giải quyết khá lạ lùng, quan chỉ vào trống đá và lệnh rằng: Viên đá kia nặng là vậy, nhưng nếu ai bưng nổi và di dời đến vị trí nào đó thì mốc giới xác định tại vị trí đó! Có bà lão là con dân làng Hưng Nhơn xin bưng trước. Mọi người thấp thỏm lo lắng không biết bà bưng nổi không nhưng rồi họ thở phào vì bà đã bưng và đi được 10 thước. Tuy nhiên, do viên đá vừa to, vừa nặng cọ xát vào lưng làm váy bà bật tung ra, hoảng quá bà thả hòn đá để chỉnh váy lại. Nơi hòn đá thả xuống trở thành mốc giới của địa phận làng Hưng Nhơn. Sau khi mất, để tưởng nhớ công ơn của bà, bà con trong làng lập miếu gọi là miếu Bà Giàng để phụng thờ tại khu đất đó và trống đá do bà bưng cũng được thờ tại đây. Hàng năm đến ngày mùng 8 tháng 5 âm lịch, dân làng tổ chức lễ cúng tươm tất tại miếu bằng lễ vật được trích từ 3 sào ruộng công, còn gọi là “ruộng miếu”.

Cũng có nhiều ý kiến cho rằng hòn đá bà bưng khi xưa, hiện nay dùng làm mốc giới giữa hai làng Mỹ Chánh và Hưng Nhơn, thường gọi là “sở mốc đá” để phân biệt vùng ruộng. Còn viên trống đá hiện nay được đặt ở đình làng là sản phẩm do bà tạo ra nhằm rèn luyện sức khỏe cho trai làng đủ khả năng chống chọi với thiên tai khắc nghiệt, dẻo dai trong lao động sản xuất ngay từ buổi đầu định cư trên vùng đất mới. Theo các cụ cao niên thì tuy có những dị bản khác nhau về sự tích hòn đá và miếu Bà Giàng nhưng nội dung hướng đến đều xoay quanh chủ đề chính là vấn đề tranh chấp ruộng đất, phân định mốc giới đất đai, đặc biệt là ruộng đất giữa các làng thuở xưa.
 
 Lễ cúng ở miếu Bà Giàng

Tục lệ bưng đá được ruộng 
Cụ Sử cho biết thêm, nhằm phát huy truyền thống và ghi nhớ công đức của bà bưng đá thuở xưa, làng quy định “tam niên đảo lệ” (3 năm chia ruộng 1 lần), dân đinh muốn vào làng “ăn ruộng” phải trải qua một đợt sát hạch, thử sức đầy cam go bằng cách vượt qua “cửa ải” bưng trống đá di chuyển được một khoảng cách nào đó. Tục lệ này có ý nghĩa chứng tỏ khả năng đối tượng được chia ruộng phải đảm bảo đủ sức khỏe để đảm đương công việc đồng áng, đồng thời chính thức thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm đối với làng xóm của một thành viên “đinh tráng”.

Theo cụ Nguyễn Đức Ấm, (83 tuổi), một cao niên khác ở Hưng Nhơn: “Lệ thành đinh ở làng Hưng Nhơn rất đặc biệt và khác so với các làng khác, bởi đối tượng tham gia ở lễ nghi này đều cảm thấy tự hào, tràn đầy hy vọng như được tiếp thêm sức mạnh khi chạm vào vật thiêng là trống đá do bà ban phát và đặc biệt qua đây họ mới chính danh trở thành một công dân thực sự. Theo tục lệ, cứ 3 năm một lần, làng sắm lễ vật, cờ trống, hội họp tại miếu Bà Giàng cầu khẩn được phù hộ, giúp đỡ con dân những lúc hoạn nạn, gian khó, bảo vệ ruộng đồng, có sức khỏe để đảm đương nghĩa vụ với làng, nước”.
 
 Miếu Bà Giàng nằm giữa cánh đồng

Các bậc cao niên cũng cho rằng, lệ thành đinh được quy định chặt chẽ như vậy nhằm hạn chế hiện tượng gian lận tuổi tác để sớm được chia ruộng, được hình thành và bổ sung ngày càng chặt chẽ qua các đời lý trưởng và có thể có những biến tấu khác nhau. Đôi khi đó chỉ là một trong những hoạt động vui chơi trong các dịp lễ hội tranh tài, nhiều lúc lại trở thành cửa ải thử sức lớp công dân mới vào “ăn ruộng” trong tình hình tranh chấp đất đai ngày càng gay gắt. Lệ được áp dụng không theo sự cứng nhắc, có trường hợp đến tuổi “ăn ruộng” mà không đủ sức bưng viên đá vẫn được chia khẩu phần nhưng chịu thiệt thòi là chấp nhận phần ruộng xấu. Ngược lại, những người vượt qua cửa ải này nhận được ruộng trước, ruộng tốt và là lực lượng dự bị trong đội tuần đinh của làng. Đối tượng đạt kết quả xuất sắc bưng đá sẽ được phần thưởng tuy nhỏ (một ít tiền) nhưng là sự động viên và niềm vinh dự lớn lao trước làng. Như vậy, xuất phát từ một thực tế xã hội mang tính chất phổ biến trên phạm vi vùng miền, lệ thành đinh trước hết nhằm giải quyết trực tiếp vấn đề tranh kiện về ruộng đất, qua thời gian, những lệ đinh được bổ sung ngày càng chặt chẽ, trở thành một lễ hội truyền thống đặc sắc của làng.

Những chuyện lạ quanh “hòn đá thiêng”
Cụ Sử, cụ Ấm cùng nhiều bậc cao niên khác và dân làng luôn tự hào về “hòn đá thiêng” và miếu Bà Giàng. Họ vẫn kể lại nhiều câu chuyện lạ xung quanh những vật thiêng của làng như một niềm tự hào. Cụ Sử kể: “Hòn đá thiêng” của làng đã nhiều lần bị kẻ gian rắp tâm chiếm lấy, nhất là hồi còn nằm ngoài miếu Bà Giàng ở càng Hưng Nhơn, cứ mỗi mùa mưa lũ ngập đồng là một số người làng khác chèo ghe đến lấy cắp đá về. Nhưng không hiểu sao chỉ một thời gian ngắn sau là hòn đá lại được trả về chỗ cũ. Nghe đâu các trường hợp lấy đá đều bị đau ốm hay gia đình xảy ra chuyện nọ chuyện kia”.

Một điều lạ nữa là trong các cuộc thi bưng đá từ huyện đến xã, hầu như cuộc thi nào người thôn Hưng Nhơn hay người xã Hải Hòa đều giật được giải nhất. Cụ Ấm cho biết, dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng huyện Hải Lăng, hội bưng đá được tổ chức với sự tham gia của các đội đến từ các xã, thị trấn trên địa bàn huyện. “Đội nào cũng có người to cao, khỏe mạnh và khéo léo nhưng khi vào hội thi, không hiểu sao các vận động viên nơi khác người thì nhấc không nổi, người thì cũng chỉ bưng được vài mét, riêng vận động viên của xã Hải Hòa là bưng đi được xa nhất và giật giải”, cụ Ấm nói. Hay như tại kỳ đại hội TDTT xã Hải Hòa năm 2013, trước lúc vào thi bưng đá, các vận động viên làng bạn vào bưng thử khởi động, có người đi được 40 - 42 m nhưng thật lạ, đến lúc thi chính thức thì 2 vận động viên của làng Hưng Nhơn lại chiến thắng ở vị trí nhất và nhì khi chỉ bưng đi được 16 m và 12 m. Cụ Sử chép miệng nói: “Điều đó thật khó giải thích. Các vận động viên làng khác đều ngạc nhiên nói hòn đá Hưng Nhơn chi lạ thiệt!”.

                                                                                                        Bài, ảnh: LÊ ĐỨC VIỆT

MỘT NGƯỜI CON GÁI THUẬN HÓA TRONG BINH NGHIỆP ĐẦU TIÊN CỦA NGUYỄN HOÀNG

Nguyễn Đắc Xuân



Rời miền Bắc, Nguyễn Hoàng giong buồm tiến thẳng vào Nam. Cập bến cảng Yên Việt (Cửa Việt), bản bộ tướng quân lên bờ dựng doanh trại trên cồn cát thuộc xã Ai Tử huyện Vũ Xương (Triệu Phong). Quân trinh sát của Nguyễn đi khắp vùng Thuận Hóa nghiên cứu địa hình, địa vật…

Kết quả nghiên cứu được trình lên, Nguyễn Hoàng rất thích thú với địa thế xã Phú Xuân thuộc huyện Hương Trà "núi sông vàng tụ, cảnh đẹp dân giàu". Được địa lợi, Đoan Quốc Công liền bàn đến việc "thi hành đức chính để vỗ về dân chúng" nhằm xây dựng cơ nghiệp lâu dài.

Lúc đó, tướng nhà Mạc là Quận Lập đang đóng dinh cơ tại Khang Lộc (Lệ Ninh) nghe tin Đoan Quốc Công thừa lệnh Trịnh Kiểm vào trấn đất Thuận Hóa lấy làm tức giận.

Để trừ hậu họa, Quận Lập tức tốc tổ chức hai cánh quân vào đánh Đoan Quốc Công. Cánh thứ nhất gồm 30 chiếc thuyền đến ngay Cửa Việt thị uy; cánh thứ hai gồm một ngàn bộ binh đi qua đường Hồ Xá – Lãng Uyển (?) đến đóng ở miếu Thang Tương (?) dự định sẽ đánh úp cướp doanh trại của chúa Tiên (tức Nguyễn Hoàng Đoan Quốc Công).

Trước thế lực của Quận Lập (nhà Mạc), chúa Tiên rất lo lắng: Vì quân Nguyễn vỏn vẹn chỉ có mười chiếc thuyền, bộ binh không có làm sao có thể đương đầu với quân nhà Mạc?

Một đêm, bên ngọn đuốc, chúa Tiên đang thao thức, tư lự… bỗng nghe bên bờ sông tiếng sóng nước kêu "trảo trảo" Chúa lấy làm lạ! Sáng hôm sau, thấy một vùng nước xô sóng cuộn khác thường. Chúa ngước mắt nhìn trời khấn thầm:

- Trên sông nếu có thần linh xin phù hộ cho, đánh tan quân giặc, sẽ lập miếu phụng thờ bốn mùa tế lễ!

Đêm hôm ấy Chúa nằm mơ thấy một người đàn bà mặc áo xanh, tay cầm chiếc quạt thẻ đến thưa rằng:

- Tướng quân muốn diệt trừ ngụy đảng cần lập kế dụ chúng đến bãi cát ven sông, thiếp sẽ giúp sức trừ được, khỏi phải phiền nhiễu đến dân trong miền.

Nói xong người trong mộng buông tay áo ra đi… Chúa tỉnh dậy, trong lòng thầm vui. Chúa nghĩ: "Chiêm bao thấy người đàn bà bảo ta phải lập kế dụ địch, như vậy ắt phải dùng kế mỹ nhân".

Lúc bấy giờ Chúa mới có một nàng hầu đẹp, quê ở xã Thế Lại (Huế) tên là Ngô Thị Lâm. Tuy là phận gái nhưng bà gan dạ, có mưu trí, ứng đối trôi chảy, nhan sắc thì "Nguyệt mờ hoa thẹn, dáng điệu cá lặn chim sa" so với nàng Tây Thi ở Hàm Đan (Trung Quốc) chẳng kém bao nhiêu! Chúa cả mừng, gọi nàng Lâm đến giao nhiệm vụ: đem vàng bạc, kỳ nam đến trại quân nhà Mac, tiến dâng các vật báu, xin mở đường hòa hiếu. Nếu cần nàng phải ưng chịu cho Quận Lập tư thông, mục đích là làm sao dụ được Lập đến đất Trảo Trảo để có kế diệt trừ. Thật là chuyện lạ đời, ngoài sức tưởng tượng của một người con gái, nàng Lâm sụp lạy kêu khóc:

- Tiện thiếp từ khi được theo hầu Chúa thượng, dốc lòng theo nữ đạo, giữ gìn tiết giá phu nhân. Nếu Chúa muốn thiếp nhảy vào chỗ nước sôi lửa bỏng muốn chết thiếp không dám chối từ. Nhưng nếu bảo thiếp để cho Quận Lập tư thông thì thiếp không thể nào hiểu được. Thần thiếp xin nhận tội chết chứ không thể nào làm theo lời Chúa thượng.

Chúa vừa đau xót vừa kính phục người tiết phụ tìm lời an ủi và thuyết phục nàng.

- Lời của nàng thật đúng với phẩm hạnh lớn của đàn bà. Ta hiểu rõ lòng nàng. Nhưng nay vì sự nghiệp "quốc gia đại sự" nếu nàng không xả thân thì không có ai ở đây có thể phá được giặc. Nàng hãy cứ nghe lời ta, đừng chối từ.

Nàng Lâm đành lau nước mắt và làm theo lệnh Chúa.

Mang lễ vật đến doanh trại Quận Lập, nàng Lâm cung kính thưa:

- Thân vâng mệnh quan Quận Đoan, nghe tin minh công oai trời sắp đến, lo sợ khôn xiết, đặc cách sai tiện thiếp đem ít đồ vật xưa đến lễ mừng để bày tỏ thành tâm. Xin minh công cho lập lễ thề: Minh công làm huynh trưởng, bản quan của thiếp làm nghĩa đệ, cùng đồng lòng chung sức may mới tránh khỏi hiềm thù đánh giết lẫn nhau gây đau thương cho trăm họ.

Quận Lập liếc mắt ranh mãnh, cất giọng cả mắng:

- Ngươi muốn làm sứ giả đàn bà đến thuyết khách để câu ta đó chăng?

Thị Lâm giả vờ run sợ, sụp đầu van lạy nhưng vẫn liếc mắt chuyển làn thu ba đưa tình… Quận Lập vốn là một tên tham của, mê gái, thấy nàng Lâm xinh đẹp, quyến rũ, ăn nói ngọt ngào, lửa dục trong y bốc lên. Quận Lập liền đổi thái độ, sai người ra nhận lễ vật rồi đứng dậy bước đến cầm tay nàng Lâm dắt vào phòng riêng… Nàng Lâm đã dùng kế "cành dương ngả theo bóng dương" khiến cho Quận Lập đắm say mê muội… Nàng Lâm nhắc lại việc lập đàn thề. Quận Lập chiều ý, liền nghe theo.

Với sự cảnh giác, Quận Lập cho trinh sát đi thám thính biết Quận Đoan quân ít, không có gì đáng phải sợ, bèn cùng với nàng Lâm định ngày làm lễ thề kết nghĩa.

Được tin Quận Lập đã bằng lòng, Đoan quận công mừng rữ khôn xiết, sai người bí mật đến vùng Trảo Trảo dựng một gian miếu tranh, đào hố ngầm bốn phía, chọn một số dũng sĩ cầm khí giới ẩn mình trong hố dùng cỏ lác và cát lấp bên trên như đất liền. Để một ít người già yếu cầm chổi, xách sọt đứng ở cửa miếu… đợi lệnh.

Hạ tuần tháng mười năm ấy, nàng Lâm đưa Quận Lập đến miếu tranh làm lễ thề… Thấy quân binh Quận Đoan không bao nhiêu lại có vẻ già yếu, Quận Lập chủ quan không đề phòng.

Bắt chước Quan Vân Trường ngày xưa, Quận Lập dùng một chiếc đò nhỏ cùng với 30 lính thân hành đến chỗ hội thề.

Khi thuyền Quận Lập ghé vào cồn cát Trảo Trảo, ngay trước cửa miếu, Quận Lập cầm bảo đao bước lên bộ đi thẳng vào miếu. Nàng Lâm theo sau, thảnh thót gọi:

- Xin minh công bước chậm lại kẻo bản quan của thiếp lo sợ…

Quận Lập cất tiếng cười vang và đi chậm rãi. Từ xa Đoan Quốc Công áo mão chỉnh tề chắp tay kính cẩn đón chờ… Thình lình Đoan Quốc Công quát lớn:

- Quân bay mau dậy đón tiếp tôn huynh!

Quân mai phục dọc theo các hố cát vùng dậy xông vào vây bắt. Quận Lập cả kinh, hồn xiêu phách lạc co giò tháo chạy… Ra đến bờ sông thì thuyền vừa rời bến, Quận Lập dốc hết sức bình sinh nhảy ào lên mạn thuyền, nhưng… vị tướng hiếu sắc rơi tõm xuống nước. Ngay lúc ấy bộ tướng của Đoan Quốc Công là Thự Trung và Thự thiết ào tới, thấy Quận Lập đang lóp ngóp dưới sông bèn dương cung bắn chết. Quan hầu của Quận Lập hoảng loạn mạnh ai nấy chạy tìm đường thoát thân.

Thắng trận, về bản doanh, Đoan quận công mở tiệc khao thưởng tướng sĩ, sai người tôn tạo miếu Trảo Trảo và sắc phong cho vị thần linh ấy là "Linh thu phố trạch tướng hựu phu nhân" bốn mùa cúng tế.

Riêng nàng Lâm, Chúa gọi đến bảo rằng:

- Trừ được Quận Lập và phe đảng là nhờ công lao to lớn của nàng. Ta muốn chọn người tài trí gả chồng cho nàng để tại thành địa vị công khanh thoát kiếp cô đơn của kẻ nô tỳ và cũng là để làm hiển trạng công lớn.

Nàng Lâm khóc lóc, than rằng:

- Ý nguyện bình sinh của thần thiếp là được cầm khăn lược theo hầu Chúa thượng giữa trọn tiết trinh. Chỉ vì việc nước mà xác thân ô uế, khó mà rửa được. Vậy từ nay thần thiếp xin giữ việc bếp núc, quét tước đền ơn thánh chúa vẹn đạo làm tôi. Còn việc Chúa thượng muốn cải giá cho thần, thì đến cùng, thần sẽ chẳng dám phụng mệnh. Xin Chúa thượng lượng thứ cho.

Chúa cười đáp:

- Đây là việc nước, không phải lỗi hay tội tình riêng của nàng. Đền công đáp nghĩa là do ý muốn tự bản thân ta và nàng nên nghe theo để làm sáng tỏ thân danh với đời sau.

Chúa ân cần khuyên giải, vỗ về nhiều bận, nàng mới vâng chịu. Bấy giờ có Ngô Côn, người gốc Nghệ An, làm phó Doãn sự ở vệ Thiện Vũ đang theo giúp việc tại phủ chúa. Ngô Côn tướng mạo khôi ngô, văn võ kiêm toàn, thông kim bác cổ… rất được Chúa yêu mến nên được Chúa chọn cho kết duyên với nàng Lâm xinh đẹp. Tân nhân và Tân lang bái vọng tạ ơn rồi làm lễ giao bôi và động phòng hoa chúc…


(Theo Nam Triều Công nghiệp diễn chí)