|
Cựu quân nhân Lữ Công Bảy kể về con tàu HQ-4 mà ông từng là một thành viên và từng tham gia Hải chiến Hoàng Sa 1974 - Ảnh: Lê Thanh Hải |
Ngày 1: Tức tốc lên đường
Khi tôi ghi lại những dòng hồi ký này thì sự việc đã xảy ra cách đây
35 năm (19.1.1974 - 19.1.2009). Đã 35 năm trôi qua, những gì mà tận mắt
tôi chứng kiến, những gì mà tôi đã trực tiếp tham gia trong trận hải
chiến với Hải quân Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa ngày 19.1.1974 vẫn
không phai mờ trong tâm trí tôi.
Lúc bấy giờ, tôi là thượng sĩ giám lộ (giám sát lộ trình hàng hải)
trên khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4 (chiến hạm tối tân nhất của Hải
quân Sài Gòn thời bấy giờ) với chức danh hạ sĩ quan phụ tá trưởng ngành
Giám lộ, kiêm hạ sĩ quan phụ tá trưởng khối Hành quân. Với chức danh đó,
trong sở tác chiến cũng như trong nhiệm sở hành quân, lúc nào tôi cũng
phải có mặt thường xuyên trên đài chỉ huy, bên Hạm trưởng Vũ Hữu San
(Hải quân trung tá) và Hải quân đại úy Diên - Trưởng khối Hành quân, Hải
quân trung úy Roa - Trưởng ngành Hàng hải cùng một số đồng nghiệp giám
lộ như thượng sĩ 1 Giám lộ Ry, trung sĩ 1 Giám lộ Khiết. Nhiệm vụ của
anh em chúng tôi là ghi lại nhật ký tác chiến, nhật ký hàng hải, xác
định vị trí của chiến hạm, đồng thời nhận và chuyển những quang hiệu
bằng đèn và tín hiệu bằng cờ.
Trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã ngang nhiên tuyên bố Hoàng Sa và
Trường Sa là lãnh thổ của Trung Quốc. Gần đây, Quốc vụ viện Trung Quốc
đã ngang ngược thông qua cái gọi là chuẩn bị thành lập thành phố Tam Sa
nhằm trực tiếp quản lý các quần đảo trên biển Đông, trong đó có quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Hôm nay, tôi ghi lại hồi ký này để tưởng niệm các chiến sĩ hải quân
đã anh dũng hy sinh vì nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ phần đất mà tổ
tiên ta đã khai phá và giữ gìn dù không thể bảo vệ được toàn vẹn lãnh
thổ vì đó là một trận đánh không cân sức.
**
“Hôm ấy, gió mùa Đông Bắc thổi mạnh trên biển Đông, biển động mạnh.
Chiến hạm đang tuần tiễu vùng biển Quảng Ngãi, từ Sa Huỳnh đến cù lao Ré
(đảo Lý Sơn), đã là ngày thứ 14 lênh đênh trên biển, chỉ còn một ngày
nữa là chiến hạm sẽ được về Đà Nẵng nghỉ bến.
Anh em thủy thủ đoàn rộn ràng nghĩ đến ngày được vào đất liền gặp lại
bạn bè và người thân đang trông chờ ngóng đợi. Chưa kịp dùng cơm trưa
thì từ Trung tâm truyền tin đưa lên Đài Chỉ huy một công điện thượng
khẩn lệnh cho tàu về ngay Đà Nẵng.
Khoảng 17 giờ tàu về đến Quân cảng Đà Nẵng (cảng Tiên Sa). Vừa cập
cầu tàu thì được lệnh tháo dây ra ngoài neo. Hạm trưởng San được lệnh
lên họp khẩn cấp ở Trung tâm hành quân Bộ Tư lệnh Hải quân vùng I Duyên
Hải (BTL/HQ/V1DH).
Từ Bộ chỉ huy Vùng I Duyên hải, Hạm trưởng điện về tàu lệnh cho Hạm
phó (Hải quân thiếu tá Nguyễn Thành Sắc) cho ban ẩm thực lên bờ đi chợ
(tiếp tế lương thực, thực phẩm). Lúc 20 giờ, Hạm trưởng về đưa tàu vào
cập cảng Tiên Sa. Lệnh cấm trại 100% được ban ra, không ai được rời tàu.
Ban cơ khí chuẩn bị bắt ống để nhận dầu và ngước ngọt. Đến 21 giờ,
hai xe GMC chở một trung đội với đầy đủ vũ khí đạn dược. Lần đầu tiên
trước mắt tôi được chứng kiến một toán quân lạ lùng, họ không mặc quân
phục của quân đội Sài Gòn mà là quân phục của bộ đội miền Bắc, đủ kiểu
áo: áo đen và áo màu ô liu, súng AK-47, B-40, B-41, giày bố, dép râu,
nón tai bèo, nón cối…
Sau một hồi dọ hỏi, tôi mới biết đây là lực lượng Biệt hải (lực lượng
đặc biệt tinh nhuệ, chuyên xâm nhập lên bờ biển phía Bắc vĩ tuyến 17,
hoạt động trong chiến tranh). Tôi được lệnh từ Đại úy Diên chuẩn bị hải
đồ đi Hoàng Sa trình cho Hạm trưởng.
Lúc 23 giờ, tàu rời cảng Tiên Sa, trực chỉ Hoàng Sa. Tôi có cảm giác có một cái gì lớn lao sắp xảy ra.
Ngày N+1: Chạm trán ở Hoàng Sa
Lúc 11 giờ 30 ngày 17.1.1974, khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) đã có mặt tại quần đảo Hoàng Sa. Trước đó, ngày 16.1.1974, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16) do Hải quân trung tá Lê Văn Thự làm hạm trưởng đã có mặt tại quần đảo Hoàng Sa. HQ-4 tiến gần đảo Quang Ảnh (Money Island), còi tác chiến vang lên. Tất cả thủy thủ đoàn đã sẵn sàng ở vị trí chiến đấu.
Tàu HQ-4 mà ông Lữ Công Bảy từng làm hạ sĩ quan giám lộ
- Ảnh: Tư liệu
Lúc 14 giờ, trung đội Biệt hải đã đổ bộ lên rìa đảo an toàn và lệnh tiến
sâu vào đảo lục soát. Báo cáo từ toán quân gửi về không phát hiện được
gì ngoài vài nấm mộ hình như mới đắp. Đầu mộ không có bia đá, chỉ có cọc
gỗ và bảng gỗ có bằng chữ Tàu ghi ngày sinh và ngày chết từ rất lâu,
hàng mấy chục năm trước.
Các chiến sĩ Biệt hải được lệnh đào bới các nấm mộ lên thì bất ngờ vì
dưới mộ chẳng thấy xương cốt gì cả. Giả thiết cho rằng đây là mộ ngụy
tạo mà ai đó đã cố ý dựng lên để chứng tỏ người Trung Quốc đã từng sống
trên đảo này.
Lúc 16 giờ 30 phút, trung đội Biệt hải được lệnh rút về tàu. Đến xế
chiều, từ phòng tác chiến báo cáo lên Đài chỉ huy, qua hệ thống ra đa
tầm xa đã phát hiện hai mục tiêu trên biển đang di chuyển đến quần đảo
Hoàng Sa. Từ nóc đài chỉ huy, các bộ phận quan sát bằng ống nhòm đã nhìn
thấy hai tàu chiến lạ. Trung tâm tác chiến được lệnh theo dõi và báo
cáo thường xuyên mọi hoạt động, hướng đi và khoảng cách của hai tàu
trên.
Đêm 17 rạng ngày 18.1 là một đêm cực kỳ căng thẳng. Còi nhiệm sở tác chiến báo động suốt đêm. Tàu chiến và tàu đánh cá Trung Quốc cố tình khiêu khích tiến sâu vào lãnh hải Hoàng Sa. HQ-4 và HQ-16 dùng tín hiệu cảnh báo, tàu chiến Trung Quốc dùng tín hiệu đèn đáp trả nội dung bằng tiếng Anh được dịch như sau:
HQ-4: Đây là lãnh hải của Việt Nam Cộng Hòa yêu cầu các anh hãy rời khỏi đây ngay!
Trung Quốc: Từ ngàn xưa mọi người đều biết đây là lãnh hải của Cộng hòa Nhân dân Trung hoa, yêu cầu các anh hãy rời khỏi đây!
HQ-4: Từ 1802, vua Gia Long đã xác nhận chủ quyền quần đảo là của Việt Nam, yêu cầu các anh phải rời khỏi đây ngay!
Phía Trung Quốc vẫn đáp trả như câu trước. Trước thái độ ngoan cố và khiêu khích, anh em ngành giám lộ chúng tôi phải căng mắt suốt đêm nhận tín hiệu và đáp trả với tàu chiến Trung Quốc vì đó là nhiệm vụ của ngành chúng tôi. Cuối cùng tàu chiến và tàu đánh cá Trung Quốc cũng rút lui.
Đêm 17 rạng ngày 18.1 là một đêm cực kỳ căng thẳng. Còi nhiệm sở tác chiến báo động suốt đêm. Tàu chiến và tàu đánh cá Trung Quốc cố tình khiêu khích tiến sâu vào lãnh hải Hoàng Sa. HQ-4 và HQ-16 dùng tín hiệu cảnh báo, tàu chiến Trung Quốc dùng tín hiệu đèn đáp trả nội dung bằng tiếng Anh được dịch như sau:
HQ-4: Đây là lãnh hải của Việt Nam Cộng Hòa yêu cầu các anh hãy rời khỏi đây ngay!
Trung Quốc: Từ ngàn xưa mọi người đều biết đây là lãnh hải của Cộng hòa Nhân dân Trung hoa, yêu cầu các anh hãy rời khỏi đây!
HQ-4: Từ 1802, vua Gia Long đã xác nhận chủ quyền quần đảo là của Việt Nam, yêu cầu các anh phải rời khỏi đây ngay!
Phía Trung Quốc vẫn đáp trả như câu trước. Trước thái độ ngoan cố và khiêu khích, anh em ngành giám lộ chúng tôi phải căng mắt suốt đêm nhận tín hiệu và đáp trả với tàu chiến Trung Quốc vì đó là nhiệm vụ của ngành chúng tôi. Cuối cùng tàu chiến và tàu đánh cá Trung Quốc cũng rút lui.
Ngày N+2: Chuẩn bị nổ súng
Sáng 18.1, HQ-4 tiến về đảo Robert (Hữu Nhật). Lúc 8 giờ, Trung đội
Biệt hải được lệnh đổ bộ lên đảo. Sau khi đổ bộ và lục soát chỉ phát
hiện được những nấm mộ mới đắp không hài cốt như ở đảo Quang Ảnh.
Trong một hành động có tính khiêu khích, tàu cá vũ trang của Trung Quốc chắn ngang mũi tàu chiến của Việt Nam Cộng Hòa - Ảnh: Tư liệu
HQ-4 và HQ-16 được lệnh tiến về đảo Hoàng Sa. Khi tiến đến gần 2 tàu đánh cá vũ trang của Trung Quốc, HQ-4 dùng tín hiệu cảnh báo và đuổi đi nhưng cả hai tàu đánh cá cố tình khiêu khích đi sâu vào bãi san hô. Từ đài chỉ huy, bộ phận quan sát phát hiện san hô lấp lánh dưới đáy tàu và từ trung tâm tác chiến báo liên tục báo cáo độ sâu đáy tàu.
HQ-4 tiến đến gần, một tàu đánh cá Trung Quốc có ký hiệu 407, trên tàu có khoảng 30 thuyền viên mặc đồng phục màu xanh dương đậm, tàu được trang bị 2 thượng liên (một đằng trước mũi và một đằng xa lái tàu) ngoài ra còn có rất nhiều AK-47. HQ-4 áp sát mạn tàu đánh cá, xua đuổi. Hai bên đánh nhau bằng võ mồm.
Thấy không tác dụng, HQ-4 dùng mũi tàu ủi thẳng vào phòng lái tàu đánh cá. Mũi HQ-4 và neo mũi vướng vào cửa và hành lang phòng lái làm gãy hành lang và cong cửa phòng lái. Trước thái độ cương quyết của ta, địch vội vàng tháo lui. HQ-16 cũng quyết liệt săn đuổi tàu đánh cá còn lại.
Lúc 11 giờ 30 ngày 18.1, tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) do Hải quân trung tá Phạm Trọng Quỳnh làm hạm trưởng. Cùng ra theo tàu có Hải quân đại tá Hà Văn Ngạc, chỉ huy truởng Hải đội 1 Tuần dương và hộ tống ra thay mặt Tư lênh Hạm đội chỉ huy lực lượng bảo vệ Hoàng Sa. Cùng ra theo tàu có một trung đội người nhái (lực lượng đặc biệt của Hải quân).
Chiều 18.1, lúc 15 giờ 30, theo lệnh đại tá Ngạc, 3 chiến hạm sắp đội hình hàng dọc tiến thẳng về đảo Drummond (Duy Mộng).
Lúc 16 giờ, hai tàu Trung Quốc mang ký hiệu 271 và 274 cố tình khiêu khích cắt đường ngang mũi HQ-4 và HQ-16. Đội hình bị chia cắt không thể tiến lên được, vị trí các tàu rất gần nhau, các khẩu đại bác sẵn sàng nhả đạn nhưng không ai được lệnh nổ súng. Không tiến lên được, tàu được lệnh quay về nhóm đảo Hoàng Sa.
Chiều 18.1, lúc 17 giờ 30, tiểu đội thủy thủ tàu HQ-4 và tiểu đội thủy thủ tàu HQ-16 được thành lập. Tiểu đội HQ-4 do trung úy Dũng chỉ huy được lệnh đổ bộ lên đảo Quang Ảnh, được trang bị một khẩu đại liên 30, 10 AR-15, một máy bộ đàm PRC-25, trong đó có trung sĩ giám lộ Lâm cầm la bàn và hải đồ cùng bản đồ UTM. Trung đội Biệt hải được lệnh rút về HQ-4.
Đêm 18.1 rạng ngày 19.1, vẫn tình trạng tàu chiến Trung Quốc và tàu đánh cá vũ trang khiêu khích tiến đến gần đảo Hoàng Sa tiếp tục xảy ra. Tín hiệu bằng đèn vẫn tiếp tục chuyển và nhận. Những tín hiệu vẫn lặp lại như đêm hôm trước, tình hình căng thẳng và kéo dài. HQ-4 phải dùng còi hơi thật to và đèn hồ quang trên nóc đài chỉ huy rọi thẳng vào đội hình tàu Trung Quốc. Khi tàu Trung Quốc rút lui về hướng bắc thì tình hình mới dịu đi.
Đêm Hoàng Sa, bầu trời không ánh trăng sao, trời tối đen như mực (nhằm 26 tháng chạp Quý Sửu). Tất cả 3 tàu đều được lệnh trong thư thế ZEBRA (không để lọt ánh sáng ra ngoài). Nửa đêm, hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10 do Hải quân thiếu tá Ngụy Văn Thà làm hạm trưởng ra đến đảo, tăng cường cho lực lượng bảo vệ Hoàng Sa.
Ngoài ra, trong một công điện hỏa tốc chuyển về Đề đốc tư lệnh Trần Văn Chơn, một lực lượng hùng hậu của Hải quân Việt Nam đang trên đường trực chỉ Hoàng Sa. Lúc 2 giờ sáng 19.1, HQ-4 và HQ-5 được lệnh quay về Đà Nẵng để đánh lạc hướng theo dõi của ra-đa tàu địch.
Cách Hoàng Sa 25 hải lý, hai tàu ngoặt về phía nam, vòng ra ngoài và hướng về phía đông nam đảo Duncan (Quang Hòa). Khoảng 5 giờ sáng, HQ-16 và HQ-10 được lệnh hướng về đảo Quang Hòa từ mặt tây bắc để thu hút tàu địch.
Ngày N+3: Những giây phút chưa từng có
Khoảng 3 giờ sáng 19.1, khi khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) và tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) được lệnh hành quân tiến về đảo Quang Hòa (Duncan), như đã tiên đoán việc xảy ra rất quan trọng nên Hạm trưởng San ra lệnh cho tôi kéo lên đỉnh cột cờ lá chiến kỳ (còn gọi là phương kỳ), lá chiến kỳ số 1 ngang 20 cm và dài 15 m; đồng thời ông cũng ra lệnh cho các vị trí chiến đấu sẵn sàng cho trận hải chiến chủ yếu như sau:
- Giày không được cột dây.
- Ống quần túm vào vớ.
- Mặc áo phao loại trùm vào cổ có bình nén khí + đèn pin để khi nhảy xuống biển thì giựt dây bình nén, khí sẽ tự bơm phao phồng lên, nâng đầu và ngực nổi lên mặt nước, đèn pin tự động sáng.
- Tất cả đều phải mặc áo giáp chống đạn.
Hạm phó Nguyễn Thành Sắc và thượng sĩ nhất Trần Dục (cựu Quản đội trưởng) và thượng sĩ nhất giám lộ Ry (Quản đội trưởng) được lệnh đi kiểm tra từng vị trí chiến đấu. Mờ sáng 5 giờ, tôi và trung sĩ nhất giám lộ Khiết đứng sau đài chỉ huy nơi sân cờ, nhìn lên đỉnh cột cờ ngoài lá quốc kỳ kèm theo lá chiến kỳ bay phập phồng trong gió sớm, phía sau là tuần dương hạm HQ-5 đang rẽ sóng, cả hai tàu đã chạy hết tốc lực để đến điểm đổ bộ theo lệnh hành quân.
Lúc 6 giờ sáng, HQ-4 đã tiến sát đảo Quang Hòa, khi gần đến đảo, bằng ống nhòm và mắt thường từ đài chỉ huy đã phát hiện doanh trại và cột cờ có cờ Trung Quốc. Trước đây hơn một tháng, HQ-4 trong một chuyến khảo sát quần đảo Hoàng Sa, đội khảo sát do đại úy Diên và trung sĩ nhất giám lộ Khiết đã lên đảo nhưng không phát hiện gì ngoài chai lọ trôi tấp lên bờ cát. Trên đài chỉ huy, Hạm trưởng San đến bàn hải đồ chấm tọa độ để đổ bộ và lệnh cho chúng tôi xác định vị trí chính xác nhất báo cáo cho Hạm trưởng.
Trung úy Roa xác định bằng ra đa, tôi và trung sĩ nhất giám lộ Khiết xác định chấm tọa độ bằng các đối vật trên biển, khi đến điểm đổ quân, chúng tôi báo cáo ngay cho Hạm trưởng. Ông ra lệnh ngưng máy và lùi máy hết tốc độ để giảm đà tiến của tàu, đồng thời ông khẩn cấp ra lệnh cho lực lượng Biệt hải rời tàu xuống 3 xuồng cao su có gắn máy 40 mã lực.
Khoảng 10 phút sau, lực lượng Biệt hải đã đổ lên đảo (mặt đông nam) rất nhanh, bên trong đảo rất im lìm, trên tàu mọi cặp mắt, mọi ống nhòm đều nhìn trên đảo, bất cứ chuyển động nào trên đảo đều được báo cáo cho Hạm trưởng. Cờ được cắm lên bờ cát và hốc đá, lực lượng tiếp tục tiến vào bên trong đảo.
Giữa lúc đó, lực lượng người nhái vẫn còn ngoài xa, chưa vào được vì HQ-5 không vào sát bờ. Ở rìa tây nam đảo, gió mùa đông bắc thổi khá mạnh, các xuồng cao su bị sóng gió giạt không vào bờ được. HQ-5 phải thả xuồng cứu hộ xuống để kéo các xuồng cao su vào bờ, lúc đó đã gần 8 giờ.
Từ đài chỉ huy, bộ phận quan sát đã phát hiện một lực lượng gồm 4 tàu địch (chủ yếu là tàu đánh cá và tàu công trình) tiến nhanh và đã đổ bộ một đội quân đông đảo lên phía bắc đảo. Hàng trăm quân đổ bộ vào đảo rất nhanh vì xuôi gió, những báo cáo bất lợi dồn dập gởi về đài chỉ huy HQ-4. Lực lượng Biệt hải khẩn trương báo cáo đang đối mặt với lực lượng địch. Cả hai phía dùng tay xua đuổi nhau, một số đông đối phương đang núp sau các tảng đá, chĩa mũi súng vào đội hình Biệt hải.
Trên mặt biển đã thấy HQ-16 và HQ-10 đang tiến về rìa tây nam đảo, theo sau là hai tàu chiến Trung Quốc đang tiến vào đội hình ta. Phía bắc, tàu đánh cá ngụy trang đang tiếp tục đổ người lên đảo. Tình hình hết sức căng thẳng khi từ đông bắc đảo Quang Hòa, hai tàu địch rẽ sóng tiến thẳng về phía khu trục hạm Trần Khánh Dư. Lúc bấy giờ lực lượng người nhái đã vào được rìa tây nam đảo, nhưng từ đó muốn vào bên trong đảo phải lội qua đầm nước cạn hoặc phải đi vòng qua hướng đông nam nơi lực lượng Biệt hải đã đổ lên.
Từ đài chỉ huy HQ-4, tôi thấy lực lượng người nhái phải lội qua đầm nước; có nơi nước đến tận thắt lưng nên lực lượng người nhái tiến vào rất chậm chạp mà phía bắc đảo địch đã đổ quân lên đông như kiến. Lúc bấy giờ, thời tiết cuối năm rất lạnh, chúng tôi bị bí tiểu mà không dám rời vị trí chiến đấu. Đến khi chịu hết xiết thì mới chạy xuống phòng vệ sinh; mà đi cũng rất khó khăn vì trên người lỉnh kỉnh nào áo phao, áo lạnh, áo giáp, nón sắt, giày không cột dây. Đi ngang qua các phòng trông rất vắng lặng, mọi người phải giải quyết thật nhanh rồi ba chân bốn cẳng chạy lên đài chỉ huy.
Tình hình trên đảo lúc bấy giờ đang rất căng thẳng, lực lượng Biệt hải đang đối mặt với địch, chỉ huy Biệt hải xin lệnh nổ súng. Hạm trưởng San (chỉ huy trưởng phân đội 1 gồm HQ-4 và HQ-5) hỏi lực lượng Biệt hải nếu nổ súng thì sao? Lực lượng Biệt hải báo cáo: “Nếu nổ súng thì cả trung đội Biệt hải sẽ bị tiêu diệt vì lực lượng ta quá ít mà địch thì rất đông lại núp sau các công sự phòng thủ và các phiến đá; còn ta thì đang ở ngoài trời, sử dụng súng cá nhân không giải quyết được chiến trường, chỉ có thể sử dụng lựu đạn để công phá các ổ kháng cự. Sau một hồi cân nhắc, Hạm trưởng San quyết định rút toàn bộ lực lượng Biệt hải và lực lượng người nhái về tàu.
Khi Biệt hải đã về HQ-4 an toàn thì lực lượng người nhái vẫn còn lội bì bõm trong đầm nước cạn. Đến 8 giờ 30 sáng, một loạt đạn thượng liên và cối 82 bắn vào đội hình người nhái, một sĩ quan tử thương và ba bị thương. Tình hình hết sức căng thẳng. Ban chỉ huy mặt trận không thể ra lệnh nổ súng vì lực lượng người nhái đang ở vị trí cực kỳ nguy hiểm.
Chúng tôi chứng kiến đội hình người nhái thấy hết sức đau lòng. Lệnh rút nhanh ra rìa đảo nhưng họ không thể bỏ lại các đồng đội, một số chiến sĩ quay lại tìm xác đồng đội kéo lên và dìu ra rìa đảo.
Đến 9 giờ 15, lực lượng người nhái mới ra được HQ-4 (vì HQ-4 đang ở rất gần đảo) và một số về được HQ-5.
Giờ đây, sát bên HQ-4 là hai tàu chiến Trung Quốc mang số hiệu 274 và 271 sơn màu xám đen trang bị đại bác 85 ly và nhiều súng 37 ly. Các khẩu súng đang chĩa thẳng vào HQ-4. Các tín hiệu bằng đèn hiệu được liên tục chuyển đến HQ-4. Chúng tôi được lệnh từ Hạm trưởng San nhận những tín hiệu từ tàu Trung Quốc.
Sau khi nhận xong bằng tiếng Anh, chúng tôi trình cho Hạm trưởng San, Hạm trưởng San đưa sang trung úy Minh dịch. Trung úy Minh rất giỏi Anh ngữ, vừa thực tập trên Hạm đội 7 về, xuống tàu với chức danh trưởng ngành hải pháo. Trung úy Minh xem xong trình với Hạm trưởng San, nói là địch khiêu khích ta bằng câu: "Chúng ta hãy làm những gì mà người quân nhân chúng ta phải làm". Hạm trưởng San nghe xong ông tức tối, đỏ mặt quát tháo ầm ĩ và đưa nắm đấm sang hướng tàu địch tỏ vẻ căm giận. Ông ra lệnh cho chúng tôi không nhận tín hiệu nữa và thốt lên: "Bọn bố láo".
Hai tàu của địch lúc nào cũng bám sát khu trục hạm Trần Khánh Dư vì đó là mục tiêu tiêu diệt hàng đầu của địch. Về mặt lý thuyết, HQ-4 là chiến hạm rất tối tân, ngoài vũ khí thông thường chiến hạm còn được trang bị:
- Một giàn ra đa không thám có khả năng phát hiện phi cơ địch từ khoảng cách 100 km.
- Hai giàn torpedo (phóng ngư lôi) chống tàu mặt nước.
- Một hệ thống sonar dò tàu ngầm.
- Một giàn depth charge sau lái thả những thùng thuốc nổ để tiêu diệt tàu ngầm.
- Hai dàn hedgehog (phóng thủy lựu đạn) chống tàu ngầm.
Tuy nhiên, thực tế thì các hệ thống này đều không có đạn. Tàu có ưu điểm chạy rất nhanh (vận tốc có thể lên đến 42 km/giờ). Các khẩu đại bác 76 ly 2 đều bắn bằng hệ thống viễn khiển, một xạ thủ chỉ cần nhìn vào màn hình chỉnh mục tiêu và bóp cò. Hệ thống tiếp đạn dây chuyền bằng điện rất nhanh và liên tục. Các khẩu BKP (bích kích pháo 81 ly bắn trực xạ); các đại bác 20 ly đạn dây để chống phi cơ.
Trong thời gian này, những thông tin liên lạc giữa Hoàng Sa và Đà Nẵng dù rất gần (170 hải lý) nhưng không thể thực hiện được. Tần số liên lạc bị phá rối, trên hệ thống máy bộ đàm chỉ nghe toàn tiếng Hoa. Trong khi đó, Tư lệnh Hải quân đang ở Đà Nẵng, tất cả lệnh từ Đà Nẵng đều phải chuyển vào Sài Gòn, từ Sài Gòn mới chuyển ra Hoàng Sa.
Tư lệnh Hải quân Vùng I Duyên hải - Phó đề đốc Hải quân Hồ Văn Kỳ Thoại - quyết định giao quyền cho Đại tá Ngạc. Khoảng 9 giờ 50, tàu địch 271 tiến đến rất gần HQ-4. Thình lình một loạt đạn đại liên trên nóc đài chỉ huy nổ vang. Toàn bộ đài chỉ huy không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Hạm trưởng San từ đài chỉ huy chạy ra hành lang bên trái hét to: "Im ngay, ngưng ngay, bọn chúng nổ súng thì chết hết!".
Có lẽ địch nghĩ loạt đạn này chỉ nhằm cảnh báo không cho tàu đến gần (vì không có tiếng đại bác nên tàu địch vọt ra xa mà không bắn trả). Sau đó Đại tá Ngạc ra lệnh chuyển bốn tàu theo đội hình hàng dọc (Formation-one) theo tín hiệu cờ của khối Minh ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) để giữ bí mật. Đến khi tín hiệu cờ chuyển sang đội hình hàng ngang (Formation-two) thì tất cả các khẩu đại bác đều hướng lên đảo. Khi nhận lệnh bắn thì tất cả khai hỏa lên đảo dọn đường lập đầu cầu để Biệt hải và người nhái đổ bộ lên đảo chiếm lại đảo.
Hạm trưởng San tức tối liệng tổ hợp nghe xuống sàn đài chỉ huy chiến hạm. Ông phân bua với thuộc cấp trên đài chỉ huy: "Mấy thằng kia nó để cho mình yên à".
Trước khi chuẩn bị nổ súng, Đại tá Ngạc hỏi ý kiến từng hạm trưởng. Đến khi hỏi ý kiến Hạm trưởng San, ông San gằn từng tiếng trong bộ đàm: "Báo cáo, tôi là quân nhân, tôi chấp hành quân lệnh nhưng hiện nước cờ đã bị lộ, không còn yếu tố bất ngờ. Muốn đổ bộ lên chiếm đảo trước mắt phải tiêu diệt lực lượng trên biển rồi sau đó mới tính đến việc đổ quân. Hiện nay tàu địch gấp đôi tàu ta, quân địch đã đổ bộ từ sáng tới giờ đầy trên đảo, ta chỉ có hai trung đội thì làm sao thành công được”.
Ông nói tiếp: "Tôi là quân nhân, tôi chấp nhận hy sinh vì Tổ quốc nhưng chuyện này hết sức vô lý". Rồi ông cúp máy và ra lệnh: "Tất cả các khẩu súng nhắm thẳng vào tàu địch". Ông quyết định không chấp hành lệnh bắn vào bờ.
Thời gian từ 10 giờ 10 đến 10 giờ 20, các chiến hạm vận chuyển chiến thuật theo lệnh bằng hiệu kỳ phát ra từ soái hạm HQ-5. Phía Việt Nam Cộng Hòa không ra lệnh bằng bộ đàm để giữ bí mật mà dùng tín hiệu bằng cờ của khối NATO. Lúc bấy giờ các ống nhòm trên đài chỉ huy đều tập trung cho ngành giám lộ. Tôi và thượng sĩ nhất giám lộ Ry cùng trung sĩ nhất giám lộ Khiết mỗi người một ống nhòm nhìn chăm chú vào soái hạm HQ-5.
Khi thấy tại cột cờ HQ-5 hai lá cờ Formation-one (đội hình số 1 - hàng dọc) được kéo lên chúng tôi báo cáo cho Hạm trưởng San để ông điều động tàu đúng đội hình, đồng thời chúng tôi cũng lệnh cho nhân viên giám lộ kéo lên hai lá cờ formation-one để xác nhận đã nhận được tín hiệu và đang thi hành mệnh lệnh. Đến khoảng 10 giờ 18, từ HQ-5 hai lá cờ Formation-one được kéo xuống, lập tức chúng tôi cũng kéo xuống.
Ngay khi ấy, từ bên soái hạm, hai lá cờ Formation-two được kéo lên. Chúng tôi báo cho Hạm trưởng và kéo lên hai lá cờ Formation-two để xác nhận đã nhận được tín hiệu và đang thi hành mệnh lệnh. Lập tức các chiến hạm chuyển sang đội hình số 2 (đội hình hàng ngang).
Tử chiến
Đúng 10 giờ 20, bốn chiến hạm được lệnh đồng loạt khai hỏa. Như đã chuẩn bị trước, Hạm trưởng San ra lệnh "bắn", đồng thời ông cũng ra lệnh (lúc đó máy tàu đang ở vị trí stop) hai máy tiến full (bỏ qua thông lệ tiến 1, tiến 2, tiến 3); hết tay lái sang phải. Chiến hạm chồm lên phía trước và nghiêng mình sang phải nên đã tránh được loạt đại bác đầu tiên của địch.
Chiến hạm di chuyển với tốc độ cực nhanh, khói đen bốc lên ngùn ngụt, thân tàu rung lên bần bật vì tiếng dội của các khẩu đại bác vừa khai hỏa. Hạm trưởng San ra lệnh hai máy tiến blanch hết tay lái sang trái, chiến hạm chạy uốn lượn như con rắn, hết phải rồi hết trái tránh được đạn đại bác của địch. Đạn nổ, âm thanh hỗn độn, các cột nước bốc lên chung quanh tàu, tiếng đạn rít lên sau thân tàu, trước mũi tàu, mạn trái, mạn phải ù... vèo vèo... ầm.Một viên đại bác 85 ly trúng ống khói sát sàn tàu. Khói đen mù mịt bao phủ sàn tàu và thân tàu, hệ thống quạt hút và quạt thổi hư hỏng hoàn toàn. Trên đài chỉ huy, Hạm trưởng San vừa chạy nhìn bên trái rồi chạy vào bên trong đài chỉ huy để ra lệnh cho tổ lái. Lúc đó tàu ta và tàu địch đan xen nhau. Vì tàu quay hết sang phải rồi sang trái nên có khi thấy tàu địch bên mạn trái lại có khi thấy tàu địch bên mạn phải. Hạm trưởng San chạy đi đâu thì thượng sĩ nhất giám lộ Ry chạy theo đó để ghi nhật ký tác chiến.
Chúng tôi cũng di chuyển liên tục. Một mảnh đạn văng trúng đài chỉ huy.
Mảnh đạn văng ra trúng chân trung úy Roa đang cố gắng theo dõi tàu địch
qua màn hình ra đa. Chân màn hình ra đa cũng bị trúng đạn nên ra đa bị
sụp (hư hỏng). Sĩ quan hải pháo - trung úy Long - đang liên lạc với các
khẩu đội pháo thì dây nghe bị mảnh đạn cắt đứt nên không liên lạc được.
Thượng sĩ nhất Ry trúng mảnh đạn nơi cánh tay trái, hạ sĩ giám lộ Phấn,
xạ thủ đại liên 30 trên nóc đài chỉ huy bị thương nơi ngực, máu thấm đỏ
áo. Tiếng la ơi ới của các nơi bị thương vong dồn dập báo lên đài chỉ
huy qua hệ thống bộ đàm.
Chiến hạm vẫn vững vàng trong chiến đấu. Đài quan sát trên nóc đài
chỉ huy báo cáo có 2 tàu địch đang bám theo. Tôi nhìn ra sau thì mạn
phải HQ-5 cắt đuôi HQ-4 phóng thẳng vào 2 tàu địch. Những khối cầu lửa
từ mũi HQ-5 bắn ra (đại bác 127 ly) những viên đạn đen thui bay thẳng
vào tàu địch. Lập tức HQ-4 vòng lại để cùng HQ-5 đối đầu trực diện với
địch. Tàu địch bên trái bị trúng đạn nổ tung. Chiếc phải trúng nhiều
loạt đạn đổi hướng quay ngang lủi vào bờ và trúng hàng loạt đạn từ HQ-4
bắn ra.Lúc này không thấy một tàu địch nào bám theo, cũng không thấy HQ-16 và HQ-10. HQ-5 cho biết ụ tháp đại bác 127 ly trúng đạn, có 3 quân nhân tử thương, 2 bị thương nặng. HQ-5 đang quay đầu về hướng nam. HQ-4 liên lạc mãi với HQ-10 và HQ-16 không được.
Thật ra, ngay từ loạt đạn đầu tiên HQ-10 đã bị loại khỏi vòng chiến vì HQ-10 nhỏ, cũ kỹ, chỉ còn lại một máy, các khẩu đại bác xoay trở bằng tay nên bị trúng liền 2 quả 85 ly từ tàu địch. Trong bộ đàm tôi đã nghe thấy tiếng bạn tôi là trung sĩ nhất giám lộ Vương Thương báo cáo tàu đã bị trúng đạn, Hạm trưởng Thà đứt đầu, Hạm phó Trí bị thương nơi bụng. Sĩ quan, hạ sĩ quan và thủy thủ trên đài chỉ huy đều tử thương và bị thương. Riêng anh thì bị mảnh đạn cắt ngang hông trái vùng thắt lưng, máu ra nhiều nhưng vẫn còn tỉnh táo báo về soái hạm HQ-5.
HQ-10 phải đào thoát (anh cùng 23 quân nhân xuống được bè cứu sinh) và sau 2 ngày đêm bè được một thương thuyền Hà Lan cứu đưa về Đà Nẵng nhưng anh đã chết trên bè vì máu ra nhiều, loang vào nước biển không phát hiện. Anh ra đi trước ngày tổ chức làm đám cưới. Lẽ ra anh đã được đi phép cưới vợ, giấy phép đã cầm trên tay nhưng Hạm trưởng Thà động viên anh ở lại do anh đã quá rành vùng quần đảo Hoàng Sa. Anh như sói biển 12 năm liên tục từ hộ tống hạm Kỳ Hòa (HQ-9) chung đơn vị với tôi 1968-1970, đi lãnh HQ-4 ở Honolulu (Hawail) rồi về HQ-10 với chức danh hạ sĩ quan phụ tá trưởng nghành giám lộ. Anh theo tàu ra Hoàng Sa như ăn cơm bữa. Dọc miền duyên hải Việt Nam, nơi nào cũng lưu dấu bước chân anh. Nay vì nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc anh sẵn sàng, giờ thì anh đã ra đi, bỏ lại người vợ chưa kịp cưới nơi cố đô Huế.
HQ-16 trúng đạn gãy cột an-ten, mất hẳn liên lạc và trúng nhiều đạn nơi hầm máy, đã cố gắng rời khỏi chiến trận. HQ-10 lẻ loi nằm lại một mình nơi biển đảo. Sau 30 phút chiến đấu kiên cường, HQ-4 nhờ sự chỉ huy sáng suốt của Hạm trưởng San tổn thất ba quân nhân: một sĩ quan, một hạ sĩ và một binh sĩ Biệt hải tên Vượng bị trúng đạn tử thương nơi sân giữa. Thiếu úy Xá là khẩu đội trưởng khẩu đội đại bác 20 ly nơi boong giữa. Viên đạn đại bác 85 ly bắn hụt đài chỉ huy nhằm trúng ống khói tàu, mảnh đạn văng cắt đứt cuống họng thiếu úy Xá. Hạ sĩ vận chuyển Danh lúc bấy giờ đang ở hầm đại bác 76 ly 2 phía sau, mảnh đạn xuyên vách hầm trúng ngực lủng phổi trái, bị thương. Trung úy Vân bị trúng đạn gãy chân và hơn 10 người bị thương nặng nhẹ.
HQ-5 quay đầu về hướng nam, các khẩu đội đều có vấn đề. Sau hơn 1 giờ không còn thấy HQ-5 ở đâu. Giờ đây trên biển chỉ còn HQ-4 lẻ loi một mình, lúc bấy giờ tôi cũng không xác định được vị trí tàu vì xung quanh là biển bao la, không có một đối vật nào làm điểm tựa để xác định vị trí. Sau một hồi hội ý, anh em ngành giám lộ chúng tôi phỏng đoán theo hướng chạy và vận tốc tàu từ lúc nổ súng đến giờ, rồi trình cho Hạm trưởng một vị trí phỏng định đó là vị trí tương đối gần đảo Tri Tôn phía tây nam quần đảo Hoàng Sa. Hạm trưởng San lệnh cho chúng tôi vẽ đường hướng thẳng về đảo Tri Tôn. Đúng như dự đoán, vào lúc 13 giờ 40, ra đa đã phát hiện đảo Tri Tôn. Ngay sau đó, vị trí tàu được xác định và từ vị trí đó Hạm trưởng San vẽ một đường trực chỉ về Đà Nẵng.
Ngày về buồn bã
Bấy giờ nhiệm sở tác chiến đã giải tán từ lâu nhưng tới giờ tôi mới rời được đài chỉ huy. Trên hành lang xuống nơi nghỉ ngơi, tôi chứng kiến một sự nhớp nhúa kinh hoàng sau chiến trận. Do hệ thống quạt hút và quạt thổi bị trúng đạn hư hỏng hoàn toàn nên hành lang bên dưới tàu nóng hầm hập, tanh đến ngộp thở: mùi máu, mùi cồn, bông băng nhuộm máu…
Tàu HQ-16 trong ngày trở về sau Hải chiến Hoàng Sa - Ảnh: Tư liệu
Không cơm, các chiến sĩ chỉ cầm hơi qua ngày với mì gói, lương khô và nước ngọt. Các chiến sĩ Biệt hải mệt mỏi nằm rải rác trên hành lang phòng ăn. Ở phòng y tế, các chiến sĩ người nhái nằm la liệt, một chiến sĩ bị đạn bắn thủng cằm từ trái qua phải, mặt sưng vù, ngồi bất động, máu không còn chảy ra nữa nhưng từ khóe miệng những vệt máu lẫn nước bọt vẫn rỉ ra.
Hạ sĩ Danh nằm thoi thóp trên băng ca, ngực anh đầy bông băng nhuốm máu, hơi thở khó khăn, tôi rờ lên trán anh nóng hổi, hỏi anh có khỏe không? Anh mở mắt ra rồi gật đầu, không có bác sĩ để phẫu thuật anh đành chịu lịm dần đến 4 giờ sáng ngày 20.1 thì tắt thở.
Xác thiếu úy Xá nằm trên băng ca ở trung tâm phòng tai. Cả người ông được đắp một tấm drap trắng toát. Tôi kéo tấm drap, buồn bã nhìn lần cuối cùng khuôn mặt người đồng đội mình.
Khoảng 16 giờ 30, tôi đang ở trong giấc ngủ sâu, mấy hôm rồi không chợp mắt, ngồi đâu ngủ đó thì còi tập hợp vang lên, tất cả thủy thủ đoàn tập trung đầy đủ nơi sân lái. Đại úy Diên và thượng sĩ 1 giám lộ Ry (quản nội trưởng) thông báo: “Tất cả chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, tàu sẽ quay lại Hoàng Sa, nếu cần sẽ ủi thẳng lên bờ đảo Hoàng Sa chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để giữ đảo”, rồi ông ra lệnh giải tán.
Nhìn sau lái tàu tôi thấy vệt nước đã quay sang phải 90 độ. Tôi biết tàu đang hướng thẳng về Hoàng Sa. Tất cả không ai nói với ai một lời nào và đâu đó trong thủy thủ đoàn một câu nói được thốt ra: “Dù sao đánh nhau với Trung Cộng nếu có chết cũng vinh quang hơn là đánh nhau với Việt Cộng.”
Trên đường lên đài chỉ huy, trên boong tàu, xạ thủ các khẩu đội pháo đều ráo riết thông nòng súng chuẩn bị đạn sẵn sàng cho một trận tử chiến.
Lên đến đài chỉ huy, vì quá mệt mỏi nên chẳng nghe đến lời báo cáo của Hạm trưởng về Bộ tư lệnh Hải quân Vùng I Duyên hải, tôi vào phòng hải đồ phía sau đài chỉ huy mệt lả và thiếp đi. Đến khi thức dậy thì trời đã tối hẳn, trung sĩ nhất giám lộ Khiết cho tôi biết mình đang quay đầu về Đà Nẵng. Anh nói Hạm trưởng San đã báo cáo thẳng với Tư lệnh Hải quân về việc HQ-4 không còn khả năng chiến đấu, lương thực cạn, cơ số đạn không đủ để tác chiến, các khẩu đại bác đều trở ngại tác xạ.
Lúc bấy giờ, còi báo động lại vang lên, tin tức từ trung tâm hành quân (hệ thống ra đa, hệ thống tác chiến báo sau khi được sửa chữa đã trở lại hoạt động bình thường) cho biết địch đang triển khai đội hình với sự yểm trợ của phi cơ và các tàu cao tốc được trang bị hỏa tiễn Styx (tức P-15 Termit - TNO). Trung tâm tác chiến báo được lệnh làm việc tích cực hơn, ra đa hoạt động với tần suất cao, tất cả các khẩu súng đều chĩa hẳn lên bầu trời. Chúng tôi được gấp rút trang bị mỗi người một khẩu M16, các chiến sĩ Biệt hải và người nhái đều lên boong tàu sẵn sàng chiến đấu. Thời gian lặng lẽ trôi qua.
Hạm trưởng Ngụy Văn Thà cùng con tàu HQ-10 đã nằm lại giữa biển khơi - Ảnh: Tư liệu
Trong cuộc chiến Sáu ngày ở Trung Đông 1967, trong một trận hải chiến giữa hải quân Do Thái và hải quân Ai Cập tại vùng biển Địa Trung Hải, hai tàu Komar đã đánh chìm khu trục hạm INS Eilat tối tân của Do Thái. Ngoài ra, hải quân Trung Quốc còn có một số xuồng cao tốc tên lửa tối tân hơn là Osa (trang bị 4 gàn tên lửa hải đối hải Styx, có căn cứ tại Hải Nam và đảo Phú Lâm (thuộc cụm An Vĩnh của quần đảo Hoàng Sa).
Lúc 5 giờ 30 sáng 20.1, HQ-4 về đến cảng Tiên Sa. Hạm trưởng San lệnh cho tôi chuẩn bị đem máy thu âm kết nối vào các loa phóng thanh trên tàu. Khi cập cảng xong, loa phát ra bài “Chiến thắng Vân Đồn”. Bài hùng ca ca ngợi danh tướng Trần Khánh Dư trong trận hải chiến với quân Nguyên Mông, đập tan đoàn tàu tiếp tế lương thảo của đạo thủy quân do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy trong trận Vân Đồn. Anh em chúng tôi sau mấy ngày chiến đấu chịu lạnh giá bởi thời tiết mùa đông (hôm đó đã là ngày 28 tháng Chạp âm lịch), đói khát, mệt mỏi nhưng khi nghe bản hùng ca vang lên từ hệ thống loa phóng thanh thì cũng cảm thấy tâm hồn lâng lâng một niềm vui khó tả, một niềm tự hào dân tộc: “Đây Vân Đồn ngày xưa với tiếng reo oai hùng của đoàn quân bách chiến Việt Nam. Bao quân thù gục chết máu nhuộm hồng dòng nước, tiếng reo hò mừng chiến thắng về ta. Đây Vân Đồn ngập sóng, gương anh hùng liệt oanh, nhắc chúng ta chiến công ngày trước, nhớ gương Trần Khánh Dư, quyết noi theo anh hùng năm xưa”. Đây là bản hùng ca được Hạm trưởng San chọn làm nhạc hiệu cho HQ-4, được phát thanh hằng ngày sau khi chào cờ xong.
Trên cầu tàu, các xe cứu thương đã chờ sẵn. Cầu thang được bắc xuống, các bác sĩ quân y và y tá nhanh nhẹn chạy lên tàu để chuyển xác tử sĩ và thương bệnh binh đi viện. Tiếp theo, nhiều đoàn xe quân sự của Tư lệnh vùng I chiến thuật - Trung tướng Ngô Quang Trưởng - xuống tàu thăm viếng. Đến hơn 9 giờ, HQ-5 tiến vào vịnh Đà Nẵng. Trên vịnh Đà Nẵng, một số chiến hạm được lệnh ra Hoàng Sa nhưng đang trên đường đi thì trận đánh đã nổ ra nên được lệnh vào vịnh Đà Nẵng nằm chờ lệnh.
Lúc 12 giờ 30, HQ-16 đang bị thương nặng từ từ tiến vào vịnh với sự trợ giúp của hai tàu lai dắt biển. Chiến hạm nghiêng hẳn về bên phải, hông tàu nơi hầm máy bị thủng một lỗ thật lớn, cột cờ an-ten gãy sụp xuống boong tàu.
Tiểu đội thủy thủ tàu HQ-16 đổ bộ ngay trong đêm 19.1 đã lặng lẽ lên phao bè rời đảo Hữu Nhật (Robert). Lênh đênh trên biển tới 15 ngày, họ mới được ngư dân vùng Bình Định cứu đưa vào bờ. Tất cả đều bị phỏng nắng và ngất lịm vì thiếu nước, lương thực, trong đó có một hạ sĩ quan chết vì kiệt sức.
Tiểu đội thủy thủ tàu HQ-4 nằm lại đảo Quang Ảnh, sang hôm sau bị đông đảo lực lượng Trung Quốc đổ bộ lên đảo, với sự yểm trợ của tàu chiến và phi cơ MiG-21, bắt sống.
Quân đồn trú trên đảo Hoàng Sa và nhân viên đài khí tượng bị bắt làm tù binh, mấy tháng sau được Trung Quốc trao trả qua địa giới Trung Quốc - Hồng Kông.
Hộ tống hạm HQ-10 bị đánh chìm với thủy thủ đoàn còn lại hơn 40 người đã anh dũng hy sinh.
Trận hải chiến chấm dứt để lại bản hùng ca bi thương; 74 quân nhân tử trận, một số bị thương và bị bắt.
Giờ đây ghi lại những dòng hồi ký này để tưởng nhớ các chiến sĩ vị quốc vong thân, cầu mong linh hồn các anh được phiêu du nơi lạc cảnh và có một điều tôi muốn nói với các anh là: “Lịch sử bao giờ cũng công bằng cho tất cả mọi người; rồi một ngày nào đó các anh cũng được phục hồi danh dự”.
Cả ngày 20, 21 và 22.1.1974, tàu được sửa chữa khẩn cấp, đạn dược, nhiên liệu, lương thực được bổ sung đầy đủ chuẩn bị cho một trận tái chiếm Hoàng Sa.
Tối 22.1 (đêm 30 Tết âm lịch), anh em thủy thủ đoàn cả ba tàu còn lại được dự buổi liên hoan văn nghệ cuối năm theo truyền thống trên cầu tàu. Giữa mâm cao cỗ đầy nhưng ai nấy đều buồn bã không thiết gì đến ăn uống. Mọi người vẫn hết sức lo lắng cho số phận đồng đội còn lại trên đảo hay đang trôi dạt trên sóng biển trong những ngày Tết. Ai cũng hồi tưởng lại trận hải chiến bảo vệ lãnh thổ vừa qua và đau xót trước một thực tế, dù đã cố gắng hết sức cũng không thể giữ được mảnh đất thiêng liêng mà tổ tiên để lại. Nỗi đau ấy vẫn làm quặn thắt trái tim chúng tôi dù đã 35 năm trôi qua.
Lữ Công Bảy
(Hoàn tất 15.1.2009 - bổ sung tháng 11.2011)